Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ TÁM
CHƯƠNG
THỨ BA
PHẦN
GIẢI THÍCH
NÓI
VỀ NGHĨA "BẤT GIÁC" (tiếp theo)
MỤC
LỤC
Nói
về nghĩa "Bất giác" (tiếp theo)
k.
Nói về bố`n món huân tập:
1.
Chơn như huân tập
2.
Vô minh huân tập
3.
Nghiệp thức huân tập: Ý thức và Ý
4.
Cảnh giới hư vọng huân tập.
k.
NÓI VỀ BỐN MÓN HUÂN TẬP
CHÁNH
VĂN
Lại
nữa, vì có bốn món huân tập, nên các pháp tạp nhiễm và
thanh tịnh được sanh khởi không dứt.
1.
Chơn như (pháp thanh tịnh) huân tập
2.
Vô minh (các nhơn tãp nhiễm) huân tập
3.
Nghiệp thức (vọng tâm) huân tập
4.
cảnh giới hư vọng (sáu trần) huân tập.
Sao
gọi là "huân tập"?_ Chữ "Huân" là xông ướp; chữ "Tập"
là quen. Thí như y phục không có mùi thơm, song vì người ta
lấy vật thơm xông ướp vào, nên nó quen (có) mùi thơm.
Cũng
thế, chơn như là pháp thanh tịnh thật không có nhiễm ô,
song vì bị vô minh huân tập vào, nên có tướng nhiễm ô.
Trái lại, vô minh là pháp tạp nhiễm, cũng không có diệu
dụng thanh tịnh, chỉ vì bị chơn như huân tập vào, nên nó
có diệu dụng thanh tịnh.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về việc "Huân tập" của tâm sanh diệt, để chỉ
rõ lý do các pháp sanh diệt tương tục. Ở đây nên lưu ý
nhứt, là hai chữ "huân tập". Chúng ta được chứng Thánh
Hiền hay bị làm phàm phu, đều do huân tập cả.
Thí
như người không biết uống rượu, gần gũi bạn rượu nay
nếm một giọt, mai uống một ly, như thế gọi là "Huân".
Lâu ngày người ấy vì quen hơi rượu, nên ghiền rượu, gọi
là "Tập" (tập quán).
Chơn
như và vô minh huân tập nhau cũng thế. Nếu chơn như mạnh,
huân tập vô minh, thì vô minh biến thành tịnh dụng. Trái
lại, nếu Vô minh mạnh, huân tập vào chơn nhưthì chơn như
biến ra tướng nhiễm ô. Cũng như nước lạnh và nóng đổ
chung một bồn, nếu thế lực của nước nóng nhiều, thì
làm cho nước lạnh trở thành ấm, trái lại, nếu thế lực
của nước lạnh nhiều, thì làm cho nước nóng trở thành
mát.
Hằng
ngày chúng ta "huân tập" không biết bao nhiêu việc, huân tập
cái gì thành ra cái nấy. Huân tập cái xấu nhiều, thành ra
người xấu, Huân tập cái tốt nhiều, thành ra người tốt.
Vào hàng bán hương chiên đàng, được xông ướp mùi thơm,
thì ta thơm. Vào hàng bán thịt cá, bị ướp mùi tanh hôi,
thì ta hôi. Gần gũi người hiền huân tập đức tánh tốt,
thì ta thành người lương thiện; gần gũi kẻ ác, huân tập
theo tánh hung dữ, ta thành người bạo ác. Bởi thế nên ngạn
ngữ có câu: "Gần mực thì đen, gần đèn thì sang". Hằng
ngày chúng ta chung đụng, gần gũi, lân la không biết bao nhiêu
hạng người, chúng ta phải thận trọng về sự huân tập
này. Huân tập Phật (chơn như) thì được thành Phật, huân
tập chúng sanh (vô minh) thì làm chúng sanh.
Huân
tập có bốn loại:
1.
Chơn như huân tập
2.
Vô minh huân tập
3.
Vọng tâm huân tập
4.
Vọng cảnh huân tập
sẽ
tuần tự giải thích từ thô đến tế như sau.
DO
HUÂN TẬP NÊN CÁC PHÁP NHIỄM Ô SANH KHỞI KHÔNG DỨT
CHÁNH
VĂN
Huân
tập thế nào, mà các pháp tạp nhiễm sanh khởi không dứt?_
Do chơn như mà có vô minh (hoặc); rồi vô minh làm nhơn trở
lại huân tập vào chơn như (nghiệp) sanh ra vọng tâm (khổ);
rồi vọng tâm (khổ) trở lại huân tập vào vô minh (hoặc)
v.v...
Nghĩa
là vì chưa ngộ nhập được chơn như, nên bất giác (hoặc,
tức là nghiệp tướng) vọng niệm sanh khởi (nghiệp, tức
là chuyển tướng) và vọng hiện ra các cảnh giới (khổ,
tức là hiện tướng).
Rồi
do cảnh giới nhiễm ô vọng hiện này (khổ) trở lại huân
tập vào vọng tâm, sanh ra vọng niệm chấp trước (hoặc,
tức là bốn món Thô trước) và tạo ra các nghiệp (nghiệp,
tức là món Thô thứ năm) rồi chịu tất cả khổ về thânvà
tâm v.v...(khổ, tức là món Thô thứ sáu).
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói do huân tập nên các pháp tạp nhiễm sanh khởi không
dứt.
Vì
chưa ngộ nhập được chơn tâm, nên vô minh bất giác vọng
động nổi lên (hoặc) rồi huân tập trở lại chơn tâm (nghiệp)biến
thành vọng tâm (khổ).
Rồi
từ vọng tâm (khổ) trở lại huân tập vô minh (hoặc sanh
ra vọng niệm (nghiệp) và cảnh giới hư vọng (khổ).
Cảnh
giới hư vọng (khổ)trở lại huân tập vọng tâm, sanh ra vọng
niệm chấp trước (hoặc) tạo ra các nghiệp (nghiệp) rồi
chịu quả khổ về thân và tâm v.v...(khổ).
Cũng
như 12 nhơn duyên: Từ vô minh (hoặc) làm duyên cho hành(nghiệp),
hành làm duyên cho thức, danh sắc, lục nhập, xúc thọ (khổ);
thọ làm duyên cho ái (hoặc) và ái làm duyên cho thủ, hữu
(nghiệp) sanh và lão tử (khổ) v.v...Ba đời nhơn quả, từ
hoặc tạo nghiệp (nhơn quá khứ), do nghiệp nên thọ khổ
(quả hiện tại). Rồi khổ lại mê hoặc tạo nghiệp, (nhơn
hiện tại) và vì tạo nghiệp nên phải chịu khổ về sau
(quả vị lai), v.v...Như cái vòng tròn không có mối. Bởi thế
nên nói các pháp tạp nhiễm tương tục sanh khởi lkhông dứt.
CHÁNH
VĂN
Nói
về cảnh giới hư vọng (6 tuần) huân tập._ Cảng giới hư
vọng (6 tuần) huân tập có hai món: 1. Cảnh giới huân tập
làm tăng trưởng vọng niệm (Trí tướng và Tương tục tướng),
2. Cảnh giới huân tập làm tăng trưởng chấp thủ (Chấp
thủ tướng và Kế danh tự tướng).
Nói
về vọng tâm (nghiệp thức) huân tập._
Vọng
tâm huân tập có hai món: 1. Vọng tâm (nghiệp thức căn bản)
huân tập lại căn bản vô minh (làm cho tạng thức bất đoạn)
làm cho các vị Bồ Tát, A la hán, Bích Chi Phật (Duyên giác)
phải thọ khổ "Biến dịch sanh tử" (sanh tử biến đổi).
2. Vọng tâm (phân biệt sự thức) huân tập chi mạt vô minh
(tức là bốn món Thô trước) làm cho chúng phàm phu chịu khổ
"phần đoạn sanh tử".
Nói
về vô minh huân tập._vô minh huân tập có 2 món: 1. Căn bản
vô minh huân tập vào chơn như làm thành tựu nghiệp thức
(Tạng thức), 2. Chi mạt vô minh (kiến, ái) huân tập vào vọng
tâm làm thành tựu (tăng trưởng) phân biệt sự thức (ý thức)
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về 3 loại huân tập (còn loại thứ tư, là chơn như
huân tập, sẽ nói trong bài sau), từ thô về tế:
1.
Cảnh giới hư vọng 6 trần huân tập vào vọng tâm, nuôi lớn
chi mạ vô minh, cũng gọi nhuận sanh vô minh, tức là Niệm
(Trí tướng và Tương tục tướng) và thủ (chấp thù tướng).
2.
Vọng tâm (nghiệp thức) huân tập lại vô mibnh, nuôi lớn
hai món khổ sanh tử của phàm phu và Thánh giả:
a.
Vì vọng tâm (nghiệp thức huân tập vào căn bản vô minh,
nuôi lớn "vọng niệm", làm cho Tạng thức (A lai da) bất đoạn,
nên các vị Bồ Tát, Duyên giác, A la hán phải bị khổ biến
dịch sanh tử.
b.Vì
vọng tâm phân biệt sự thức (ý thức) huân tập vào chi mạt
vô minh, (Trí tướng, Tương tục tướng, Chấp thủ tướng
và Kế danh tự tướng, tức là kiến hoặc và tư hoặc) nuôi
lớn "chấp thủ", làm cho 7 thức trước tương tục mãi mãi,
nên chúng phàm phu phải bị khó phân đoạn sanh tử.
3.
Vô minh huân tập làm thành tựu nghiệp thức và phân biệt
sự thức: a. Vì căn bản vô minh huân tập vào chơn như, nên
làm thành tựu nghiệp thức, tức là A lại da thức, b. Vì
chi mạt vô minh (Kiến: Kiến hoặc; Ái: tư hoặc) huân tập
vào vọng tâm (nghiệp thức), nên làm thành tựu phân biệt
sự thức tức là thức. Nói chung là bảy thức trước. Vì
bảy thức trước phân biệt các sự vật, rồi chấp ngã,
chấp pháp, nên các sự vật mới thành như thế này, hoặc
như thế nọ. Bởi thế nên gọi là phân biệt sự thức.
Đã
nói "Do huân tập nên các pháp tạp nhiễm sanh khởi không dứt"
rồi; tiếp theo đây sẽ nói: "Do huân tập nên các pháp thanh
tịnh sanh khởi không dứt".
DO
HUÂN TẬP NÊN CÁC PHÁP THANH TỊNH SANH KHỞI KHÔNG DỨT
CHÁNH
VĂN
Huân
tập thế nào, mà các pháp thanh tịnh sanh khởi không dứt?_
Do chơn như huân tập vô minh, nên làm cho hành giả khởi vọng
tâm nhàm chán khổ sanh tử, cầu vui Niết bàn. Nhờ công năng
chán khổ sanh tử, ưa thú vui Niết bàn của vọng tâm đó,
trở lại huân tập vào chơn như, nên hành giả mới tự tin
tánh Phật (khả năng thành Phật) của mình, (ở vị Thập
tín) và biết cảnh giới hiện tiền không thẫt có, chỉ do
tâm vọng động hiện ra (thập trụ) rồi tu hành để xa lìa
các nhiễm ô (thập hạnh và Thập hồi hướng). Khi biết xác
thực, không có cảnh giới hiện tiền (Sơ địa) hành giả
mới dùng các phương tiện tu hành (từ Nhị địa đến Cửu
địa) và khởi ra hạnh tuỳ thuận chơn tâm, không chấp thủ
(Chấp thủ tướng và Kế danh tự tướng) không vọng niệm
(Trí tướng và Tương tục tướng) và tu hành trải qua nhiều
kiếp lâu xa (Thập địa).
Tóm
lại, nhờ sức chơn như huân tập này, nên vô minh diệt (Nghiệp
tướng diệt). Vì vô minh diệt nên tâm không vọng động (Chuyển
tướng diệt); do tâm không vọng động nên cảnh giới cũng
theo đó mà diệt (Hiện tướng diệt). Do vô minh (nhơn) và
cảnh giới (duyên) đều diệt, nên các tướng vọng nhiễm
của tâm cũng diệt hết (Lục thô diệt hết). Lúc bấy giờ,
gọi là chứng Niết bàn, và hành giả được diệu dụng không
thể nghĩ bàn (tự nhiên nghiệp).
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói do huân tập mà các pháp thanh tịnh sanh khởi không
dứt.
Bên
trong nhờ tánh Phật (chơn như) huân tập vô minh, nên làm cho
hành giả phản tỉnh, nhàm khổ sanh tử cầu vui Niết bàn.
Bên ngoài nhờ sự phản tỉnh này, trở lại huân tập vào
tánh Phật (chơn như) làm cho hành giả giác ngộ cảnh giới
này không thật, nên đã không sanh tâm tham luyến và tạo nghiệp;
trái lại, còn tuỳ thuận theo tánh Phật tu hành, phá trừ
Tam tế Lục thô, trải qua bao vô số kiếp và 56 địa vị,
từ Thập tín đến quả Phật.
Vì
bên trong vô minh, bên ngoài cảnh giới đều đã diệt nên
vọng tâm cũng diệt; do vọng tâm diệt, nên tánh Phật (chơn
như) mới hiện ra, gọi đó là cảnh Niết bàn. Lúc bấy giờ
hành giả được rất nhiều diệu dụng hoá độ chúng sanh
không thể nghĩ bàn.
Chúng
ta nên lưu ý đặc điểm này: khi mê thì vô minh làm cho vọng
tâm tạo ra các tội khổ sanh tử triền phược; đến lúc
ngộ thì chơn như (tánh Phật) làm cho vọng tâm phản tỉnh
và tiến tu đến đạo quả Bồ Đề, Niết bàn.
Cũng
như một cây gươm, nếu kẻ giặc cầm thì sát nhơn vô đạo;
còn người anh hùng tướng sỉ cầm, thì bảo vệ non sông.
Bởi thế nên người tu hành, chỉ đổi cái "Dụng" mà thôi,
chớ không phải trừ bỏ cái "Thể" vậy.
CHÁNH
VĂN
Lại
nữa, vọng tâm huân tập có hai thứ:
1.
Ý thức huân tập (phân biệt sự thức), làm cho chúng phàm
phu và Nhị thừa nhàm chán khổ sanh tử, và tuỳ theo năng
lực của mình, lần lần tu hành đến Đạo vô thượng Bồ
Đề.
2.
Ý huân tập, làm cho các vị Bồ Tát phát tâm dõng mãnh, mau
đến quả Niết bàn.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này giải thích, vọng tâm huân tập trở lại chơn như, có
hai loại:
1.
Ý thức (thức thứ sáu) huân tập vào chơn như; nghĩa là do
công năng phản tỉnh của ý thức, huân tập trở lại tánh
Phật saün có (chơn như), nên làm cho chúng phàm phu và hàng
Nhị thừa nhàm chán khổ sanh tử, phát tâm tu hành, lần lần
đến đạo vô thượng Bồ Đề.
2.
Ý (tương tục ý) huân tập trở lại chơn như; nghĩa là do
công năng phản tỉnh của ý, huân tập trở lại tánh Phật
(chơn như), nên làm cho hàng Bồ Tát , phát tâm dõng mãnh tu
hành, mau được quả Niết bàn.
Trên
đã nói vọng tâm huân tập vào chơn như, có thô và tế không
đồng rồi; tiếp sau đây sẽ nói chơn như huân tập vô minh,
có "thể" và "dụng" không đồng.
HẾT
QUYỂN THƯỢNG