Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ HAI
1.
Nói về Tâm Chơn như, có 2 nghĩa:
Thật
không (như thật không)
Thật
có (như thật bất không)
A.
NÓI RÕ NGHĨA CHÁNH
CHÁNH
VĂN
Cái
tâm này (chúng sanh tâm) có hai phần: I. Tâm chơn như, II. Tâm
sanh diệt. Hai tâm này không rời nhau và đều bao trùm tất
cả pháp.
LƯỢC
GIẢI
Chương
này giải thích tâm chúng sanh là pháp Đại thừa. Pháp Đại
thừa có hia phần: Chơn như và Sanh diệt. Chơn như là "thể"
rộng lớn của tâm; Sanh diệt là "Tướng" và "Dụng" rộng
lớn của tâm. Phải phân chia làm hai phương diện như vậy,
mới rõ được Thể, Tướng và Dụng của tâm.
Nếu
đứng về "Thể chơn như", thì suy nghĩ không trúng, luận bàn
chẳng nhầm, lìa các văn tự, ly tất cả tướng; như thế
làm sao có các pháp sai biệt được. Bởi thế nên phải nói
đến Tướng và Dụng là "môn sanh diệt" mới rõ được hành
tướng sai biệt của "Tâm chúng sinh".
Chơn
như là "Thể", còn Sanh diệt là "Tướng" và "Dụng". Tướng
và Dụng không rời Thể, Thể không rời Tướng và Dụng;
cũng như nước không rời sóng, sóng không rời nước. Bởi
Thể, Tướng và Dụng không rời nhau, nên mỗi một phần đều
bao hàm được tất cả pháp.
Vì
Thể và Dụng không rời nhau, nên đứng về phần Chơn như
mà luận, thì tuy "thanh tịnh bất biến", mà vẫn tuỳ duyên
sanh diệt; còn đứng về phần Sanh diệt mà xem, thì tuy "tuỳ
duyên sai biệt" mà vẫn nhưnhư bất biến.
***
I.
Tâm chơn như
CHÁNH
VĂN
Tâm
Chơn như là cái tâm tánh bất sanh bất diệt. Thể và Tướng
nó to lớn bao trùm tất cả các pháp (nhứt pháp giới đại
tổng tướng pháp môn thể).
Sở
dĩ các pháp sai khác là do vọng niệm; nếu rời vọng niệm
thì không còn các cảnh tướng sai khác. Bởi thế nên tất
cả pháp từ hồi nào đến giờ, không thể dùng danh tự để
kêu gọi, không thể dùng lời nói luận bàn, không thể dùng
tâm suy nghĩ được, không có biến đổi và cũng không phá
hoại vì nó rốt ráo bình đẳng, chỉ có một "Tâm Chơn như"
mà thôi.
LƯỢC
GIẢI
Tâm
Chơn như này, tánh không sanh diệt và bao trùm tất cả nhơn
quả, thánh phàm, y báo chánh báo ...Bởi thế nên nguyên văn
chữ Hán gọi là "nhứt pháp giới đại tổng tướng pháp
môn thể".
Vì
vọng niệm nên thấy có tất cả các pháp sai khác; cũng như
vì mắt nhặm nên thấy có hoa đốm giữa hư không. Nếu như
lìa vọng nirệm rồi, thì không có tất cả cảnh giới sai
khác sai khác, mà chỉ còn một "Tâm Chơn như"; cũng như mắt
hết nhặm thì chỉ còn hư không một màu trong tịnh.
Bởi
tất cả pháp là "Tâm Chơn như", nên không thể phá hoại,
không thể dùng lời nói luận bàn, không thể dùng danh tự
để kêu gọi và cũng không thể dùng tâm suy nghĩ được.
Từ hồi nào đến giờ, nó rốt ráo bình đẳng, không có
sai khác. Bởi thế nên trong Khế kinh chép:
"Thị
pháp trụ pháp vị
Thế
gian tướng thường trụ"
Nghỉa
là: Pháp nào vẫn an trụ địa vị của pháp nầy; tướng
thế gian là tướng thường trụ.
GIẢI
DANH TỪ
Tâm
Chơn như: Vì tâm này không hư ngụy, nên gọi là "Chơn", không
bị thời gian thay đổi, không gian chuyển dời, từ hồi nào
đến giớ nó vẫn như thế, nên gọi là "Như". Tâm Chơn như
cũng gọi là "Chơn tâm" hay "Viên giác".
Nhứt
pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể: Câu này nghĩa
lý rất sâu rộng, xin giải sơ lược: Tâm Chơn như là Thể
chung của "Nhứt pháp giới"._Chữ "Nhứt" là chỉ cho sự bình
đẳng bất nhị, thuộc về lời nói ngăn chấp, chớ không
phải lời nói tiêu biểu. _Chữ "Giới" là chỉ cho "tâm Chơn
như" này, nó là "nhơn" là "giống" là "bản năng" sanh ra tất
cả các pháp, nên gọi là "nhứt pháp giới". Nhứt pháp giới
là toàn tánh của vũ trụ. Ở nơi nhứt pháp giới này, có
thể phân ra tổng tướng (thể) và biệt tướng (muôn pháp
sai khác).
Tâm
Chơn như là "Tổng tướng" (tướng chung) của tất cả pháp;
vì thể tánh nó bình đẳng song cũng tóm thâu tất cả tướng,
nên gọi là "Đại".
Chữ
"Pháp" nghĩa là:"giữ gìn tự tánh và làm cho người hiểu
biết". Chữ "môn" là nghĩa ra vào thông suốt. Tất cả chúng
sanh có thể do pháp môn này tu hành, đến được mục đích
cứu cánh; nếu rời "Đại tổng tướng pháp môn" này, thì
không thể đạt đến quả vị Phật. Nói tóm lại:
Nhứt
pháp giới là "Thể" của tâm Chơn như.
Đại
tổng tướng là "Tướng" của tâm Chơn như.
Pháp
môn là "Dụng" của tâm Chơn như.
CHÁNH
VĂN
Tất
cả những lời nói, đều do vọng niệm phân biệt mà sanh,
chỉ do giả danh chớ không thật thể . Cho đến danh từ Chơn
như cũng không thực; chẳng qua là một danh từ túng cùng của
lời nói, dùng để trừ bỏ các danh từ khác (vọng) mà thôi
(nhơn ngôn khiển ngôn). Song cái "Thể" của Chơn như không
thể trừ bỏ và cũng không thể dựng lập. Phải biết: Tất
cả các pháp cũng không thể trừ bỏ vì đều là "Chơn" vậy,
và cũng không thể dựng lập, vì đều là "Như" vậy. Bởi
tất cả các pháp đều là Chơn như, nên không thể nói bàn
và suy nghĩ được.
LƯỢC
GIẢI
Tất
cả những lời nói phô, đều do vọng niệm phân biệt; danh
từ chỉ là hư giả, chớ không có thật thể. Cho đến cái
danh từ Chơn như cũng là hư giả mà thôi. Danh từ Chơn như
hay Phật là danh từ túng cùng trong các danh từ tạm đặt
ra như thế để trừ các danh từ vọng nhiễm của thế gian.
Cũng như ông thầy giáo, tạm dùng tiến gõ bảng để trừ
tiếng ồn của học sinh (dĩ ngôn diệt ngôn). Đến khi tiếng
ồn của học sinh hết, thì tiếng gõ bảng của thầy giáo
cũng không còn. Cũng như khi vọng mất, chúng sanh hết, thì
Chơn như hay Phật cũng chẳng còn.
Song,
chỉ bỏ cái danh từ (Chơn như) hư giả, chớ thể tánh chơn
như thì không thể bỏ hay lấy. Cho đến các pháp cũng không
thể bỏ và lấy được. Vì các pháp đều là "Chơn", nên
không thể bỏ, và "Như" nên không thể lấy. Bởi các pháp
đều chơn như, nên không thể dùng lời nói luận bàn hay tâm
suy nghĩ đền được.
Tóm
lại, vì vọng niệm phân biệt, nên thấy có các pháp sai biệt.
Nếu vọng niệm phân biệt hết, thì tất cả các pháp không
còn những tướng sai biệt, mà đều là Chơn như. Bởi các
pháp đều là chơn như, nên nói năng không trúng, suy nghĩ chẳng
nhầm và cũng không thể lấy hay bỏ được.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:
_Nếu "Chơn như", mà không thể dùng lời nói luận bàn hay
tâm suy nghĩ, thì chúng sanh làm sao tuỳ thuận và ngộ nhận
được?
Đáp:_
Nếu người nào biết tất cả pháp, tuy có nói bàn, mà không
có "năng nói" và "sở nói"; tuy có suy nghĩ, mà không có "năng
suy nghĩ" và sở "suy nghĩ", thì người ấy được tuỳ thuận
Chơn như.
Còn
người nào lìa các niệm (vọng niệm) thì người đó được
nhập Chơn như.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này Luận chủ lập lời vấn đáp, để giải thích sự nghi
ngờ của độc giả.
Hỏi:
_ Nếu Chơn như mà không thể dùng lời nói luận bàn và tâm
suy nghĩ được thì, chúng sanh làm sao tuỳ thuận và ngộ nhập
Chơn như?
Đáp:_
Nếu người nào biết tất cả pháp, tuy có nói năng suy nghĩ,
mà không chấp nơi nói năng suy nghĩ, thì người đó được
tuỳ thuận Chơn như. Tiến lên một từng nữa, nếu người
nào lìa các vọng niệm, thì người ấy nhập được Chơn
như. Nghĩa là "Vọng" hết, thì "Chơn" hiện. Đoạn này đồng
một ý nghĩa với bốn chữ "bất tuỳ phân biệt" trong Kinh
Lăng Nghiêm.
CHÁNH
VĂN
Lại
nữa, nếu căn cứ trên danh từ (ngôn thuyết) mà phân biệt,
thì chữ Nhơn như có 2 nghĩa:
1.THẬT
KHÔNG(như thật không), tức là chỉ nói đến cái thể tánh
rốt ráo chơn thật của Chơn như. Nghĩa là: từ hồi nào đến
giờ, Chơn như không có các tâm niệm hư vọng, không có tất
cả các tướng sai biệt, nói chung là thật không có các pháp
tạp nhiễm.
Phải
biết: Chơn như phi tướng "có ", phi tướng "không"; phi tướng
"chẳng phải có", phi tướng "chẳng phải không"; phi tướng
"cũng có và cũng không"; phi tướng "một", phi tướng "khác";
phi tướng "chẳng phải một, chẳng phải khác"; phi tướng
"cũng một cũng khác".
Nói
tóm lại, vì chơn như không có tất cả các vọng niệm phân
biệt của chúng sanh, nên gọi rằng "thật không". Nếu khi
vọng tâm phân biệt hết rồi thì cũng không còn cái gì gọi
là"không" nữa.
LƯỢC
GIẢI
Đứng
về phương diện lý tánh tuyệt đối, thì Chơn như không thể
kêu gọi là gì được (ly danh tự tướng), không thể dùng
lời nói luận bàn (ly ngôn thuyết tướng) và cũng không thể
dùng tâm suy nghĩ được (ly tâm duyên tướng). Song, nếu căn
cứ trên văn tự lời nói mà luận, thì Chơn như có hai nghĩa:
1. Thật không và 2. Thật có.
Đoạn
này nói về nghĩa"thật không" (ly nhứt thế tướng), tức
là chỉ cho cái "thể Chơn như", từ hồi nào đến giờ, nó
không có các vọng niệm, không có các nhiễm pháp và không
có các tướng sai khác. Nó phi tất cả các tướng: Có, không,
chẳng phải có, chẳng phải không, cho đến phi tướng đồng,
tướng dị và tướng không đồng không dị...
Nói
tóm lại là nó không có tất cả vọng niệm phân biệt của
chúng sanh, và khi rời các vọng niệm rồi, thì cái gọi là
"không" đó cũng không còn.
CHÁNH
VĂN
2.
THẬT CÓ (như thật bất không)
tự
thể Chơn như, thật có đủ công đức vô lậu (tức nhứt
thế pháp). Bởi Chơn như không có các vọng, nên tức là Chơn
tâm. Cái Chơn tâm này thường còn không biến đổi và đầy
đủ các pháp thanh tịnh; nên nói "thật có"(bất không).
Nhưng
cái cảnh giới "thật có" này, cũng không có hình tướng gì
để nắm lấy được, vì nó lìa cá vọng niệm, nên chỉ
có người tu chứng mới biết được mà thôi.
LƯỢC
GIẢI
Trong
đoạn này nói: Chơn như có hai nghĩa, tức là ý nói Chơn như
có hai thứ. _ Đoạn trên nói về phương diện "thể tánh"
của Chơn như, thì không có các vọng niệm, không có các pháp
nhiễm ô, tức là "ly nhứt thế tướng", nên nói "thật không".
Đoạn
này nói về phương diện "tướng dụng" của Chơn như, thì
đầy đủ vô lượng hằng sa công đức, thế là "tức nhứt
thế pháp", nên nói "thật có". Nhưng cảnh giới "thật có"
này, không có hình tướng gì để chỉ bày ra được, vì đã
lìa các vọng niệm phân biệt, nên chỉ có người chứng ngộ
mới biết được thôi.