Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ MƯỜI BA
CHƯƠNG
THỨ BA
PHẦN
GIẢI THÍCH
C.
PHÂN BIỆT HÀNH TƯỚNG PHÁT TÂM ĐẾN ĐẠO
BA
MÓN PHÁT TÂM
MỤC
LỤC
C.
Phân biệt hành tướng phát tâm đến đạo (bài thứ nhứt)
BA
MÓN PHÁT TÂM
I.
Tín hoàn toàn mà phát tâm
II.
Hiểu biết và làm mà phát tâm
III.
Chứng nhập chơn như mà phát tâm.
1.
Nói về Tín hoàn toàn mà phát tâm
a.
Ba món tâm trong vị Thập tín:
1.
Trực tâm, 2. Thâm tâm, 3.Đại bi tâm
b.
Bốn món phương tiện:
1.
Phương tiện căn bản
2.
Phương tiện ngăn ngừa các tội ác.
3.
Phương tiện làm phát sanh các việc lành
4.
Phương tiện Đại nguyện và Bình đẳng.
c.
Tám tướng thành đạo:
1.
Giáng sanh 2. Nhập thai
3.
Ở trong thai 4. Sanh ra
5.
Xuất gia 6. Thành đạo
7.
Thuyết pháp 8. Nhập Niết bàn
CHÁNH
VĂN
Chữ
"Đạo"nói ở đây là chỉ cho đạo quả của chư Phật đã
chứng ngộ và cũng là cái chỗ của tất cả các vị Bồ
Tát phát tâm tu hành để hướng về.
Sự
phát tâm, lược có 3 món: 1. Tín hoàn toàn (Tín thành tựu)
mà phát tâm, 2. Hiểu và tu (giải, hạnh) mà phát tâm, 3. Chứng
nhập chơn như mà phát tâm.
LƯỢC
GIẢI
Luận
này có năm chương, trong chương thứ ba, có ba phần: phần
đầu giải thích về pháp Đại thừa; phần thứ hai, Ngài
Mã Minh đả thông những chấp sai lầm. Sau khi được rữa
sạch các chấp sai lầm rồi, hành giả mới phát tâm tu về
pháp Đại thừa. Vì thế nên tiếp đến phần thứ ba, Ngài
Mã Minh phân biệt hành tướng phát tâm tu về đạo quả Đại
thừa.
Đạo
quả Đại thừa là nơi chư Phật đã chứng, mà cũng là chỗ
các vị Bồ Tát đang hướng về đó.
Sự
phát tâm tu về đạo quả Đại thừa, lược chia có ba hạng,
từ cạn đến sâu:
1.
Mãn địa vị Thập tín (Tín hoàn toàn) phát tâm;
2.
Địa vị Tam hiền (Giải: Hiểu, Hành: tu) phát tâm;
3.
Địa vị Thập thánh đã chứng nhập chơn như phát tâm.
Chữ
"Phát tâm" có hai nghĩa: 1. Lập chí cao rộng, 2. Phát triển
tâm tánh, hay phát minh tâm tánh.
CHÁNH
VĂN
I.
Tín hoàn toàn (thành tựu) mà phát tâm
Hỏi:_
Phải là người thế nào và nhờ tu hạnh gì để thành tựu
vị Thập tín, mới phát tâm được?
Đáp:_
Những chúng sanh bất định (không nhất định chánh hay tà),
nhờ sức căn lành huân tập đời trước, làm cho họ tin nhơn
quả, nên nhàm khổ sanh tử, phát tâm tu thập thiện, để
cầu đạo vô thượng Bồ Tát.nhờ được đích thân hầu
hạ, cúng dường chư Phật và tu hành trải qua muôn kiếp,
nên họ mới đặng thành tựu tím tâm. Do nhơn duyên đó nên
được gặp Phật, Bồ Tát dạy mà họ phát tâm; hoặc vì
lòng Đại bi, mà họ tự phát tâm; hoặc vì thấy chánh pháp
sắp diệt mà muốn duy trì nên họ tự phát tâm.
Những
người như thế, được vào hàng chánh định, trọn không
thối chuyển. Vì họ đã hiệp với "Chánh nhơn Phật tánh",
nên họ được gọi là "giòng giống của Như Lai".
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về Tín thành tựu phát tâm._Từ Sơ tín cho đến Thập
tín thì tín tâm mới hoàn toàn viên mãn nên gọi là "Tín thành
tựu". Do tín tâm vững chắc, lập cxhí nguyện cầu quả Phật
vô thượng và phát minh tâm tánh, nên gọi là "Tín thành tựu
phát tâm".
Hỏi:_
Hạng người nào, tu hạnh gì, mới đặng hoàn toàn viên mãn
vị Thập tín, và làm sao phát tâm?
Đáp:_
Những người bất định chánh tà, hay căn trí chuưa nghiêng
ngã bên nào (Đại thừa hay Tiểu thừa) nếu gặp Tiểu thừa
giáo hoá thì họ thành thinh văn, Duyên giác, nếu gặp Đại
thừa giáo hoá thì họ thành Bồ Tát hay Phật. Nghững người
ấy, do nhiều đời có trồng căn lành và bên trong nhờ tánh
Phật của họ thúc dục, bên ngoài nhờ chánh pháp huân vào,
làm cho họ tin đạo lý nhơn quả, rồi nhàm cảnh trần gian
là bể khổ sanh tử, nên phát tâm tu hành cầu đạo giải
thoát Niết bàn.
Phát
tâm tu hành, phụng sự chánh pháp, hầu hạ Thiện hữu tri
thức và cúng dường chư Phật, làm những việc như thế,
trải qua một vạn kiếp, hành giả mới viên mãn địa vị
Thập tín.
Khi
tín tâm đã viên mãn thành tựu rồi, hoặc găp Phật hay Bồ
Tát dạy họ phát tâm hoặc do lòng Đại bi thúc dục làm cho
họ phát tâm, hoặc thấy chánh pháp suy đồi, muốn duy trì
chánh pháp nên họ phát tâm.
Những
người được viên mãn vị Thập tín và phát tâm như thế,
là đã hiệp với "Chánh nhơn Phật tánh" vào hành "Chánh định",
không còn bất định hay thối chuyển nữa, nên họ cũng được
gọi là "giòng giống của Như Lai".
CHÁNH
VĂN
Có
những chúng sanh, từ hồi nào đến giờ, căn lành mỏng ít,
phiền não sâu dày, tuy cũng gặp Phật cúng dường, song chỉ
cầu phước báo cõi nhơn thiên, hoặc tu theo Nhị thừa, hoặc
họ có cầu pháp Đại thừa, nhưng căn tánh chẳng quyết định,
tấn thối không chừng; hoặc họ cúng dường chư Phật, mà
chưa đầy một vạn kiếp. Những hạng người này cũng gặp
nhơn duyên lành để phát tâm (như thấy sắc tướng của chư
Phật mà phát tâm, hoặc nhơn cúng dường chư tăng mà phát
tâm, hoặc nhơn gặp hàng Nhị thừa dạy bảo mà họ phát
tâm, hoặc học với thầy bạn mà họ phát tâm). Nhưng các
loại phát tâm này, đều chẳng nhứt định, nếu gặp hoàn
cảnh xấu ngược, thì họ thối tâm, hoặc đoạ vào Nhị
thừa.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
trên nói những người tín tâm đã thành tựu, và phát tâm
như vậy, thì được vào hàng chánh định, quyết không thối
chuyển, vì họ tu đã được một vạn kiếp.
Đoạn
này nói, những người phát tâm sau đây, vì tu chưa đầy một
vạn kiếp, tín tâm chưa thành tựu, hoặc còn thối chuyển,
nên chưa được vào hàng Chánh định. Họ cũng gặp duyên
lành để phát tâm, hoặc thấy tướng hảo của Phật mà phát
tâm, hoặc nhơn cúng dường chư Tăng mà phát tâm, hoặc gặp
Nhị thừa giáo hoá phát tâm v.v...Nhưng vì căn lành mỏng ít,
phiền não sâu dày, tuy gặp phật phát tu hành, song chỉ cầu
phước báo thiên nhơn, hoặc tu theo Nhị thừa, và nếu gặp
Đại thừa thì tâm họ cũng không quyết định, nên khi bị
nghịch cảnh, họ thối tâm hoặc tu theo Tiểu thừa tiêu cực.
a.
BA MÓN TÂM TRONG VỊ THẬP TÍN
CHÁNH
VĂN
Tóm
lại, khi tín tâm đã thành tựu thì phát ba món tâm như sau:
1.
Trực tâm, nghĩa là tâm trực niệm chơn như
2.
Thâm tâm, nghĩa là tâm ưa làm các việc lành
3.
Đại bi tâm, nghĩa là tâm muốn cứu khổ các chúng sanh.
LƯỢC
GIẢI
Hành
giả tu hành phải trải qua một vạn kiếp mới được thành
tựu tín tâm. Lúc bấy giờ hành giả phát ra vô số tâm, nhưng
tóm lại có ba thứ:
1.
Trực tâm, quán thẳng Chơn như pháp tánh
2.
Thâm tâm, nguyện làm các việc lành
3.
Đại bi tâm, thệ độ tất cả chúng sanh.
Quán
chơn như là căn bản của hai hạnh: Tự lợi và lợi tha. Vì
quán trong bản thể chơn như có đủ vô lượng công đức,
nên cho hành giả ưa tu các pháp lành, để hiệp với tánh
chơn như của mình. Hành giả tu hành, khi nào thâm nhập đến
chỗ không còn thấy tướng tu nữa, gọi đó là "Thâm tâm".
Vì
quán mình và tất cả chúng sanh đồng bản thể chơn như,
nên chúng sanh đau khổ tức là mình đau khổ, chúng sanh còn
trần luân thì mình chưa được giải thoát an vui nơi cảnh
Niết bàn. Vì thế mà hành giả phát tâm Đại bi cứu khổ
tất cả chúng sanh.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Chơn như đã là một thể, tại sao không bảo hành giả trực
niệm chơn như, mà lại còn tạm dùng các phương tiện, tu
các pháp lành?
Đáp:_
Thí như ngọc ma ni thể chất tuy sáng suốt trong sạch, nhưng
còn bị lẫn lộn trong khoáng nhơ bẩn. Nếu người chỉ nghĩ
đến tánh chất trong suốt của ngọc, mà không dùng các phương
tiện giũa mài v.v...thì quyết định không thể đặng chất
ngọc ma ni thuần tịnh.
Cũng
thế, chúng sanh tuy saün có chất chơn như thanh tịnh, song còn
bị vô lượng phiền não làm nhiễm ô. Nếu hành giả chỉ
niệm chơn như, mà không dùng phương tiện tu các pháp lành,
thì cũng không thể đặng chất chơn như thuần tịnh.
Vì
các phiền não nhiễm ô vô lượng, nên hành giả phải tu vô
lượng hạnh lành để đối trị. Nếu hành giả tu các pháp
lành, thì tự nhiên thuận về với tánh chơn như của mình.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này giải đáp sự thắc mắc của độc giả.
Hỏi:_
Chúng sanh đã saün có chất chơn như thanh tịnh, tại sao người
tu hành không niệm thẳng chơn như, mà lại còn dùng vô số
phương tiện để dẹp trừ phiền não nhiễm ô và tu các pháp
lành làm gì?
Đáp:_
Chúng sanh tuy saün các chất chơn như thanh tịnh, song còn bị
vô lượng phiền não làm nhiễm ô; cũng như ngọc ma ni, tuy
chất nó sáng suốt trong sạch, nhưng còn bị lẫn lộn trong
khoán nhơ bẩn. Nếu hành giả trực chỉ quán chơn như, mà
không dùng các phương tiện để trừ phiền não và tu các
pháp lành, thì chất chơn như thuần tịnh không bao giờ thật
hiện được. Cũng như người chỉ nghĩ đến chất ngọc trong
suốt, mà không dùng đến các phương tiện như lọc khoáng,
giũa mài v.v...thì quyết định cũng không bao giờ thành ngọc
mỹ quan được (ngọc bất trác, bất thành khí).
Chúng
sanh có vô lượng bịnh phiền não, nên Phật cũng có vô lượng
thuốc phương tiện để trị. Nếu muốn hết các bịnh phiền
não, trở thành người lành mạnh (Bồ Đề, Niết bàn), tất
nhiên hành giả phải uống thuốc phương tiện của Phật.
Người diệt trừ phiền não tu các pháp lành là đi ngược
dòng trần lao, thuận theo tánh chơn như. Bởi thế nên hành
giả phải phát minh ba tâm (Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi
tâm) và thật hành bốn phương tiện sau này.
b.
BỐN MÓN PHƯƠNG TIỆN
CHÁNH
VĂN
Các
phương tiện lược có bốn món:
1.
Phương tiện căn bản: Quán tất cả các pháp, tánh vốn vô
sanh (không) đ63 lìa các vọng chấp, và nhờ thế mà không
mắc vòng sanh tử;
quám
các pháp do nhơn duyên hoà hiệp, nên nghiệp quả chẳng mất
(có) để khởi tâm đại bi, tu các hạnh lành, cảm hoá chúng
sanh, và nhờ thế nên không trụ Niết bàn.
Tóm
lại, vì tuỳ thuận theo tánh vô trụ của chơn như, nên không
dính mắc sanh tử và không an trụ Niết bàn.
LƯỢC
GIẢI
Trong
bốn phương tiện tu hành để nhập chơn như, thì món phương
tiện này là căn bản.
Chúng
sanh, vọng chấp các pháp thật có, nên tạo ra các nghiệp;
rồi bị nghiệp lực kéo dẫn, phải chịu sanh tử luân hồi.
Nay hành giả quán "các pháp hư giả, không thật", nên không
vọng chấp và không tạo nghiệp; vì nghiệp không tạo, nên
không bị sanh tử luân hồi.
Song,
nếu hành giả chỉ một bề quán "Không" như thế, sợ e mắc
vào bịnh "chấp không", rồi chẳng cần tu hành và hoá độ
chúng sanh; như hành Thinh văn chấp không, ưa vắng lặng (trầm
không thú tịch) thích thú cảnh vui Niết bàn của Tiểu thừa.
Bởi
thế, hành giả phải quán "do nhơn duyên hoà hiệp, nên các
pháp chẳng phải không và nghiệp quả chẳng mất", để khởi
tâm Đại bi, tu các hạnh lành giáo hoá chúng sanh. Nhờ quán
như thế, nên hành giả không còn "chấp không" và say mê cảnh
Niết bàn của Tiểu thừa nữa.
Vì
không vướng mắc sanh tử, nên về phần tư lợi hành giả
được thành tựu. Và vì không vướng mắc Niết bàn của
Tiểu thừa, nên hành giả độ thoát tất cả chúng sanh, hoàn
thành hạnh lợi tha.
Không
mắc sanh tử, không trụ Niết bàn là thuận theo đức tánh
vô trụ của chơn tâm; như thế gọi là "Trực tâm". Trực
tâm là phương tiện căn bản của các hạnh, tự giác và giác
tha. Khế kinh chép: "Tâm thắng (không mắc hai bên) là Đạo
tàng" (trực tâm thị Đạo tàng).
CHÁNH
VĂN
2.
phương tiện ngăn ngừa các việc ác: Biết xấu hổ, ăn năn,
chừa lỗi, ngăn ngừa tất cả điều ác không cho phát sanh
và tăng trưởng. Hành giả phải làm như thế để tuỳ thuận
theo đức tánh thanh tịnh của chơn như.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về phương tiện thứ hai là "không làm việc ác".
Người biết xấu xa hổ thẹn thì không làm các điều tội
lỗi; biết ăn năn hối hận những tôi đã làm, thì tội lỗi
ấy không tăng trưởng nữa. Bởi thế nên "hổ thẹn" là yếu
tố ngăn chận việc ác phát sanh; còn "ăn năn hối hận" là
yếu tố làm cho tội lỗi đã sanh, không tăng trưởng nữa.
Đoạn
văn trước nói 3 tâm: 1. Trực tâm, 2. Thâm tâm, 3. Đại bi
tâm. Đoạn này nói phương tiện thứ hai, thuộc về Thâm tâm,
tức là ưa làm các việc lành. Lành có hai thứ: 1. Bỏ dữ
(chỉ thiện) gọi là lành; 2. Làm lành (tác thiện) cũng gọi
là lành.
Món
phương tiện thứ hai này thuộc về loại "lành bỏ dữ"; món
phương tiện thứ ba sau này, thuộc về loại "lành làm lành".
Hai loại lành này đều thuộc về Thâm tâm cả.
Tóm
lại, vì tuỳ thuận theo đức tánh thanh tịnh của Tâm chơn
như, nên hành giả phải xa lìa các tội lỗi.
CHÁNH
VĂN
3.
Phương tiện làm cho phát sanh hoặc nuôi lớn căn lành: Siêng
năng lễ bái và cúng dường Tam bảo, tuỳ hỉ việc lành,
tán thán công đức và thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân.
Do tâm kính mên Tam bảo rất thuần hậu, làm cho đức tin được
thêm lớn nên hành giả mới dốc chí cầu đạo vô thượng.
Lại nhờ sức gia hộ của Tam bảo, nên các nghiệp chướng
được tiêu trừ và căn lành không thối chuyển. Vì tuỳ thuận
theo đức tánh "vô chướng ngại" của chơn như, nên hành giả
phải xa lìa các si mê chướng ngại.
LƯỢC
GIẢI
Phương
tiện thứ ba này là "làm các việc lành", tức là loại "lành
tác thiện" (làm lành). Loại lành này cũng nương nơi thâm
tâm mà khởi. Hành giả làm cho phát sanh những việc làm chưa
sanh, và nuôi lớn những việc làm đang có. Siêng năng tu hành
và cúng dường Tam bảo v.v...là trồng căn lành; còn kính mến
Tam bảo v.v...là nuôi lớn đức tin. Hành giả lại nhờ thần
lực của Tam bảo gia hộ, nên tiêu trừ được các nghiệp
chướng và làm cho đức tin được vững chắc.
Lễ
bái thì xa lìa được cái bịnh ngã mạn, tan thán thì xa lìa
được cái bịnh huỷ báng, tuỳ hỷ thì xa lìa được cái
bịnh tậ đố v.v...
Tóm
lại, vì tuỳ thuận theo đức tánh sáng suốt vô ngại của
Tâm chơn như, nên hành giả phải xa lìa các si mê chướng
ngại.
CHÁNH
VĂN
4.
Phương tiện đại nguyện và bình đẳng: Hành giả vì tuỳ
thuận tánh không đoạn tuyệt của chơn như và bình đẳng
không hai, chẳng phân bỉ thử, rốt ráo vắng lặng, rộng
lớn phổ biến của chơn như. Nên hành giả phát đại nguyện,
cùng tận đời vị lai, hoá độ tất cả chúng sanh, đều
được rốt ráo chứng vô dư Niết bàn, không còn sót một
chúng sanh nào.
LƯỢC
GIẢI
Phương
tiện thứ tư là "cứu khổ các chúng sanh". Món phương tiện
này do tâm đại bi phát sanh.
Hành
giả tuỳ thuận theo các đức tánh: bất tuyệt, rộng lớn,
bình đẳng, cứu cánh tịch diệt của Tâm chơn như, nên lập
lời thệ nguyện rộng lớn, hoá độ hết thảy chúng sanh,
đều được cứu cánh Niết bàn, không hạn định thời gian
và không bao giờ dừng nghỉ.
Tóm
lại, Bồ Tát tuỳ thuận theo các đức tánh tốt của tâm
chơn như mà tu các hạnh lành, dẹp trừ các cấu nhiễm, để
trở về Tâm chơn như.
c.
TÁM TƯỚNG THÀNH ĐẠO
CHÁNH
VĂN
Bồ
Tát nhờ phát tâm này, nên được thấy Pháp thân một phần
nào. Do thấy được Pháp thân nên Bồ Tát tuỳ theo nguyện
lực của mình, mà hiện ra tám tướng sau đây, để làm lợi
ích cho chúng sanh:
1.
Từ cung trời Đâu suất giáng sanh
2.
Nhập thai 3. Ở trong thai
4.
Sanh ra 5. Xuất gia
6.
Thành Đạo 7. Tghuyết pháp
8.
Nhập Niết bàn
Song
các vị Bồ Tát này, chưa chứng pháp thân, vì còn các nghiệp
hữu lậu từ quá khứ vô lượng kiếp đến nay, chưa có thể
đoạn trừ được. Vị Bồ Tát do sức đại nguyện tự tại
mà thọ sanh; tuy không phải bị nghiệp lực kéo dẫn, song
vẫn còn khổ vi tế. Trong Khế kinh, Phật nói: "Có vị Bồ
Tát thối tâm bị đoạ vào ác thú". Nói như vậy, là để
cho những vị sơ tâm (chưa phải chính thức Bồ Tát) còn giải
đãi trên đường tu hành, lo sợ, mà phát tâm dõng mãnh tiến
tu, chứ không phải thật thối doạ.
Lại
nữa, các vị Bồ Tát này, từ khi phát tâm về sau, mặc dù
nghe nói phải trải qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp
(vô số kiếp), siêng năng tu hành khổ hạnh, mới chứng được
Niết bàn; nhưng cũng không nhu nhược và lo sợ đoạ vào Nhị
thừa, vì họ đã hiểu chắc vả tin rằng: Tất cả các pháp
từ hồi nào đến giờ, tánh nó vốn là Niết bàn.
LƯỢC
GIẢI
Bồ
Tát khi đã viên mãn Thập tín, phát ba món tâm trên rồi (Trực
tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm) thì vào Thập trụ, thấy được
Pháp thân thanh tịnh, nên có thể thị hiện tám tướng cao
cả, để làm lợi ích cho các chúng sanh, mà tâm không nhu nhược
và sợ thối đoạ; bởi vì các vị Bồ Tát này đã biết
các pháp từ xưa đến nay vốn là Niết bàn.
Các
vị Bồ Tát Thập trụ này, vì các nghiệp hữu lậu chưa hết,
nên sanh ở đâu, cũng còn khổ vi tế về "phần đoạn sanh
tử". Nhưng sự thọ sanh cùa các Ngài là do đại nguyện để
hoá độ chúng sanh, chứ không phải bị nghiệp lực kéo dẫn
mà thọ sanh.
Lại
nữa, các vị Bồ Tát này không bao giờ đoạ vào ác thú,
thối thất Bồ Đề. Nhưng trong kinh Bổn nghiệp Phật nói:
"các vị Bồ Tát từ Thất trụ về trước còn thối đoạ,
nếu từ một kiếp đến mười kiếp không gặp Thiện hữu
tri thức". Phật nói như vậy là để khủng bố các vị Sơ
tâm Bồ Tát còn giãi đãi trong sự tu hành.