Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ TƯ
CHƯƠNG
THỨ BA
PHẦN
GIẢI THÍCH NÓI VỀ NGHĨA "GIÁC"
(tiếp
theo và hết)
Nói
về nghĩa "Giác"
Bản
giác có 2 tướng:
1.
Tướng Trí tịnh
2.
Tướng Nghiệp dụng bất tư nghị
Bản
giác có 4 tướng:
1.
Như thật không
2.
Nhơn huân tập
3.
Pháp xuất ly
4.
Duyên huân tập
CHÁNH
VĂN
Bản
giác có 2 tướng
Lại
nữa, do dứt các nhiễm duyên phân biệt, nên bản giác thành
ra hai tướng: 1. Tướng trí tịnh. 2. Tướng nghiệp dụng bất
tư nghị; hai tướng này không rời bản giác.
1.
Tướng trí tịnh: (Thể): Hành giả nhờ sức huân tập và
như thật tu hành, đến khi công phu tu hành đã viên mãn, phá
trừ được thức A lại da (chơn vọng hoà hiệp) và diệt
các vọng tâm tương tục, thì pháp thân thanh tịnh hiện ra,
đặng cái trí thuần tịnh, nên gọi là "Tướng trí tịnh".
LƯỢC
GIẢI
Nhờ
dứt trừ các pháp nhiễm ô phân biệt, nên tánh giác hiện
ra có 2 tướng: 1. Bản thể sáng suốt trong sạch, gọi là
"Tướng trí tịnh".2. Diệu dụng không thể nghĩ bàn, gọi
là "Tướng nghiệp dụng bất tư nghị". Vì thể và dụng không
rời tánh giác, nên gọi "hai tướng không rời bản giác".
Bực
Tam hiền, bên trong nhờ sức chơn như huân ra, bên ngoài lại
nhờ chánh pháp huân vào, nên làm cho hành giả tự phát khởi
tín tâm tu hành.
Đến
hàng Thập địa Bồ Tát, do nhờ sức tu tập, nên ngộ nhập
được tâm chơn như, rồi y như tâm chơn như này mà tu, nên
gọi là "Như thật tu hành".
Đến
vị Đẳng giác Bồ Tát, thì sự tu hành, công đã thành quả
lại mãn; lúc bấy giờ Bồ Tát phá trừ thức hoà hiệp và
diệt tâm tương tục, nên pháp thân thanh tịnh hiện ra, đặng
trí thuần tịnh, gọi là "Tướng trí tịnh".
GIẢI
DANH TỪ
"Thức
hoà hiệp" _ Đoạn trước nói "Sanh diệt và bất sanh diệt
hoà hiệp", gọi là A lại da", nay nói "phá thức hoà hiệp"
tức là phá thức A lại da. Song chỉ phá cái "tướng hư vọng
tạp nhiễm" của thứcA lại da; không phải phá cái "thể tánh"
của thức này.
"Tâm
tương tục"_ Tâm tương tục tức là 7 chuyển thức (từ nhãn
thức đé6n Mạt ma thức). Diệt tâm tương tục, tức là diệt
"tướng" hư vọng tương tục của 7 thức trước, không phải
diệt cái "thể" của 7 chuyển thức.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:
_ Nghĩa này thế nào?
Đáp:
_ Tất cả tâm thức đều là vô minh; song cái tướng vô minh
(vọng) không rời tánh giác (chơn). Bởi thế nên không thể
phá hoại (vì không rời tánh giác), và cũng không phải không
phá hoại được (vì là tướng vô minh).
Thí
như trước biển cả (dụ tánh giác) vì gió (vô minh) nên nổi
sóng (tâm thức); sóng và gió đều động và không rời nhau;
song tánh nước chẳng động. Đến khi sóng đứng thì gió
lặng; song tánh ướt của nước không diệt.
Cũng
thế, biển tâm thanh tịnh của chúng sanh, bị gió vô minh thổi
động, nên sóng tâm thức nổi lên. Sóng tâm thức, gió vô
minh đều động, lại không hình tướng và chẳng rời nhau;
song biển chơn tâm chẳng hề chao động. Nếu gió vô minh dừng,
thì sóng tâm thức tương tục kia cũng lặng; song nước trí
thuần tịnh (chơn) không bao giờ diệt.
LƯỢC
GIẢI
Vì
vô minh sanh ra các tâm thức hư vọng, nên các tâm thức không
rời vô minh. Song vô minh lại không thật thể, chỉ nương
tánh giác mà có, nên nó không rời tánh giác. Đến khi vô
minh hết, thức tâm diệt, thì tánh giác hiện bày. Cũng như,
vì gió thổi nên tánh sóng nổi lên; sóng và gió đều động
và không rời nhau. Đến khi gió đứng sóng lặng thì tánh
nước thanh tịnh bằng phẳng hiện ra.
CHÁNH
VĂN
Tướng
nghiệp dụng bất tư nghị (Dụng). Do tướng trí tịnh đủ
vô lượng công đức và thường không đoạn tuyệt, nên có
thể tuỳ thuận theo căn cơ của chúng sanh, tự nhiên ứng
hiện ra tất cả các cảnh giới mầu nhiệm thù thắng, để
làm lợi ích cho chúng sanh.
LƯỢC
GIẢI
Từ
chơn như thể (tướng trí tịnh) khởi ra các diệu dụng (chơn
như dụng) không thể nghĩ bàn được (tướng nghiệp dụng
bất tư nghị). Nhờ diệu dụng này mới có thể hiện ra được
các cảnh giới thù thắng, tuỳ theo trình độ của mỗi loài,
làm vô lượng công đức, để lợi ích cho tất cả chúng
sanh không thể nghĩ bàn.
Ngài
Đức Thanh giải: Bản giác khi còn ở tại vỏ mê, thì chúng
sanh nương nơi đó mà tạo ra vô lượng vô biên các nghiệp,
nên kinh chép: "Nghiệp lực không thể nghĩ bàn". Nay Bản giác
đã ra khỏi vỏ mê, được thanh tịnh, thì có đủ tất cả
thần thông diệu dụng, cũng không thể nghĩ bàn được. Và
Bản giác này nghĩ ra các cảnh giới thắng diệu, làm vô lượng
công đức, tuỳ theo căn cơ của mỗi loài, ứng hiện đủ
cách, để làm lợi ích cho các chúng sanh; như Ngài Quán Thế
Âm hiện ra 32 ứng thân, 14 món vô úy ...nên gọi là "Nghiệp
dụng bất khả tư nghị" (Diệu dụng không thể nghĩ bàn).
GIẢI
DANH TỪ
"Tự
nhiên ứng hiện" _ Nghĩa là ứng hiện một cách tự nhiên,
không dụng công và cố ý. Thí như mặt trăng chiếu xuống
ao, hễ nước trong thì trăng tự nhiên ứng hiện; trăng không
có dụng công và cố tâm.
CHÁNH
VĂN
Bản
giác có 4 nghĩa
Lại
nữa, Thể và Tướng của tánh giác (chơn tâm) giống như cái
gương sáng sạch, và rộng lớn như hư không, bao trùm tất
cả. Tánh giác này có 4 nghĩa:
1.
Như thật không:Như cái gương lớn sáng sạch, không có hình
ảnh của cảnh vật (thật không). Tánh giác (chơn tâm) xa lìa
các tướng của vọng tâm và vọng cảnh (ly nhất thế tướng);
không có một pháp nào hiện ra cả; cũng như cái gương trống
không. Đây là nói về nghĩa "Tịch" (vắng lặng) của tánh
giác, không phải nói về nghĩa "chiếu".
LƯỢC
GIẢI
Vì
tánh giác viên mãn thanh tịnh, nên dụ như cái gương sáng
sạch; vì tánh giác rộng rãi bao la, nên dụ như hư không rộng
lớn. Nếu phân tách từng khía cạnh, thì tánh giác có 4 nghĩa;
đoạn này nói về nghĩa thứ nhứt:
1.
Thật không: Đây là nói về nghĩa "tịch tịnh" của Chơn tâm.
Vì Bản thể chơn tâm (tánh giác) vốn thanh tịnh, rộng rãi
bao la và ly tất cả các tướng, không thể dùng tâm thức
suy nghĩ hay lời nói luận bàn được, (cũng như cái gương
sáng sạch, không có lưu một hình ảnh gì ở trong gương cả)
tức là pháp thân thanh tịnh saün có của chúng sanh, không
phải do tu mới được.
CHÁNH
VĂN
2.
Nhơn huân tập: Như cái gương sáng lớn, hiện đủ các cảnh
(thật có). Trong tánh giác (chơn tâm) đủ các pháp (tức nhứt
thế pháp); nghĩa là tất cả cảnh giới thánh, phàm đều
hiện trong chơn tâm thường trú nầy. Nó không xuất không
nhập, không mất không hoại, vì tánh của các pháp là chơn
tâm vậy.
Lại
nữa, vì tánh giác không vọng động, nên các pháp nhiễm ô,
không thể làm nhiễm ô được; trái lại nó đủ tất cả
các pháp vô lậu và làm nhơn huân tập cho chúng sanh vậy.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
trước nói về "thể" của chơn tâm, ly tất cả các tướng,
cũng như cái gương sáng, không có một vật gì ở trong gương
(như thật không). Đoạn này nói về Tướng và Dụng của
chơn tâm đủ tất cả pháp. Cũng như cái gương sáng, các
cảnh vật đều hiện vào (như thật bất không).
Tướng
và Dụng của chơn tâm có 2 nghĩa:
1.
Đủ tất cả pháp: Tất cả chúng sanh đều saün có các pháp
vô lậu thanh tịnh, cũng gọi là "bản hữu Phật tánh" hay
"chánh nhơn Phật tánh".
2.
Nhơn huân tập: Tất cả chúng sanh đều saün có tánh Phật;
tánh Phật đủ vô lượng hằng sa công đức và thanh tịnh
không động, nên các pháp nhiễm ô không làm nhiễm ô được.
Tánh Phật này làm chánh nhơn (chánh nhơn Phật tánh) huận
tập ở bên trong, khiến cho chúng sanh giác ngộ, nhàm chán
khổ sanh tử, phát tâm cầu đạo giải thoát.
CHÁNH
VĂN
3.
Pháp xuất ly: Như cái gương đã sáng sạch, không còn bụi
nhơ. Tánh giác (tánh Phật) đã sáng suốt thuần tịnh, ra khỏi
hai chướng: Phiền não chướng, Sở tri chướng và xa lìa thức
A lại da (Chơn, Vọng hoà hiệp).
LƯỢC
GIẢI
3.
Pháp xuất ly: tức là "Liễu nhơn Phật tánh", cũng gọi là
"Chơn như xuất triền". Hành giả nhờ công phu tu tập, đoạn
trừ phiền não chướng, sở tri chướng và phá thức hoà hiệp
(A lại da), nên tánh Phật (Chơn như) không còn bị triền phược
và được sáng suốt thuần tịnh.
CHÁNH
VĂN
4.
Duyên huân tập: Như cái gương sáng, phản chiếu trở lại.
Tánh giác (Phật tánh) đã ra khỏi vỏ triềb phược rồi,
trở lại chiếu soi khắp giáp tất cả, và tuỳ theo tâm niệm
của mỗi loài mà hiện thân hoá độ, làm trợ duyên huân
tập trở lại vào tâm chúng sanh, khiến cho chúng sanh tu tập
căn lành.
LƯỢC
GIẢI
4.
Duyên nhơn Phật tánh: Do Chơn như đã xuất triền, nên có
diệu dụng không thể nghĩ bàn: Chiếu khắp tất cả và tuỳ
theo tâm niệm của chúng sanh mà thị hiện các thân hình để
hoá độ, làm trợ duyên, huân tập trở lại vào tâm chúng
sanh, khiến cho chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu theo chánh pháp.
Công
dụng cao cả và rộng lớn của Chơn như (tánh giác), chỉ
có thể thí dụ như hư không. Thể tánh sáng suốt thuần tịnh
của Chơn như (tánh giác), chỉ có thể thí dụ như gương:
dầu có bụi hay không, song chất pha lê (gương) vẫn sáng suốt,
thỉ chung như một.
(đoạn
nàyđã nói nghĩa "Giác" rồi, tiếp theo sau đây sẽ nói đến
nghĩa "Bất giác" của thức A lại da)