Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ MƯỜI HAI
CHƯƠNG
THỨ BA
PHẦN
GIẢI THÍCH
B.
ĐỐI TRỊ CÁC CHẤP SAI LẦM
MỤC
LỤC
B.
Đối trị các chấp sai lầm
Chấp
sai lầm có 2 thứ:
I.
Chấp ngã, có 5 thứ:
1.
Chấp Hư không là Chơn tánh của Như Lai
2.
Chấp Chơn như hay Niết bàn, chỉ là không không, chẳng có
chi hết.
3.
Chấp Như Lai tạng có các hình tướng sai khác như Sắc và
Tâm
4.
Chấp trong Như Lai tạng có đủ các sanh tử nhiễm ô
5.
Chấp chúng sanh có thỉ, chư Phật có chung tận.
II.
Chấp pháp:
Chấp
thật có vũ trụ, vạn hữu
CHÁNH
VĂN
Tất
cả các chấp sai lầm (tà chấp), đều do chấp ngã và chấp
pháp mà sanh; nếu rời chấp ngã và chấp pháp thì không còn
các chấp sai lầm.
I.
CHẤP NGÃ (chấp bản ngã thật có).
Chúng
phàm phu chấp ngã có 5 thứ:
1.
Chấp "Hư không là chơn tánh của Như Lai". _ Vì phá chấp của
chúng sanh nên trong kinh Phật nói:" Pháp thân của Như Lai rốt
ráo vắng lặng cũng như hư không". Chúng phàm phu nghe nói như
thế, không hiểu, lại lầm chấp:"Hư không là chơn tánh của
Như Lai".
Vì
đối trị cái chấp sai lầm này, nên phải giải thích rằng:"Hư
không là pháp hư đối, không có thật thể, do đối với sắc
tướng mà thấy có hư không; nếu không có sắc tướng thì
cũng không có tướng hư không. Nghĩa là từ hồi nào đến
giờ, tất cả cảnh giới (sắc pháp) đều do vọng tâm biến
hiện, không có pháp nào ngoài tâm; chúng sanh không biết vọng
chấp (biến kế chấp) là thật có. Nếu vọng tâm hết, thì
các cảnh giới cũng không còn. Lúc bấy giờ chỉ còn chơn
tâm hiện khắp tất cả. Đó là pháp thân quảng đại thuộc
về tâm trí (tánh trí) của Như Lai không phải như hư không,
không có tri giác.
LƯỢC
GIẢI
Đối
trị chấp tà là phá trừ các sự chấp nhứt sai lầm. Các
sự chấp nhứt sai lầm đều do chấp ngã, chấp pháp mà sanh.
Nếu phá trừ được chấp ngã, chấp pháp thì các chấp sai
lầm không còn.
Vì
quan niệm thân tâm là thật, nên gọi là chấp ngã quan niệm
vũ trụ vạn vật là thật, thì gọi là chấp pháp.
Chúng
sanh chấp pháp thân của Phật có hình tướng như thế này,
hoặc như thế kia v.v....Vì muốn phá các chấp sai lầm ấy,
nên Phật nói: "Pháp thân của Phật rốt ráo vắng lặng, cũng
như hư không".
Nghe
trong kinh nói như vậy, chúng sanh trở lại chấp:"Hư không
là pháp thân của Như Lai" vì phá cái chấp sai lầm này, nên
Ngài Mã Minh giải thích rằng:"Hư không là cái không thật
thể, do các sắc tướng mà thấy có hư không. Nếu không có
sắc tướng thì cũng không có hư không. Cả sắc tướng và
hư không đều do vọng tâm biến hiện; rồi chúng sanh lầm
chấp là thật có. Nếu vọng tâm hết thì sắc tướng và
hư không cũng không còn. Lúc bấy giờ bản thể chơn tâm hiện
ra, rộng lớn bao la và trùm khắp tất cả. Đó là pháp thân
thanh tịnh của Như Lai. Đây thuộc về phần tâm trí, không
phải như hư không, không có tri giác.
CHÁNH
VĂN
2.
Chấp "Chơn như hay Niết bàn, chỉ là không không, chẳng có
chi hết". _ Vì phá vọng chấp của chúng sanh, nên trong kinh
Phật nói:"các pháp thế gian rốt ráo không có thật thể;
cho đến các pháp xuất thế gian, như Chơn như hay Niết bàn
rốt ráo, cũng không có thật thể; từ hồi nào đến giờ,
nó không có các tướng". Chúng phàm phu nghe nói như vậy không
hiểu, trở lại chấp:"Chơn như hay Niết bàn là không có chi
hết".
Vì
đối trị sự chấp sai lầm này, nên phải giải thích rằng:"Chơn
như hay Pháp thân của Phật, chẳng phải không có tự thể;
nó saün có và đầy đủ vô lượng công đức".
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
trên phá quan niệm sai lầm, chấp "hư không là chơn tánh của
Như Lai"; đoạn này phá quan niệm sai lầm, cho rằng "Chơn như
hay Niết bàn là cảnh giới hư không ảo tưởng không có chi
hết".
Chúng
sanh thường lầm tưởng:"Các pháp thật có". Vì phá trừ quan
niệm sai lầm ấy, nên trong kinh Phật nói:"các pháp thế gian
hư giả không thật, cho đến các pháp xuất thế gian như Chơn
như, Bồ Đề, Niết bàn v.v...rốt ráo cũng không có thật
thể, vì không có các hình tướng". Chúng phàm phu nghe nói
như vậy không hiểu, trở lại chấp:"Chơn như hay Niết bàn
v.v...là cảnh giới hư vô ảo tưởng, chẳng có chi hết".
Để
đối trị sự chấp sai lầm này, nên Ngài Mã Minh Bồ Tát
giải thích rằng:"Chơn như, Pháp thân hay Bồ Đề, Niết bàn
không phải là cảnh giới ảo tưởng hư vô, không có gì cả,
mà nó saün có đầy đủ vô lượng đức tánh, nhiều hơn
số cát sông Hằng, như: thiện, thường, lạc, ngã, tịnh,
giải thoát v.v....
CHÁNH
VĂN
3.
Chấp "Như Lai tạng" có các hình tướng sai khác như Sắc và
Tâm v.v... _ Nghe trong kinh Phật nói:"Như Lai tạng không tăng
không giảm, saün đủ tất cả các công đức"; chúng phàm
phu vì không hiểu nghiã này, nên trở lại chấp:" Như Lai tạng
có đủ các hình tướng sai khác, như sắc và tâm v.v....".
Để
đối trị sự chấp sai lầm này, nên phải giải thích rằng:
"Căn cứ về thể Chơn như thì không có các tướng sai khác;
còn theo tướng nhiễm ô sanh diệt, thì có các hình tướng
sai khác".
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này phá quan niệm sai lầm cho rằng: "Chơn" đồng với "Vọng".
Nghe
trong kinh Phật nói: "Như Lai tạng không tăng không giảm, saün
có đủ tất cả đức tánh, chùng phàm phu không hiểu trở
lại chấp: "Như Lai tạng cũng có các hình sắc sai khác".
Để
đối trị quan niệm sai lầm này, Ngài Mã Minh giải thích rằng:
"Thể Chơn như" (Chơn như môn) thì thanh tịnh không có các
hình tướng sai khác, còn về ":tướng sanh diệt" (Sanh diệt
môn) thì đủ các hình tướng sai khác".
CHÁNH
VĂN
4.
Chấp "Trong Như Lai tạng thật có đủ các pháp sanh tử nhiễm
ô"._ Nghe trong kinh Phật nói: "Các pháp sanh tử nhiễm ô của
thế gian, đều do Như Lai tạng mà có, tất cả các pháp đều
không rời Chơn như", chúng phàm phu không hiểu nghĩa này, lại
chấp: "Chính trong bản thể Như Lai tạng, saün có tất cả
các pháp sanh tử nhiễm ô của thế gian".
Để
đối trị cái chấp sai lầm này, nên giải thích rằng: "Từ
vô thỉ tới giờ, trong Như Lai tạng, chỉ có các công đức
thanh tịnh, nhiều hơn số cát sông Hằng. Các công đức này
không lìa, không đoạn và cũng không khác với Chơn như; còn
hằng hà sa số các pháp phiền não nhiễm ô kia, chỉ là hư
vọng, vốn không có thật tánh. Bởi thế nên từ hồi nào
đến giờ, trong Như Lai tạng chưa từng thật có các pháp
nhiễm ô. Nếu trong bản thể Như Lai tạng (chơn) thật có
các phiền não nhiễm ô, rồi hành giả phải diệt trừ các
phiền não nhiễm ô, mới chứng được chơn như thanh tịnh,
thì rất vô lý.
LƯỢC
GIẢI
Chúng
phàm phu nghe trong kinh Phật nói: "Các pháp sanh tử nhiễm ô
đều do Như Lai tạng mà có, các pháp không rời chơn như ":
rồi họ chấp "Trong Như Lai tạng hay chơn như, thật có saün
các pháp sanh tử nhiễm ô".
Để
phá quan niệm sai lầm này, nên Ngài Mã Minh Bồ Tát giải thích
rằng: "Từ hồi nào đến giờ, trong Như Lai tạng (chơn) chỉ
có hằng hà sa số đức tánh thanh tịnh, các đức tánh này
không rời chơn như; còn pháp sanh tử nhiễm ô, vì là hư vọng,
không có thật thể, nên từ hồi nào đến giờ, không có
ở trong Như Lai tạng".
Như
Lai tạng hay chơn như, dụ như "tâm người đương thức tỉnh":
sanh tử nhiễm ô, dụ như "giấc ngủ mà có chiêm bao". Đành
rằng "cái nhủ chiêm bao" là nương nơi "tâm người thức tỉnh"
mà có; song từ hồi nào đến giờ, trong "tâm người thức
tỉnh" không bao giờ thật có chứa saün "cái ngủ chiêm bao".
Bởi "cái ngủ chiêm bao" hư vọng không thật, nên khi thức
giấc rồi thì nó tự mất. Cũng thế, các pháp sanh tử nhiễm
ô, vì hư vọng không thật, nên khi giác ngộ rồi, nó không
còn.
Nếu
quan niệm rằng: "trong Như Lai tạng thật saün có các phiền
não nhiễm ô; hành giả phải diệt trừ hết các phiền não
nhiễm ô, mới chứng được chơn như thanh tịnh", thì không
phải. Cũng như nói " trong tâm người thức tỉnh, thật saün
có "cái ngủ chiêm bao" phải diệt trừ hết "cái ngủ chiêm
bao" rồi, mới được thức tỉnh": nói như thế rất là phi
lý.
Phải
biết, các phiền não sanh tử, chỉ là cái mê vọng, không
có thật thể. Phật đã dạy rằng: "Biết mình mê thì cái
"mê" hết, cái "biết" đó không sanh mê trở lại" (Giác mê
mê diệt, giác bất sanh mê). Cũng như người khi biết mình
dại, thì không còn dại nữa. Lúc bấy giờ họ trở thành
khôn; khi khôn rồi, thì cái "khôn" đó không sanh cái dại trở
lại nữa.
Nếu
cái "dại" (mê) này thật có, thì khi biết khôn (giác) rồi,
cái "dại" đó trốn núp ở đâu? Cũng như "cái ngủ chiêm
bao" nếu thật có, thì khi tỉnh thức rồi nó phải còn. Nhưng
vì nó không còn, nên biết "cái ngủ chiêm bao" (mê dại) này
không thật có.
Nếu
nói "phải diệt trừ hết các pháp sanh tử nhiễm ô mới chứng
được chơn như thanh tịnh" thì cũng như nói "phải phá trừ
cho hết "cái ngủ chiêm bao" rồi, mới được sự thức tỉnh";
nói như thế, đều phi lý.
Bởi
thế nên từ hồi nào đến giờ, trong Như Lai tạng hay Chơn
như, không bao giờ thật có sanh tử nhiễm ô; cũng như trong
"tâm người thức tỉnh", không bao giờ thật có "cái mê ngủ
chiêm bao" vậy.
CHÁNH
VĂN
5.
Chấp "Chúng sanh có thỉ, chư Phật có chung tận"._ Chúng phàm
phu nghe trong kinh Phật nói: "Do Như Lai tạng mà có sanh tử,
do Như Lai tạng mà đặng Niết bàn". Vì họ không hiểu nên
chấp: "Chúng sanh hữu thỉ (có đầu tiên) và chư Phật chứng
Niết bàn, sẽ có ngày chng tận, rồi trở lại làm chúng sanh".
Để
đối trị cái chấp sai lầm này, nên giải thích rằng: Như
Lai tạng (Chơn như tại triền) và vô minh đều có từ vô
thỉ (không có đầu tiên). Nếu nói chúng sanh (có sanh khởi
đầu tiên) là kinh của ngoại đạo nói (kinh Đại hữu), không
phải kinh Phật.
Lại
nữa, Như Lai tạng không có chung tận: chư Phật chứng Niết
bàn là thể nhập (tương ưng) Như Lai tạng, nên cũng không
có chung tận.
LƯỢC
GIẢI
Chúng
sanh nghe trong kinh Phật nói: "Do Như Lai tạng mà có sanh tử,
do Như Lai tạng mà chứng Niết bàn"; rồi họ suy luận và
chấp rằng: vì do Như Lai tạng mà có sanh tử (Vô minh, chúng
sanh); như thế thì chúng sanh (sanh tử, vô minh) tất phải có
sự bắt đầu sanh khởi; (hữu thỉ) và do Như Lai tạng mà
chứng Niết bàn, vậy thì Niết bàn cũng có sự bắt đầu
sanh khởi (hữu thỉ). Do đó người ta kết luận: Chúng sanh
đã hữu thỉ nên cũng hữu chung, Niết bàn hữu thỉ nê cũng
hữu chung. Bởi thế nên họ chấp chư Phật chứng Niết bàn
rồi, có ngày cũng cùng tận, phải trở lại làm chúng sanh.
Để
đối trị với chấp sai lầm này, nên Ngài Mã Minh giải thích,
đại ý nói "Chơn như và vô minh đồng thời có từ vô thỉ".
Cũng như chất ngọt và chất chát đồng thời có trong trái
hồng. Song hành giả khi chuyển phiền não trở lại Bồ Đề,
chuyển sanh tử trở lại Niết bàn, thì lúc bấy giờ chúng
sanh không còn (chung tận), mà chỉ còn Chơn như hay Phật. Cũng
như khi trái hồng lớn chín, đổi hết chất chát chỉ còn
chất ngọt. Khi trái hồng đã chín ngọt rồi, thì không bao
giờ trở lại chát nữa. Cũng như khi đã thành Phật rồi,
không bao giờ trở lại làm chúng sanh nữa.
Vậy
nên biết, vô minh (chúng sanh) vô thỉ mà hữu chung; Chơn như
(Phật) vô thỉ và vô chung.
Kinh
Phật thì chép "Chúng sanh vô thỉ"; còn kinh Đại hữu của
ngoại đạo lại chép "Chúng sanh hữu thỉ".
CHÁNH
VĂN
II.
CHẤP PHÁP (chấp thật có vũ trụ vạn hữu).
Đối
với hàng Nhị thừa, vì độn căn chấp ngã, nên trong kinh
Phật nói: "Chỉ có năm ấm sanh diệt, không có thật ngã".
Nghe như thế, hạng này trở lại chấp: "Thật có năm ấm
sanh diệt" (chấp thật pháp), nên họ rất sợ khổ sanh tử
và cầu vui Niết bàn.
Để
đối trị cái chấp sai lầm này, nên phải giải thích rằng:
"Tánh của năm ấm, từ hồi nào đến giờ, vốn là Niết
bàn, không sanh và cũng không diệt".
LƯỢC
GIẢI
Năm
ấm thật sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Vì năm đám mây
này che khuất vừng trăng chơn như, nên gọi là "Ấm" (che).
Để
phá trừ chấp ngã của hàng Nhị thừa độn căn, nên Phật
nói: "chỉ có năm ấm sanh diệt, không có thậ ngã". Lúc bấy
giờ hạng nàykhông còn chấp ngã, mà trở lại chấp pháp;
nghĩa là chấp thật có năm ấm, thật có khổ sanh tử và
vui Niết bàn. Do đó, họ rất sợ sanh tử và thích thú vui
ở mãi mơi cảnh Niết bàn.
Để
phá trừ cái chấp thật Pháp của Nhị thừa, nên Ngài Mã
Minh Bồ Tát giải thích, đại ý nói: "Tướng của các pháp
không thật, tánh nó là chơn như, là Niết bàn, xưa nay không
sanh, nên cũng không diệt". Vì các pháp không thật có, nên
Bồ Tát không sợ sanh tử và không yên vui ở mãi nơi Niết
bàn".
Nếu
nói một cách đầy đủ, thì phải nói "vô ngã và vô pháp".
Nhưng đây vì đối với hành Nhị thừa, nên Phật chỉ mới
nói "năm ấm vô thường", chớ chưa nói đến "sanh tử tức
chơn thường".
CHÁNH
VĂN
Lại
nữa, nếu người rốt ráo xa lìa các vọng chấp, thì mới
biết rõ các pháp Nhiễm tịnh đều do đối đãi nhau mà thôi,
thật ra không có cái tướng gì có thể kêu gọi được. Bởi
thế nên, từ hồi nào đến giờ, tất cả các pháp, không
phải sắc, không phải tâm, không phải trí, không phải thức,
không phải hữu, không phải vô, rốt ráo không có tướng
gì có thể gọi được. Song, sở dĩ Phật có nói năng kêu
gọi như thế này hoặc như thế kia, là vì đức Như Lai khôn
khéo, phương tiện tạm dùng lời nói để dẫn dắt chúng
sanh, mục đích là làm cho chúng sanh xa lìa các vọng niệm
(ly niệm) trở vể chơn như; nếu còn vọng niệm thì tâm phải
sanh diệt, nên chẳng nhập được trí Phật (thật trí: chơn
như)
LƯỢC
GIẢI
Từ
hồi nào đến giờ, tất cả các pháp, không phải sắc, không
phải tâm, không phải trí, không phải thức v.v...chỉ vì chúng
sanh vọng chấp phân biệt, so sánh (biến kế chấp) đối đãi
với nhau mà thành thế này hoặc thế kia, như đối với hữu
gọi là vô, đối với sắc gọi là tâm, đối với thức gọi
là trí, đối với cao gọi là thấp, đối với lớn gọi là
nhỏ, đối với tốt gọi là xấu v.v...Nếu chúng sanh rốt
ráo xa lìa các vọng chấp thì thật không có một pháp gì
có thể kêu gọi được. Lúc bấy giờ hành giả mới thấy
rõ các pháp không thể kêu gọi (ly danh tự tướng), không
thể nói năng luận bàn (ly ngôn thuyết tướng), hay suy nghĩ
được (ly tâm duyên tướng).
Chư
Phật đã hoàn toàn xa lìa các vọng chấp, song còn gọi pháp
khổ, pháp vui, nhiễm tịnh, sanh tử, Niết bàn v.v...là vì
Phật phương tiện tạm đặt ra những danh từ kêu gọi như
thế, mục đích là để dẫn dắt chúng sanh lìa các vọng
niệm chấp trước, đặng nhập vào chơn như hay trí Phật.
Khi chúng sanh đã nhập vào chơn như hay trí Phật rồi, lúc
bấy giờ cũng không còn danh từ gì để kêu gọi được.
Bài
này nói về phần đối trị các chấp sai lầm rồi, đến
bài thứ 13, sẽ nói về hành tướng phát tâm đến đạo.