Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ SÁU
CHƯƠNG
THỨ BA
PHẦN
GIẢI THÍCH
NÓI
VỀ NGHĨA "BẤT GIÁC" (Tiếp Theo)
MỤC
LỤC
Nói
về nghĩa "Bất giác" (tiếp theo)
d.
Nói về "ý tương tục" có 5 thứ:
1.
Nghiệp thức (nghiệp tướng)
2.
Chuyển thức (chuyển tướng)
3.
Hiện thức (hiện tướng)
4.
Trí thức (trí tướng)
5.
Tương tục thức (tương tục tướng)
e.
Nói về "ý thức"
Cảnh
giới này duy có Phật mới biết được rốt ráo.
d.
NÓI VỀ "Ý" TƯƠNG TỤC, có 5 thứ
CHÁNH
VĂN
Trên
đã nói "Tâm sanh diệt", (thức A lại da) tiếp theo đây sẽ
nói "cái "Ý" làm nhơn duyên sanh diệt".
Tất
cả chúng sanh đều từ nơi tâm (A lại da) mà sanh ra mý (Mạt
ma) và ý thức (thức thứ 6). Nghĩa là do thức A lại da có
vô minh bất giác (nghiệp tướng) nên sanh ra Năng kiến (chuyển
tướng) và Năng hiện (hiện tướng) rồi tiếp tục sanh ra
các niệm (lục thô), chấp lấy cảnh giới v.v...gọi là "Ý".
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về sự quan trọng của "ý". Trong các nơi khác, khi
nói đến "ý" thì thường dùng để chỉ riêng cho thức Mạt
na, là thức sanh diệt tương tục thắng hơn các thức. Nhưng
chữ "ý" ở luận này là chỉ chung cho cả 8 thức; vì cả
8 thức đều có nghĩa "sanh diệt tương tục".
Thức
A lại da là gốc của sanh diệt, thức Mạt na làm nhơn duyên
cho sự sanh diệt tương tục; còn ý thức thì khởi hoặc tạo
nghiệp, làm cho chúng sanh nhiều kiếp sanh tử không dứt.
CÁI
"Ý" CÓ 5 THỨ
CHÁNH
VĂN
Cái
"Ý" này lại có 5 thứ: Nghiệp thức (nghiệp tướng), Chuyển
thức (chuyển tướng), Hiện thức (hiện tướng), Trí thức
(trí tướng) và Tươmng tục thức (tương tục tướng).
a.
"Nghiệp thức" là sự vô minh bất giác làm cho tâm vọng động
(tức là Tự chứng phần của thức A lại da)
b.
"Chuyển thức" là phần Năng phân biệt (Kiến phần của thức
A lại da) do tâm vọng động chuyển sanh ra.
c.
"Hiện thức" là sự hiện bày của cảnh giới ngũ trần bị
phân biệt (Tướng phần của thức A lại da). Cảnh giới này
không có trước sau, trong tất cả thời, mặc tình sanh khởi,
thường hiện ở trước.
(3
thứcx này thuộc về Tam Tế)
d.
"Trí thức" là cái biết phân biệt các pháp nhiễm tịnh.
e.
"Tương tục thức" là niệm niệm sanh diệt tương tục không
gián đoạn.
(2
thức này thuộc về 2 món. Thô trước, trong 6 món Thô)
năm
thứ "ý" này, giữ gìn tất cả nghiệp lành dữ, từ quá khứ
vô lượng kiếp về trước, cho đến ngày nay cũng không mất
(trì chủng). Nó lại có công năng làm cho thành thục tất
cả quả báo khổ vui về hiện tại cũng như tương lai, không
sai mất (chấp thủ căn thân, thế giới và kiết sanh tương
tục). Và nó công năng nhớ việc đã qua, nghĩ những việc
hiện tại và suy tính những việc chưa đến (vị lai).
Bởi
thế nên ba cõi (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới) đều
hư ngụy, duy tâm tạo ra. Nếu rời tâm thì không có cảnh
giới sáu trần này (ba cõi).
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về nghĩa chử "ý", là chỉ cho một dòng sanh diệt
tương tục không gián đoạn. Từ vô minh vọng động, sanh
ra 3 món Tế, là Nghiệp tướng (nghiệp thức), Chuyển tướng
(chuyển thức), Hiện tướng (hiện thức) và hai món Thô là
Trí tướng (trí thức) và Tương tục tướng (tương tục thức).
Năm
cái "ý" này có công năng giữ gìn thiện ác, quả báo khổ
vui hiện tại và vị lai, làm cho không mất (đó là công năng
trì chủng chấp thọ thân căn thế giới và kiết sanh tương
tục của thức A đà na); nhớ nghĩ những việc đã qua và
lo tính những điều chưa đến (đó là công năng của thức
thứ 6), và một dòng sanh diệt, tiếp tục từ trước đến
sau không gián đoạn, gọi đó là "ý". Bởi thế nên chữ "ý"
này là chỉ chung cho cả 8 thức.
Tóm
lại, từ vô minh vọng động, sanh ra thức A lại da. Từ thức
A lại da lại tiếp tục sanh ra 7 thức trước; rồi cùng nhau
làm nhơn làm duyên, lại thành ra một dòng sóng thức, sanh
diệt tương tục vô tận, gọi đó là "ý". Cũng vì rõ nghĩa
này, nên Cổ nhơn làm bài thơ có câu rằng: "...Nhứt ba tài
động vạn ba tuỳ ..." (một lượng sóng vừa nổi lên, thì
trăm ngàn lượng sóng đều nổi theo).
Nào
ba cõi, nào 6 trần đều từ 8 thức này biến hiện. Bởi thế
nên các pháp đều hư dối, duy tâm tạo ra; nếu rời 8 thức,
thì các cảnh giới đều không còn.
CHÁNH
VĂN
Nghĩa
này thế nào?_ Do tất cả pháp đều từ vọng tâm của chúng
sanh mà sanh khởi, nên tất cả sự phân biệt tức là phân
biệt trong tự tâm. Nhưng tâm không có hình tướng gì cả,
nên không thể thấy được nó. Phải biết, tất cả cảnh
giới ở thế gian, đều do vô minh vọng tâm của chúng sanh
mà được tồn tại, nên tất cả các pháp, đều khônhg có
thật thể, mà chỉ vọng tâm huyễn hiện, như bóng trong gương.
Nếu
vọng tâm sanh khởi, thì các pháp đều sanh khởi; vọng tâm
diệt thì các pháp đều diệt (Tâm sanh tắc chủng chủng pháp
sanh, tâm diệt tắc chủng chủng pháp diệt).
LƯỢC
GIẢI
Tất
cả các pháp đều do tâm của chúng sanh sanh ra, nên chúng snh
phân biệt các pháp, tức là phân biệt ở nơi tự tâm. Kinh
Lăng Nghiêm chép: "Tự tâm thủ tự tâm, phi huyễn thành huyễn
pháp" (tự tâm chúng sanh trở lại chấp lấy tự tâm chúng
sanh; tâm không phải huyễn mà trở lại thành pháp hư huyễn).
Tất
cả các pháp đều không thật có, chỉ nương nơi tâm mà tồn
tại, như hoa trong gương, như trăng dưới nước. Nếu tâm
động thì các pháp sanh, tâm tịnh thì các pháp diệt. Trong
Khế kinh chép: "tâm sanh tắc chủng chủng pháp sanh, tâm diệt
tắc chủng chủng pháp diệt" là vậy. Tổ Qui Sơn nói: "Nhứt
tâm không sanh thì muôn pháp đều dứt" (Nhứt tâm bất sanh
vạn pháp câu tức). Bởi thế nên đoạn trước nói "Người
quán vô niệm (không vọng niệm) thì hướng về trí Phật".
Đoạn
này đã nói về "ý tương tục" rồi, tiếp theo dưới đây
sẽ nói đến ý thức.
e.
NÓI VỀ "Ý THỨC"
CHÁNH
VĂN
Trên
đã nói về "ý" rồi, tiếp theo đây nói về "ý thức". Ý
thức tức là "thức tương tục". Bởi chúng phàm phu chấp
trước rất nặng nề nơi Ngã và Ngã sở, nên khởi ra các
món vọng chấp, leo chuyền theo sự vật, phân biệt cảnh giới
sáu trần, gọi đó là "ý thức" (thức thứ sáu). Cũng gọi
đó là "Phân ly thức", hay gọi "Phân biệt sự thức". Thức
này nương nơi kiến (kiến hoặc) và ái (tư hoặc) phiền não
mà được nuôi lớn.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về "ý thức".
So
với 5 món "ý" nói trên, thì ý thức này thuộc về món thứ
năm là "Tương tục thức"; trong Lục thô nó thuộc về Thô
thứ hai là "Tương tục Tướng"; trong 8 thức nó thuộc về
thức thứ 6.
_ Bởi
thức này, niệm niệm tương tục, chấp Ngã và Ngã sở, leo
chuyền theo các trần cảnh, phân biệt các sự vật, vọng
chấp đủ điều, nên gọi là "Thức tương tục".
_ Bởi
thức này phân biệt 5 trần cảnh (Sắc, Thinh, Hương, Vị và
Xúc) mỗi cảnh riêng nhau, nên gọi là "Phân ly thức".
_ Bởi
thức này phân biệt tất cả sự vật, nên cũng gọi là "phận
biệt sự thức".
_ lại
nữa, thức này nhờ 2 món phiền não là "Kiến" và "Ái" mà
được nuôi lớn, "kiến" tức là kiến hoặc, thuộc về phân
biệt hoặc. "Ái" tức là Tư hoặc, thuộc về Cu sanh hoặc.
Do hai món phiền não này, nên ý thức mới khởi hoặc tạo
nghiệp, quanh quẩn trong sanh tử luân hồi.
***
Trong
"Môn sanh diệt" có 2phần, trên đã nói về phần thuận dòng
vô minh (lưu chuyển), sanh ra các pháp sanh tử tạp nhiễm; sau
đây sẽ nói, chính nơi pháp tạp nhiễm lưu chuyển đó, để
chỉ sự trở lại thanh tịnh (hoàn tịnh) tuỳ theo trình độ
của người, hoặc mau hay chậm không đồng.
CẢNH
GIỚI NÀY DUY PHẬT MỚI BIẾT ĐƯỢC RỐT RÁO
CHÁNH
VĂN
Do
vô minh huân tập sanh ra thức. Cảnh giới này, chúng phàm phu
không thể biết được; dù cho hàng Nhị thừa dùng trí huệ
quán sát cũng không thể biết được; các vị Bồ Tát từ
Sơ tín cho đến Tam hiền (Trụ Hạnh, Hướng) phát tâm quán
sát, chỉ biết được chút ít; bực Thập địa Bồ Tát (Pháp
thân Bồ Tát) cũng chỉ biết được từng phần; cho đến
Đẳng giác Bồ Tát cũng không thể biết hết ; duy có Phật
mới biết được rốt ráo.
Tại
sao vậy?. _ Vì tâm này từ hồi nào đến giờ, tánh nó vẫn
thanh tịnh, không có vô minh; song bị vô minhnlàm nhiễm ô (bất
biến tuỳ duyên), vì thế nên rất khó biết. Bởi thế nên
chỉ có Phật mới có thể biết được cảnh giới này.
Tóm
lại, chơn tam (tâm tánh) vì thướng không vọng niệm, nên
gọi là "bất biến" (chơn như). Song chúng sanh vì không ngộ
nhập được chơn tâm (nhứt pháp giới) này, lại sanh vọng
niệm nên gọi là "vô minh".
LƯỢC
GIẢI
Người
đang chiêm bao không bao giờ biết được chiêm bao; phải thức
giấc rồi mới biết đó là cảnh chiêm bao; chúng sanh đang
ở trong vòng vô minh vọng thức, không thể biết được vô
minh vọng thức; bao giờ giác ngộ hoàn toàn, mới biết được
rốt ráo cảnh giới của vô minh vọng thức.
Do
vô minh huân tập vào chơn như, nên chơn vọng hoà hiệp biến
thành thức A lại da. Chúng phàm phu vì đang ở trong vòng thức
biến, nên không bao giờ biết được cảnh giới thức biến.
Hàng Nhị thừa tuy dùng trí huệ quán sát, phá được ngã
chấp; nhưng mây pháp chấp hãy còn dày bịt và che lối chơn
tâm, nên cũng không thể thấy được cảnh giới ấy. Các
bực Bồ Tát ở vị Tam hiền, mới phá được đôi phần phân
biệt pháp chấp; nên chỉ biết được chút ít về cảnh giới
này. Đến bực Thập địa Bồ Tát , hễ phá được một phần
vô minh, chứng được một phần pháp thân, thì thấy được
một phần của cảnh giới này, và cứ tuần tự như thế,
cho đến khi nào phá được 10 phần vô minh, thì chứng 10 phần
pháp thân và biết được cả 10 phần của cảnh giới này.
(Thập địa Bồ Tát, do phá vô minh, chứng được pháp thân,
nên gọi là "Pháp thân Bồ Tát"). Bực Đẳng giác Bồ Tát,
vì còn vi tế vô minh, nên đối với cảnh giới này, biết
cũng chưa tường tận. Đến quả vị Phật, do phá vô minh
đã sạch hết, nên mới hoàn toàn biết được cảnh giới
này; cũng như người đã hoàn toàn thức tĩnh, mới biết được
rốt ráo cảnh mê mộng.
***
Trên
đã nói nhơn duyên trở lại bản tâm thanh tịnh rồi, dưới
đây sẽ lược nói đến địa vị nào, mới đoạn được
hoặc gì, để trở lại bản tâm thanh tịnh.