Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ BẢY
CHƯƠNG
THỨ BA
PHẦN
GIẢI THÍCH
NÓI
VỀ Ý NGHĨA "BẤT GIÁC" (tiếp theo)
MỤC
LỤC
Nói
về nghĩa "Bất giác" (tiếp theo)
g.
Nói về Tâm nhiễm ô, có 6 lớp:
1.
Nhiễm ô chấp trước (chấp thủ tướng và kế danh tự tướng)
2.
Nhiễm ô bất đoạn (tương tục tướng)
3.
Nhiễm ô phân biệt (trí tướng)
4.
Nhiễm ô cảnh sắc (hiện tướng)
5.
Nhiễm ô năng phân biệt (kiến tướng)
6.
Nhiễm ô về nghiệp (nghiệp tướng)
h.
Tâm nhiễn ô và vô minh khác nhau như thế nào?
i.
Ba tướng nhiễm ô sanh diệt:
1.
Tướng sanh diệt thô
2.
Tướng sanh diệt vừa
3.
Tướng sanh diệt vi tế
g.
NÓI VỀ TÂM NHIỄM Ô
CHÁNH
VĂN
Tâm
nhiễm ô này (kể từ Thô đến Tế) có 6 lớp:
1.
Nhiễm ô về chấp trước (chấp tương ưng nhiễm, tức là
hai món Thô: chấp thủ tướng và kế danh tự tướng). Hành
giả phải đến quả Nhị thừa hay vị Thập tín, mới trừ
được món nhiễn ô này.
2.
Nhiễm ô bất đoạn (Bất đoạn tương ưng nhiễm, tức là
món Thô về tương tục tướng). Hành giả từ địa vị Thập
tín đến địa vị Thập hồi hướng, phương tiện tu hành,
lần lần xả bỏ, khi đến Sơ địa (tịnh tâm địa) mới
hoàn toàn xa lìa được món nhiễm ô này.
3.
Nhiễm ô về trí phân biệt (Phân biệt trí tương ưng nhiễm,
tức là món Thô về Trí tướng). Hành giả phải từ Nhị
địa (Cụ giới địa) lầân lần diệt trừ, cho đến Thất
địa (Vô tướng phương tiện địa) mới hoàn toàn xa lìa
nhiễm ô này.
4.
Nhiễm ô về cảnh sắc (Hiện sắc bất tương ưng nhiễm,
tức là món Tế về Hiện tướng). Hành giả tu hành phải
đến Bát địa (Sắc tự tại địa) mới xa lìa được món
nhiễm ô này.
5.
Nhiễm ô về năng phân biệt (năng kiến tâm bất tương ưng
nhiễm, tức là món Tế về Kiến tướng). Hành giả tu hành
phải đến Cửu địa, mới xa lìa được món nhiễm ô này.
6.
Nhiễm ô về nghiệp (Căn bản nghiệp bất tương ưng nhiễm,
tức là món Tế về Nghiệp tướng). Hành giả từ Thập địa
lên Đẳng giác Bồ Tát và phải đến quả vị Phật, mới
có thể diệt trừ món nhiễm ô này.
Tóm
lại, vì không ngộ được chơn tâm (bất đạt nhứt pháp
giới nghĩa) nên sanh ra nhiều lớp nhiễm ô (Tam tế, Lục thô).
Muốn diệt trừ các nhiễm ô này, hành giả phải trải qua
nhiều địa vị: Bắt đầu từ địa vị Thập tín để tâm
quán sát và học tập đoạn trừ tâm nhiễm ô. Qua Tam hiền
rồi vào Thập địa, tuỳ mỗi địa vị, diệt trừ mỗi phần
tâm nhiễm ô (vọng hoặc); đến quả vị Phật mới diệt
hoàn toàn rốt ráo.
LƯỢC
GIẢI
Vì
không ngộ được chơn tâm, nên sanh ra trùng trùng mê vọng.
Các lớp mê vọng tuy nhiều, nhưng đại lược chia làm 6 lớp,
từ Thô đến Tế.
1.
Chấp tương ưng nhiễm (nhiễm ô về sự chấp trước) tức
là hai món Thô thứ ba và thứ tư (chấp thủ tướng và kế
danh tự tướng) trong 6 món Thô. Hành giả tu hành phải đến
Nhị thừa hay Thập tín mới đoạn trừ được lớp vọng
nhiễm này.
2.
Bất đoạn tương ưng nhiễm (nhiễm ô về bất đoạn) tức
là món Thô thứ hai (tương tục tướng) trong 6 món Thô. Hành
giả tu hành từ địa vị Tam hiền đoạn trừ lần lần cho
đến Sơ địa mới trừ hết lớp vọng nhiễm này.
3.
Phân biệt trí tương ưng nhiễm (nhiễm ô về phân biệt) tức
là món Thô thứ nhứt (trí tướng) trong 6 món Thô. Hành giả
tu hành từ Nhị địa cho đến Thất địa mới trừ được
lớp vọng nhiễm này.
4.
Hiện sắc bất tương ưng nhiễm (nhiễm ô về cảnh giới)
tức là món Tếâ thứ ba (hiện tướng) trong 3 món Tếâ. Hành
giả tu hành đến Bát địa mới đoạn được lớp vọng nhiễm
này.
5.
Năng kiến tâm bất tương ưng nhiễm (nhiễm ô vềnăng phân
biệt) tức là món Tếâ thứ hai (kiến tướng) trong 3 món
Tếâ. Hành giả tu hành, phải đến Cửu địa, mới đoạn
được lớp vọng nhiễm này.
6.
Căn bản nghiệp bất tương ưng nhiễm (nhiễm ô vềnghiệp)
tức là món Tếâ thứ nhứt (Vô minh nghiệp tướng) trong 3
món Tếâ. Hành giả tu hành khi sắp chúng quả Phật, mới
đoạn trừ được lớp vọng nhiễm rất vi tế này.
Tóm
lại, vì vô minh vọng nhiễm chồng chất nhiều lớp, từ nhiều
đời nhiều kiếp, nên hành giả phải trải qua nhiều giai
đoạn, nhiều địa vị để phá trừ. Phá một lớp vô minh,
thì Hành giả chứng lên được một địa vị. Như thế, bắt
đầu từ phàm phu, tu đến quả vị Phật, Hành giả phải
trải qua thời gian là 3 lần vô số kiếp (A tăng kỳ kiếp)
và qua 55 địa vị, mới đoạn mê hoặc (vô minh) được hoàn
toàn và chứng được rốt ráo quả Phật.
CHÁNH
VĂN
_ Sao
gọi là "tương ưng" (3 món nhiễm về tương ưng)? _ Vì Tâm
vương, Tâm sở khác nhau (tâm niệm, pháp dị) và tánh chất
nhiễm ô của cảnh bị duyên không đồng; song Tâm vương khi
duyên cảnh nào thì Tâm sở cũng ưng thuận duyên theo cảnh
đó, nên gọi là "tương ưng". (ngôn thuyết).
_ Sao
gọi là "bất tương ưng" (3 món nhiễm về bất tương ưng)?
_ Vì tâm mới vừa bất giác vọng động, chưa phân ra căn
cảnh hay Tâm vương, Tâm sở, nên gọi là "bất tương ưng".
LƯỢC
GIẢI
Trong
6 món nhiễm ô này, sở dĩ 3 món đầu (chấp tương ưng nhiễm,
bất đoạn tương ưng nhiễm và phân biệt trí tương ưng nhiễm)
đều gọi là "tương ưng", là vì chúng nó thô phù, lại chia
ra 2 phần rất rõ rệt (căn, cảnh; Tâm vương, Tâm sở) và
có sự hoà hiệp nhau (tương ưng).
Còn
3 món nhiễm ô sau (hiện sắc bất tương ưng nhiễm, năng kiến
tâm bất tương ưng nhiễm và căn bản nghiệp bất tương ưng
nhiễm) lại gọi là "Bất tương ưng"; là vì chúng nó rất
vi tế, còn ở trong vòng trừu tượng, chưa phân Năng, Sở,
Tâm, Cảnh, nên chẳng có sự hợp nhau.
h)
TÂM NHIỄM Ô VÀ VÔ MINH KHÁC NHAU THẾ NÀO?
CHÁNH
VĂN
_ Tâm
nhiễm ô là phiền não chướng (phiền não ngại) làm chướng
ngại căn bản trí (vô phân biệt trí) duyên Chơn như.
_ Vô
minh là sở tri chướng (trí ngai làm chướng ngại hậu đắc
trí (tự nhiên nghiệp trí) duyên các pháp sai biệt của thế
gian.
_ Tại
sao tâm nhiễm ô lại chướng ngại căn bản trí? _ Vì tâm
nhiễm ô sanh ra Năng kiến tướng (kiến phần) và Năng hiện
tướng (tướng phần) rồi vọng sanh ra chấp thủ cảnh giới
(thuộc về Lục thô), nên trái với tánh Chơn như bình đẳng
_ Tại
sao vô minh(bất giác) lại chướng ngại Hậu đắc trí (sai
biệt trí)? Vì các pháp thường tịnh, không có khởi động;
còn vô minh thì bất giác vọng động, nên trái với tánh thường
tịnh của các pháp. Bởi thế nên không thể tuỳ thuận biết
hết các cảnh giới thế gian.
LƯỢC
GIẢI
Vô
minh và tâm nhiễm ô khác nhau thế nào? _ Từ vô minh sanh ra
tâm nhiễm ô (Tam tế, Lục thô) nên vô minh là gốc, mà tâm
nhiễm ô là sự sai biệt của vô minh.
Vô
minh thuộc về mê "Lý", tức là sở tri chướng, làm chướng
ngại Hậu đắc trí, cũng gọi là Sai biệt trí (trí này phân
biệt các pháp sai biệt thế gian).
Tâm
nhiễm ô thuộc về mê "Sự", tức là phiền não chướng, làm
chướng ngại Căn bản trí; cũng gọi là Vô phân biệt trí
(trí này duyên Chơn như).
Tại
sao phiền não (tâm nhiễm ô) làm chướng ngại Căn bản trí,
còn Sở tri (vô minh) lại chướng ngại Hậu đắc trí? _ Tánh
Chơn như bình đẳng, không có năng sở bỉ thử, nên phải
dùng Căn bản trí (vô phân biệt trí) mới duyên được Chơn
như. Song vì phiền não là tâm nhiễm ô lại chao động, có
năng sở bỉ thử, ngàn sai muôn khác, trái với chơn như bình
đẳng, nên làm chướng ngại "Vô phân biệt trí" (Căn bản
trí).
_ Các
pháp thế gian không rời chơn như, và chơn như đã thanh tịnh
nên các pháp thế gian cũng phải thanh tịnh. Song vì vô minh
bất giác, trái với tánh thanh tịnh của các pháp, nên không
thật biết được các pháp. Bởi thế nên vô minh (sở tri
chướng) làm chướng ngại Sai biệt trí (Hậu đắc trí).
Đã
nói nhơn duyên sanh diệt rồi, tiếp theo đây sẽ nói tướng
sanh diệt.
l)
BA TƯỚNG NHIỄM Ô SANH DIỆT
CHÁNH
VĂN
Lại
nữa, tướng nhiễm ô sanh diệt, có 3 thứ:
1.
Tướng sanh diệt thô (chấp thủ tướng và kế danh tự tướng)
đây là cảnh giới của địa vị Tam hiền (phàm phu) biết.
2.
Tướng sanh diệt vừa Thô vừa Tế (tức là 2 món Thô đầu:
Trí tướng, Tương tục tướng và 2 món Tế sau: Chuyển tướng
và Hiện tướng), đây là cảnh giới của Bồ Tát (từ Sơ
địa đến Đẳng giác) biết.
3.
Tướng sanh diệt Vi tế (tức là món Tế đầu tiên: Vô minh
nghiệp tướng) đây là cảnh giới chỉ có Phật mới biết.
Ba
tướng nhiễm ô sanh diệt này, đều do vô minh huân tập mà
sanh. Nghĩa là do vô minh bất giác làm nhơn và cảnh giới hư
vọng làm duyên, mới sanh ra các tướng nhiễm ô sanh diệt.
Bởi
thế nên, nhơn (vô minh) diệt, thì duyên (cảnh giới) diệt.
Nếu vô minh (nhơn) diệt, thì Tam tế diệt (bất tương ưng
tâm diệt), và nếu cảnh giới (duyên) diệt, thì Lục thô
diệt (tương ưng tâm diệt).
LƯỢC
GIẢI
Tướng
nhiễm ô sanh diệt có Thô và Tế, tức là Lục thô và Tam
tế. Hàng Tam hiền (Trụ, Hạnh, Hướng) chưa đặng Thánh vị,
nên đều gọi là phàm phu. Hàng phàm phu (Tam hiền) chỉ biết
hành tướng của hai món Thô thứ ba và thứ tư. Bồ Tát từ
Sơ địa đến Đẳng giác thì biết được hành tướng của
2 món Tế sau (Chuyển tướng và Hiễn tướng). Duy Phật mới
biết được hành tướng của món Vi tế thứ nhứt là "Vô
minh nghiệp tướng".
Các
tướng sanh diệt Thô, tế này, đều do vô minh huân tập mà
có. Nghĩa là do vô minh bất giác làm nhơn, sanh ra 3 món Vi tế
(Nghiệp tướng, Chuyển tướng và Hiện tướng); rồi do cảnh
giới (Hiện tướng) làm duyên, sanh ra 6 món Thô.
Bởi
thế nên vô minh (nhơn) diệt, thì cảnh giới (duyên) diệt.
Nếu vô minh diệt thì Tam tế diệt; và nếu cảnh giới (Hiện
tướng) diệt thì Lục thô cũng diệt.
VẤN
ĐÁP ĐỂ QUYẾT NGHI
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Nếu tâm này (tâm nhiễm ô) diệt, thì lấy gì để tiếp tục
tu hành? Và nếu tâm này còn tương tục, thì làm sao được
thành Phật?
Đáp:_
Chỉ diệt cái "Vọng tướng" của tâm, chớ không phải diệt
cai "Chơn thể" của tâm. Cũng như vì gió nên nước nổi sóng.
Nếu gió đứng thì sóng lặng, chứ nước không diệt.
Cũng
thế, vì vô minh (gió) mà tâm thể (nước) sanh ra vọng tướng
(sóng). Nếu vô minh (si mê) diệt thì vọng tướng của tâm
cũng diệt, chớ tâm trí (tâm thể) không diệt.
LƯỢC
GIẢI
Vì
đoạn trước nói "Nếu Nhơn diệt, thì tâm bất tương ưng
diệt; còn Duyên diệt, thì tâm tương ưng diệt", nên đoạn
này mới có câu hỏi: "Nếu tâm này diệt, thì lấy gì để
tiếp tục tu hành v.v..."
Đại
ý trong lời đáp: Tâm có hai phần, chơn thể và vọng tưởng.
Tâm chơn thể như nước; tâm vọng tướng như sóng. Nước
vì gió mà có sóng, nên khi gió hết thì sóng lặng, chứ nước
không diệt.
Cũng
thế, vì gió vô minh làm chao động, nên nước tâm thể nổi
lên các vọng thức, rồi sanh diệt tương tục. Khi gió vô
minh hết, thì sóng vọng thức lặng, chứ nước tâm thể không
diệt.
Trên
đây có hai danh từ: Tậm thể và Tâm trí, giới nghĩa khác
nhau. Nói "Tâm thể" là chỉ chung cho cả nhiễm tịnh, phàm
thánh đều có Tâm thể. Còn nói "Tâm trí" là chỉ riêng về
phần "Tịnh" của tâm thể khi đã rời nhiễm, và đặng thành
thánh quả.
Trên
đây nói phần "nhiễm tịnh sanh diệt, sanh ra tất cả pháp",
tiếp theo đây sẽ nói "nhiễm huân tập nhau", để chỉ rõ
các pháp sanh khởi không dứt.