Khóa
Thứ 10 và 11
LUẬN
ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
DỊCH
NGHĨA VÀ LƯỢC GIẢI
Giảng
lần thứ nhứt tại Phật Học Đường Nam Việt
Ngày
12 tháng 9 năm Tân Sửu (11 10 61)
BÀI
THỨ NHỨT
CHƯƠNG
THỨ NHỨT
PHẦN
NHƠN DUYÊN
Nguyên
nhơn tạo luận.
Giải
thích tên Luận Đại thừa Khởi Tín.
Nội
dung của Luận này.
Ngài
Mã minh Bồ Tát tạo luận:
1.
Lý lịch và tên
2.
Nguyên nhơn ngộ đạo.
Ngài
Chơn Đế dịch luận.
Lời
nguyện cầu
NGUYÊN
NHÂN TẠO LUẬN NÀY
Trong
khoảng 600 năm, sau khi Phật nhập diệt, tại Ấn độ, phần
thì phái Tiểu thừa nổi lên tranh chấp, không tin lý Đại
thừa, phần thì ngoại đạo lập các tà thuyết phá hoại
chánh pháp; tình trạng Phật giáo rất đen tối.
Ngài
Mã Minh Bồ Tát, trông thấy tình trạng ấy rất đau lòng,
nên tạo ra luận này, để xô tà đỡ chánh: trừ những nghi
ngờ của Tiểu thừa, phá các tà thuyết của ngoại đạo,
làm cho người phát khởi lòng tin Đại thừa.
GIẢI
THÍCH TÊN LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
_ Luận.
Luận là luận bàn lẽ tà chánh, quyết đoán điều nghi ngờ
và lựa chọn những việc phải quấy.
_Đại
thừa. Chữ "Đại" là lớn, chữ "Thừa" là cởi. Đọc chữ
"Thặng" nghĩa là cái xe. Theo đây phải đọc là "Thặng" mới
đúng, song vì theo thói quen nên đọc là "Thừa".
Đại
thừa có 5 nghĩa:
1.
Vì đối với Tiểu nên gọi là Đại.
2.
Quả Phật rộng lớn, thừa này sẽ đi đến quả Phật, nên
gọi là Đại Thừa.
3.
Chư Phật là bực Đại nhơn, song chẳng rời thừa này, nên
gọi là Đại Thừa.
4.
Các Bồ Tát là bực Đại sĩ, đều y theo thừa này mà tu tập,
nên gọi là Đại Thừa.
5.
Vì thừa này rất rộng lớn, cứu độ chúng sanh đông nhiều
nên gọi là Đại Thừa.
LUẬN
NÀY LẤY GÌ LÀM ĐẠI THỪA?
Luận
này lấy tâm chúng sanh làm Đại thừa. Bởi tâm chúng sanh:
Thể nó lớn, Tướng nó to, Dụng nó đại, bao trùm tất cả
các pháp thế gian, và xuất thế gian, nên gọi là Đại Thừa.
Trọng
tâm của luận này là nói: Thể, Tướng và Dụng của tâm
chúng sanh. Vì tâm này là "Tổng tướng" (Tướng chung) của
tất cả thánh phàm, mê ngộ, nhơn quả ...cho nên trong luận
này cũng gọi là "Đại Tổng tướng pháp môn thể".
Tâm
này có nghĩa "vận tải": Các Đức Phật đều nương tâm này
mà chứng Bồ Đề, Niết bàn. Bồ Tát nương tâm này mà rộng
tu muôn hạnh: trên cầu quả Phật, dưới hoá độ chúng sanh.
Chúng sanh cũng do tâm này mà trôi lặn trong dòng sanh tử luân
hồi. Vì thế nên gọi tâm này là Đại thừa.
Do
ngộ lý này, nên cổ nhơn có làm bài kệ:
Dịch
âm:
Tam
điểm như tinh tượng
Hoành
câu tợ nguyệt tà
Phi
mao tùng thử đắc
Tổ
Phật giả do tha.
Dịch
nghĩa
Ba
chấm như ngôi sao
Uốn
cong tợ trăng tà
Chúng
sanh từ đâu có
Chư
Phật cũng do đây.
_Khởi
tín. Luận này làm cho người phát khởi lòng tin Đại thừa,
nên gọi là "Đại thừa khởi tín". Đáng lẽ phải nói: "Khởi
Đại thừa tín"; nghĩa là khởi lòng tin Đại thừa; song vì
chúng sanh sau khi thấu rõ Đại thừa rồi, mới phát khởi
lòng khởi tin, nên gọi "Đại thừa khởi tín".
NỘI
DUNG CỦA LUẬN NÀY
Ngài
Mã Minh Bồ Tát căn cứ theo kinh Lăng Già, kinh Tư Ích và các
kinh Đại thừa mà tạo ra luận này. Nội dung của luận này
là Phát minh lý Duy tâm hay Duy thức đem về nhứt tâm, vạch
rõ nguồn gốc mê ngộ, chỉ bày đường tắt tu hành, tóm
các nghĩa lý sâu rộng của Phật nói, làm cho người phát
khởi lòng tin Đại thừa.
NGÀI
MÃ MINH BỔ TÁT
LÝ
LỊCH VÀ TÊN
Ngài
Mã Minh Bồ Tát, người xứ Ba la nại, phía tây Thiên trúc
(Ấn Độ). Ngài là Tổ thứ 12 ở Thiên trúc, nối ngôi của
Tổ thứ 11 là Phú Na Dạ Xa Tôn giả.
Vì
có 3 nguyên nhơn, nên gọi Ngài là Mã Minh:
1.
Khi Ngài vừa sanh ra, thì các con ngựa trong xứ ấy đều buồn
mà kêu to lên.
2.
Ngài đờn rất hay, mỗi khi Ngài đờn thì những con ngựa
được nghe tiếng đờn đều buồn mà kêu lên.
3.
Khi thuyết pháp, các con ngựa nghe đến tiếng Ngài, đều rơi
nước mắt kêu to lên và không ăn. Mặt dù người ta thử
bỏ đói chúng vài ba ngày, rồi đến lúc Ngài thuyết pháp
mới bỏ cỏ cho ăn, nhưng chúng cũng không ăn. Bởi thế nên
gọi là Mã Minh (ngựa kêu).
NGUYÊN
NHƠN NGÀI NGỘ ĐẠO
Khi
gặp Tổ Phú Na Dạ Xa Tôn giả,
Ngài
hỏi: Làm sao biết Phật?
Tổ
đáp: Không biết là biết Phật.
Ngài
hỏi: Không biết làm sao biết là Phật?
Tổ
đáp: Không biết làm sao biết không phải là Phật.
Ngài
nói: Nghĩa của Tổ là nghĩa cưa.
Tổ
nói: Nghĩa của ông là nghĩa cây.
Tổ
hỏi tiếp: Thế nào, ông nói nghĩa của tôi là nghĩa cưa?
Ngài
đáp: Vì Tổ nói qua nói lại như cưa vậy.
Ngài
hỏi tiếp: Thế nào Tổ nói nghĩa của tôi là nghĩa cây.
Tổ
đáp: Vì cây bị cưa vậy. Thế nghĩa của ông bị tôi phá
rồi. Ngài nghe rồi liền ngộ đạo.
Trong
kinh Ma ha ma da, Phật có huyền ký (ghi trước) rằng: "Sau khi
Như Lai diệt độ 600 năm, các ngoại đạo tà thuyết thạnh
hành, huỷ diệt Phật pháp. Lúc bấy giờ có vị Bồ Tát ra
đời tên là Mã Minh, nói pháp rất hay, phá trừ tà thuyết,
hàng phục ngoại đạo".
Bởi
thế nên biết Ngài Mã Minh, cũng là một vị Bồ Tát tái lai.
Chúng ta nên học luận này, phải lấy làm hy hữu, gia tâm
nghiên cứu, chớ nên xem thường.
NGÀI
CHƠN ĐẾ
Luận
này có hai nhà dịch: Ngài Chơn dế và Ngài Thật xoa Nan đà.
Bản dịch này là của Ngài Chơn đế. Nguyên tiếng Phạn gọi
là "Ba La Mạc Đà"; Tàu dịch là "Chơn đế". Ngài ở nước
Ưu thiền ni, phía Tây Ấn Độ.
Ngài
qua Tàu nhằm đời vua Nguyên Đế nhà Lương, niên hiệu Thừa
Thánh, năm thứ ba (Mậu thìn). Ngài ở chùa Kiến Hưng, đất
Hoàng Châu, dịch bộ Luận này.
LỜI
CẦU NGUYỆN
CHÁNH
VĂN
Kính
lạy Phật, Pháp và Tăng, vì muốn cho chúng sanh bỏ chấp tà,
trừ các nghi ngờ, khởi lòng tin Đại thừa, để cho giống
Phật chẳng mất, nên con tạo ra luận Đại thừa Khởi tín
này.
LƯỢC
GIẢI
Các
vị Bồ Tát khi làm việc gì, trước nhứt là để tâm qui
kính Tam bảo; cũng như con hướng về cha, trò hướng về thầy,
dân chúng hướng về vị lãnh tụ của nước; và nguyện cầu
Tam bảo gia hộ cho việc làm của mình hợp với chánh pháp
và kết quả viên mãn.
Đoạn
này là Ngài Mã Minh Bồ Tát trước khi tạo luận, nói bài
kệ quy kính Tam bảo và nguyện cầu Tam bảo gia hộ.
CHƯƠNG
THỨ NHỨT
PHẦN
NHƠN DUYÊN
CHÁNH
VĂN
Vì
tám nhân duyên sau đây nên tạo ra luận này:
1.
Vì muốn cho chúng sanh xa lìa các khổ, đặng vui rốt ráo nên
tạo luận này, không phải vì danh lợi ở thế gian, hay cầu
người cung kính.
2.
Vì muốn cho chúng sanh hiểu biết chơn chánh, khỏi sự lầm
lạc, nên tạo luận này để giải thích nghĩa căn bản của
Như Lai.
3.
Muốn cho những chúng sanh căn lành đã thuần thục ( mãn Thập
tín), lòng tin chẳng thối lui và có thể lãnh thọ pháp Đại
thừa, nên tạo luận này.
4.
Muốn cho những chúng sanh căn lành mỏng ít (chưa mãn Thập
tín) tu tập tín tâm.
5.
Vì bảo hộ đạo tâm của những chúng sanh ác nghiệp sâu
dày, nên chỉ bày phương tiện, để chúng tiêu trừ nghiệp
chướng xa lìa các phiền não si, mạn ...và ra khỏi lưới
tà.
6.
Vì muốn đối trị tâm niệm sai lầm của phàm phu và Nhị
thừa, nên chỉ bày cho họ tu tập Chỉ Quán.
7.
Vì những chúng sanh căn tánh kém cỏi, nên chỉ bày phương
tiện chuyên tâm niệm Phật, sanh về cõi Phật, để cho tín
tâm quyết định không thối chuyển.
8.
Chỉ bày lợi ích để khuyên người tu hành.
Tóm
lại, vì tám nhân duyên trên, nên tạo ra luận này.
LƯỢC
GIẢI
Luận
này chia ra làm 5 phần, đây là phần thứ nhứt, Ngài Mã Minh
Bồ Tát vì tám nhơn duyên sau đây nên tạo ra luận này:
Nhơn
duyên thứ nhứt: Chư Phật và Bồ Tát khi làm việc gì, đều
do lòng từ bi, muốn cho chúng sanh khỏi khổ được vui. Tất
cả chúng sanh vì mê bản tâm của mình mà thọ các khổ sanh
tử, không được vui Niết bàn. Trong luận này, Ngài Mã Minh
Bồ Tát chỉ rõ bản tâm, để cho chúng sanh tự tin mình có
bản tâm thanh tịnh (pháp Đại thừa) là cái khả năng để
thành Phật. Khi chúng sanh đã ngộ được bản tâm của mình
rồi, thì sẽ hết khổ sanh tử, được vui Niết bàn. Vì thế
nên tạo ra luận này.
Nhơn
duyên thứ hai: Các đức Như Lai đều y nơi "nhứt tâm" tu hành
mà được thành đạo chứng quả. Luận này nói về "nhứt
tâm" là nghĩa căn bản của Như Lai, để cho chúng sanh hiểu
biết đường lối tu hành một cách chơn chánh, khỏi bị lạc
vào tà kiến (chấp tà).
Nhơn
duyên thứ ba: Luận chủ muốn cho hàng Thập tín Bồ Tát đối
với pháp Đại thừa, lòng tin chắc chắn, không bị thối
lui, để tiến đến bậc Thập trụ.
Nhơn
duyên thứ tư: Vì những vị Bồ Tát chưa viên mãn Thập tín,
muốn cho họ tu tập tín tâm được viên mãn.
Nhơn
duyên thứ năm: Vì những chúng sanh nghiệp chướng nặng nề,
bị lưới tà làm chướng ngại, nên tạo ra luận này để
chỉ bày phương tiện tu hành, như tụng kinh, sám hối ...hầu
diệt trừ các nghiệp chướng.
Nhơn
duyên thứ sáu: Vì đối trị tâm lầm lỗi của phàm phu và
Nhị thừa, nên Luận chủ tạo luận này, dạy tu "Chỉ" để
trừ bịnh "Vọng tưởng tán loạn" của phàm phu; và dạy tu
"Quán" để đối trị bịnh "Trầm không thú tịch" (tham luyến
cảnh thiên không Niết bàn) của Nhị thừa.
(Quán
nhơn duyên sanh, thấy các pháp chẳng không: Thánh, Phàm đủ
cả. Bởi có phàm phu nên phải tu đức đại bi để cứu đời;
vì có Thánh, nên phải phát trí huệ, để cầu quả Phật).
Nhơn
duyên thứ bảy: Vì những người lo sợ đời này tu hành nếu
không chứng quả, thì trở lại đời sau bị nghịch duyên
làm thối chuyển đạo tâm, hoặc không nhớ lại kiếp trước
để tu hành, nên tạo luận này dạy phương tiện niệm Phật,
để họ cầu sanh về cõi Phật, thường được nghe Phật
thuyết pháp và Bồ Tát khuyên tu, làm cho hành giả tín tâm
chẳng thối chuyển.
Nhơn
duyên thứ tám: Vì những chúng sanh giải đãi, nên Luận chủ
nói sự lợi ích tu hành, để khuyên người tiến tu.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:
_ Pháp Đại thừa, trong các kinh đã nói nhiều, cần gì phải
lập trở lại?
Đáp:
_ Khi Phật còn trụ thế, vì ba nghiệp của Ngài đều thù
thắng, nên một tiếng của Phật nói ra (nhứt âm diễn xướng)
tuỳ theo căn cơ của mỗi loài đều được hiểu cả, không
cần phải tạo luận. Song sau khi Phật diệt độ, các chúng
sanh trình độ không đồng đều, nhơn duyên lãnh thọ giáo
pháp cũng như sự lãnh hội của mỗi người có khác nhau:
có chúng sanh chỉ tự lực học hỏi rất nhiều kinh điển
mới hiểu ngộ; có chúng sanh cũng dùng tự lực học ít mà
hiểu ngộ nhiều; có chúng sanh không thể tự lực mà phải
nhờ xem các bộ đại luận, mới hiểu ngộ; có chúng sanh
vì thấy các bộ đại luận rất phiền phức, nên muốn tóm
lại văn ít mà thâu nhiều nghĩa. Vì thế nên Luận chủ tạo
ra luận này, để tóm tắt giáo pháp quảng đại thậm thâm
và nghĩa lý vô biên của Đức Như Lai.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này, Luận chủ lập lời vấn đáp, để giải đáp nghi vấn
của độc giả.
Đại
ý lời hỏi: Pháp Đại thừa, trong các kinh luận đã nói nhiều,
nay cần gì phải tạo luận nói lập trở lại?
Đại
ý lời đáp: Khi Phật còn tại thế do phước huệ song toàn,
ba nghiệp (thân, khẩu, ý) thù thắng; và trình độ của chúng
sanh thụ giáo cũng được ưu hạng, nên một lời của Phật
nói ra (viên âm), tất cả các loài tuỳ theo trình độ của
mình, đều hiểu được cả. Bởi thế nên không cần phải
tạo luận. Song sau khi Phật nhập diệt, người thay thế Phật
truyền giáo không được như Ngài, phần thì chúng sanh trình
độ không đồng, nhơn duyên ngộ đạo của mỗi người có
khác: Có người nhờ xem kinh mà ngộ đạo, có người nhờ
xem luận mà ngộ đạo, có người ưa nghiên cứu những bộ
đại luận, có người chỉ muốn học những quyển luận,
văn ít mà bao hàm rất nhiều ý nghĩa. Vì muốn tóm tắt các
nghĩa lý sâu rộng vô biên của Phật, nên Ngài Mã Minh Bồ
Tát tạo ra luận này.
CHƯƠNG
THỨ HAI
PHẦN
ĐỊNH DANH NGHĨA
CHÁNH
VĂN
Chương
này có hai phần:
A.
PHÁP ĐẠI THỪA (Thể Đại thừa) tức là tâm chúng sanh. Tâm
này tóm thâu hết thảy các pháp thế gian, xuất thế gian và
nói lên được nghĩa Đại thừa.
Tại
sao vậy? _ Vì tâm này có hai tướng:
1.
Tướng Chơn như tức là cái Thể của Đại thừa.
2.
Tướng nhơn duyên sanh diệt tức là Thể, Tướng, Dụng của
Đại thừa.
B.
NGHĨA ĐẠI THỪA: "Đại" là lớn, lớn cà 3 phương diện:
1.
Thể lớn: Chơn như bình đẳng, bất tăng bất giảm. Bản
thể của tất cả pháp.
2.
Tướng lớn: Như Lai tạng chứa đầy vô lượng tánh công
đức.
3.
Dụng lớn: Vì nó sanh tất cả nhơn quả lành của thế gian
và xuất thế gian.
"Thừa"
là chiếc xe, tất cả chư Phật đều đi xe này (pháp Đại
thừa); tất cả các vị Bồ Tát cũng đều đi xe này mà đến
chỗ Phật.
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
này nói về phần lập nghĩa, tức là xác định cái danh nghĩa
Đại thừa. Phần lập nghĩa này chia làm hai: Pháp Đại thừa
và Ngiã Đại thừa.
I.
Pháp đại thừa: là tâm chúng sanh.
Tâm
này có hai tướng:
1.
Tướng Chơn như tức là chỉ riêng về phần thể tánh chơn
tâm thanh tịnh; dụ như "tánh trong sạch" của nước.
2.
Tướng nhơ duyên sanh diệt tức là chỉ chung cho Thể, Tướng
và Dụng của chơn vọng hoà hợp; dụ như tánh "trong sạch"
và "tướng nhơ đục" lẫn lộn của nước.
II.
Nghĩa đại thừa: Đại thừa nghĩa là gì?
"Đại"
là lớn; "Thừa" (thặng) là chiếc xe: chiếc xe lớn.
Tâm
chúng sanh, Thể, Tướng và Dụng đền lớn. Thể thì bao trùm
tất cả pháp, Tướng thì chứa đựng hằng sa công đức,
còn Dụng thì xuất sanh tất cả pháp thế gian và xuất thế
gian.
Khế
kinh chép: "Vô bất tùng thử pháp giới lưu, mạc bất hoàn
qui thử pháp giới, (không có một pháp nào chẳng từ tâm
này má lưu xuất, và cũng không có một pháp nào chẳng trở
về tâm này).
Tâm
này bao trùm tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian.
Các Đức Phật đều nương tâm này mà được thành đạo.
Các vị Bôtát cũng nương tam này để đến chỗ Phật. Chúng
sanh cũng do tâm này mà luân hồi trong 6 đường. Tâm này cũng
như chiếc xe lớn chở tất cả người và vật. Bởi thế
nên gọi tâm này là pháp Đại thừa.
Tại
sao không nói: "Tâm phật" là pháp Đại thừa mà chỉ nói "Tâm
chúng sanh", là pháp đại thừa?_ Vì có hai lý:
1.
Nếu nói "Tâm Phật" thì chỉ tóm thâu được pháp thanh tịnh
vô lậu mà thôi; còn nói "Tâm chúng sanh", lại tóm thâu được
cả pháp hữu lậu, vô lậu, thế gian và xuất thế gian.
2.
Nói Tâm chúng sanh là đứng về phần "nhơn" mà nói; vì chưa
phải nhiễm hay tịnh, nên mới có thể tuỳ nhiễm duyên khởi
ra nhi6ẽm pháp, tuỳ tịnh duyên khởi ra tịnh pháp.
GIẢI
DANH TỪ
Tướng
chơn như: Chữ "Chơn" là chơn thật không hư dối; chữ "Như"
là bình đẳng như như, không sanh diệt, nghĩa là tướng chơn
thật bình đẳng như như không sanh diệt; tức là "Thật tướng"
hay "Chơn tâm" hay "Viên giác" đây ;à cái "Thể của Đại thừa".
Đoạn này gọi "Tướng chơn như" tức là ở đoạn văn sau
gọi " Môn chơn như".
Tướng
nhơn duyên sanh diệt: Vì nhơn duyên sanh diệt, nên đủ cà
các tướng: nhiễm, tịnh, thánh, phàm v.v...Đoạn này gọi
"Tướng nhơn duyên sanh diệt" tức là ở đoạn văn sau gọi
"Môn sanh diệt".
Như
Lai tạng, có 3 nghĩa:
1.
Tánh Như Lai (tánh Phật) bị các phiền não phú tàng (che đậy),
tức là chỉ cho chơn như còn bị triền phược; như vàng còn
ở trong khoáng.
2.
Tánh Như Lai bao trùm tất cả pháp (nghĩa năng tàng)
3.
Tánh Như Lai là chỗ xuất sanh ra vô lương công đức (nghĩa
sở tàng).
Tánh
công đức: Công đức saün có trong Như Lai tàng. Công đức
này không phải do tu tập mà được; song phải nhờ sự tu
tập làm trợ duyên nó mới hiện. Chúng sanh vì thiếu sự
tu tập làm trợ duyên, nên tánh công đức này không phát hiện.
Nhơn
quả lành_ Tại sao luận này chỉ nói "nhơn quả lành" mà không
nói đến "nhơn quả ác"?
_ Vì
có ba nghĩa:
1.
Nhơn quả ác là thứ nhiễm ô hư vọng; vì tâm này chỉ bao
trùm vô lượng hằng sa công đức, nên không hiệp với thứ
nhiễm ô hư vọng. Dụ như nước có cả chất trong và đục;
song "chất đục" không hợp với tánh nước, mà "chất trong"
mới hiệp với nước; vì khi lóng bỏ bùn rối thì chỉ còn
chất nứơc trong. Cũng thế, pháp nhiễm ô không hiệp với
tâm này, mà duy có nhơn quả lành mới hiệp với tâm này.
2.Ngài
Mã Minh chỉ nói về "Nhơn quả lành", là vì để chúng sanh
thấy tâm mình sanh ra các nhơn quả lành, nên sanh tâm hâm mộ
sự tu hành, mong cầu quả Phật.
3.
Ngài Mã Minh Bồ Tát đã lên Thánh vị, nên trong A lại da thức
của Ngài chỉ toàn nhơn quả lành. Vì Ngài chỉ thấy thuần
thiện, nên Ngài chỉ nói "nhơn quả lành" mà không nói đến
"nhơn quả ác".
Nhơn
quả lành thế gian: Nhơn quả thuộc về hữu lậu thiện, còn
quanh quẩn trong ba cõi thế gian là Dục giới, Sắc giới và
Vô sắc giới.
Nhơn
quả lành xuất thế gian: Nhơn quả thuộc về vô lậu thanh
tịnh, ra ngoài tam giới.