PHẬT
HỌC PHỒ THÔNG KHOÁ THỨ IX
(DUY
THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
TẬP
BA
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Ngài
THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài
HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông
ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lượt giải.
NHƠN
MINH LUẬN
BÀI
HỌC THUỘC LÒNG
(Quí
vị muốn học Nhơn minh luận được dễ hiểu, trước phải
học thuộc lòng những danh từ sau đây)
Nhơn
minh nhập chánh lý luận, nội dung có ba phần (tam chi): Tôn,
Nhơn, Dụ.
Tợ
"Tôn" có chín lỗi:
5 Tôn
này đều bị lỗi "trái với tự tướng của các pháp":
1.
Hiện lượng tương vi
2.
Tỷ lượng tương vi
3.
Tự giáo tương vi
4.
Thế gian tương vị
5.
Tự ngữ tương vị
3
Tôn này đều bị lỗi "bất thành"
6.
Năng biệt bất cực thành
7.
Sở biệt bất cực thành
8.
Câu bất cực thành
9.
Tương phù cực thành (Tôn này lập không có hiệu qua)
Tợ
"Nhơn" có 4 lỗi, phân làm 3 phần:
I.
Bất thành có 4 lỗi
1.
Lưỡng câu bất thành
2.
Tuỳ nhứt bất thành
3.
Dụ dự bất thành
4.
Sở y bất thành
II.
Bất định có 6 lỗi
1.
Cộng bất định
2.
Bất cộng bất định
3.
Đồng phẩm nhứt phần chuyển,
Dị
phẩm biến chuyển bất định
4.
Dị phẩm nhứt phần chuyển,
Đồng
phẩm biến chuyển bất định.
5.
Câu phẩm nhứt phần chuyển bất định
6.
Tương vị quyết bất định
III.
Tương vi có 4 lỗi
1.
Pháp tự tướng tương vi
2.
Pháp sai biệt tương vi
3.
Hữu pháp tự tướng tương vi
4.
Hữu pháp sai biệt tương vi
Tợ
Dụ có 10 lỗi, phân làm 2 phần:
I.
Tợ đồng có 5 lỗi
1.
Năng lập pháp bất thành
2.
Sở lập pháp bất thành
3.
Câu bất thành
4.
Vô hiệp
5.
Đảo hiệp
II.
Tợ dị dụ có 5 lỗi
1.
Sở lập pháp bất khiển
2.
Năng lập pháp bất biến
3.
Câu bất khiển
4.
Bất ly
5.
Đảo ly.
NHƠN
MINH LUẬN CƯƠNG YẾU
NHƠN
MINH LUẬN TỪ ĐÂU MÀ CÓ?
Trước
thời Phật Thích Ca giáng sanh (chưa rõ xác thật là bao nhiêu
năm),ở Ấn độ có nhiều phái
ngoại
đạo, tranh chấp nhau bằng lý thuyết. Ông Túc Mục Tiên nhơn
là một trong các vị
Tổ
của các phái, lập ra pháp luận lý này, để bác các đạo.
Phương pháp này được tín dụng và
đắc
lực trong thời kỳ ấy.
Đến
khi Phật ra đời, thấy Nhơn minh là một môn luận lý có qui
tắc, vừa đúng lý và vừa hợp thời,
được
công chúng thừa nhận, nên Phật cũng dùng lối lý luận này
để bác các ngoại đạo tà giáo
đem
về chánh lý.
Sau
khi Phật nhập diệt, độ khoảng 600 năm, có Ngài Mã Minh và
Long thọ, hai vị Bồ Tát ra
đời
ở Ấn độ, sưu tập lại, phân làm năm phần: Tôn, Nhơn,
Dụ, Hiệp, Kết.
Về
sau Ngài Trần Na Bôtát, cải cách lại, thành lập Nhơn minh
luận có 3 phần: Tôn, Nhơn,
Dị
và viết ra bộ "Nhơn minh nah65p chánh lý luận". Từ ngài Trần
Na về trước,
người
ta gọi là: "Cổ Nhơn minh"; từ Ngài Trần Na về sau là: "Tân
Nhơn minh".
Đến
đời Đường, Ngài Huyền Trang Pháp sư (người Trung hoa) sang
Ấn dộ học Phật pháp,
rất
tinh thông về môn học này. Ngài đã nhiều lần lên luận
đàm, dùng lối lý luận Nhơn minh
này
mà biện luận, làm cho cả Ấn độ 18 nước đều kính phục.
Sau
khi trở về nước, Ngài dịch lại và truyền bá trong nước
Trung hoa.
Vì
sự đòi hỏi của tín đồ, nên tôi (Sa môn Thích Thiện Hoa)
phỏng dịch và chú giải bằng chữ Việt.
SAO
GỌI LÀ "NHƠN MINH NHẬP CHÁNH LÝ LUẬN?"
Nhơn
minh luận là một luận lý tối cổ ở Á đông, vừa đúng
lý, vững chắc và vừa có qui tắc.
Điều
cố yếu là phải rành rõ "nguyên nhân" hay "lý do vì sao", thì
lối luận lý mới chơn chánh
và
đúng đắn, nên gọi là "Nhơn minh nhập chánh lý luận".
Vì
nhờ "Nhơn" mới rõ được Tôn, nhờ "Nhơn" mới lập được
Dụ. Bởi "Nhơn" rất trọng yếu
như
vậy, nên gọi là "Nhơn minh", mà không gọi là "Tôn minh hay
Dụ minh. Nhơn minh là một
trong
ngũ minh
NỘI
DUNG CỦA NHƠN MINH
Nội
dung của Nhơn minh luận chia làm 3 phần: Tôn, Nhơn, Dụ. Theo
Cổ Nhơn minh có thêm
2
phần: Hiệp và Kết là 5 phần:
Cổ
Nhơn minh :
1.
Tôn: Nhơn loại đền phải chết.
2.
Nhơn: Vì có sanh vậy.
3.
Dụ: Như loài vật
4.
Hiệp: Phàm có sanh phải có chết
5.
Kết: Loài vật có sanh, nên loài vật phải có chết;
nhơn
loại có sanh, nên nhơn loại phải có chết.
Tân
Nhơn minh
1.
Tôn: Nhơn loại đền phải chết.
2.
Nhơn: Vì có sanh vậy.
3.
Dụ: Phàm có sanh phải có chết, như loài vật.
***
A.TÔN
Phàm
nói ra một câu gì, hày trình bày một lập thuuyết gì, cái
lập thuyết ấy gọi là Tôn.như nói:
Tôi
ăn cơm.
Tôn
có nhiều tên, như:
1.
Tiền trần(danh từ trước) cũng gọi: Hữu pháp, Tự tướng,
Sở biệt.
2.
Hậu trần (danh từ sau) cũng gọi: Pháp, Sai biệt, Năng biệt.
Thí
dụ như nói: Tôi ăn cơm
Tôi
Tiền trần(danh từ trước), Hữu pháp, Tự tướng, Sở biệt.
ăên
cơm Hậu trần (danh từ sau), Pháp, Sai biệt, Năng biệt.
TÔN
CÓ TÔN Y VÀ TÔN THỂ
I.Tôn
y gồm có 2 phần
1.
Tiền trần:Hữu pháp, Sở biệt và Tự tướng
2.
Hậu trần: Pháp, Năng biệt và Sai biệt.
II.
Tôn thể._Cổ Nhơn minh (từ Ngài Trần Na về trước) lấy
Tiền trần làm Tôn y, Hậu trần làm
Tôn
thể.
Tân
Nhơ minh (từ Ngài Trần Na về sau) cho Tiền trần và Hậu trần
là vẫt kiện để lập Tôn,
nên
đều là Tôn y. Hai vật kiện ấy hợp chung lại thì gọi là
Tôn thể.
CHÍN
LỖI VỀ TỢ TÔN
Phàm
lập Tôn phải tránh chín lỗi sau đây, thì cái Tôn ấy mới
đúng đắn, mới đủ tư cách để
thành
lập luận thuyết của mình, hoặc bác thuyết của người
khác. Chín lỗi gồm có:
1.
Hiện lượng tương vi._Lập cái tôn, trái với cảm giác hiện
tiền. Như hiện tiền ai cũng hiểu
biết
rằng: Mũi ngửi mùi, tai nghe tiếng v.v...Nay lại lập cái Tôn
rằng:
Tôn
1.
Tai tôi nghe mùi thơm
2.
mắt tôi thấy tiếng nói v.v ...
Vì
nói như vậy là trái với sự hiểu biết hiện tại; vừa
nói ra, người ta thấy mình nói sai rồi.
Tôn
đã sai thì làm sao lập được "Nhơn" và "Dụ".
2.
Tỷ lượng tương vi._ Lập cái Tôn rái với sự "so sánh phân
biệt". Theo sự so sánh hiểu biết
của
người: Phàm là người, ai cũng phải chết, như các vị tiền
nhân đã chết. Và phàm vật gì có
hình
phải có hoại, cũng nhu bao nhiêu vật đã hoại trước. Nay
lại lập Tôn rằng:
Tôn
1.
Tôi sống hoài không chết.
2.
Cái nhà tôi không bao giờ hư.
Lập
Tôn như vậy là trái với sự "so sánh phân biệt" của người,
nên có lỗi.
3.
Tự giáo tương vi._ Lập cái Tôn, trái với giáolý của mình
tôn thờ. Nói rộng ra là trái với chủ
nghĩa,
đảng phái, gia đình, quốc gia hay một lý thuyết mà mình
đương tôn trọng.
Như
trong Đạo Phật nói "Chúng sanh có quả báo luân hồi". Và
nói "Có thế giới cực lạc ở
phương
Tây v.v...". chúng ta là Phật tử lại lập cái Tôn rằng:
Tôn
1.
Chúng sanh không có luân hồi quả báo
2.
không có nước cực lạc.
Ngoại
nhơn hỏi lại: "Ông nói như vầy, thì mâu thuẩn với Tôn
giáo của ông. Vậy ông nói
đúng
lý, hay Tôn giáo của ông đúng lý? Nếu Tôn giáo ông dạy
đúng lý, thì lời nói ông sai,
còn
lời nói của ông đúng lý thì Tôn giáo của ông sai. Vậy
ông nhìn nhận cái nào đúng?"
Họ
không cần bác mà mình cũng bị thua.
4.
Thế gian tương vi._ Lập cái Tôn, trái với phong tục, tập
quán và sự hiểu biết của thế gian.
Thế
gian có 2 hạng người: Có học thức và không học thức.
Nếu
đối với người có học thức mà chúng ta lập cái Tôn như
vầy:
Tôn
1.
Ông Thiên lôi đánh anh Xoài chết
2.
Bịnh ho lao không phải do vi trùng gây nên.
Lập
cái Tôn như thế, bị lỗi trái với thế gian, với những
người có hoc thức (Khoa học).
Vì
khoa học (người có học thức) nói "bịnh ho lao do vi trùng
gây nên", và không công nhận
có
ông Thiên lôi. Chúng ta nói như thế, sẽ bị họ chê là người
không có học thức.
Trái
lại, nếu đối với thế gian người vô học, mà chúng ta
lập cái Tôn như vầy, cũng bị lỗi
thế
gian tương vi.
Tôn
1.
Không có ông Thần ban phuớc giáng hoạ.
2.
Bịnh ho lao phát sinh do vi trùng.
Bởi
thế người thế gian vô học, họ tin có ông Thần ban phước
giáng hoạ và họ không biết vi trùng.
Mặt
dù chúng ta nói phải, nhưng thiếu những lời lẽ khôn khéo
ngăn đón, nên họ không công nhận.
Bởi
họ không công nhận, nên lời nói sau của mình không giá trị,
vì thế nên mới bị lỗi
"Thế
gian tương vi".
5.
Tự ngữ tương vi._ Lập cái Tôn mà lời nói sau của mình,
tự mâu thuẩn với lời nói trước
của
mình. Như lập:
Tôn
1.
Vật này bao nhiêu mà rẽ vậy?
2.
Ông này mù mà cái chi cũng thấy hết.
Đã
không biết giá là bao nhêu, tại sao biết rẽ? Đã là mù thì
tại sao cái chi cũng thấy.
Lời
nói của mình tự mâu thuẫn với lời nói của mình. Chính
mình cũng thấy sai, thì ai
công
nhận là phải.
6.
Năng biệt bất cực thành._ Lập cái Tôn mà "danh từ sau" bên
đối phương không công nhận.
Như
đối với Pht học hay khoa học mà lập cái Tôn như vầy:
Tôn
1.
Thế giới này (danh từ trước) do Thần Tạo vật (danh từ
sau) sanh.
2.
Anh Ồi (danh từ trước) bị Thiên lôi (danh từ sau) đánh.
Phật
học và khoa học đồng nhận Thế giới và anh Ồi; nhưng không
bao giờ nhận có
"Thần
Tạo vật" và "Thiên lôi". Bởi đối phương không công nhận
nên bị lỗi "bất thành".
7.
Sở biệt bất cưc thành._ Lập cái Tôn mà "danh từ trước"
bên đối phương không công nhận.
Như
đối với Phật học và khoa học, lập như vầy:
Tôn
1.
Thần Tạo vật (danh từ trước) sanh ra loài người.
2.
Thái cực (danh từ trước) sanh ra vạn vật.
Loài
người và vạn vật là hai danh từ sau, thì cả Phật học
và khoa học đều nhhận có: còn
Thần
Tạo vật và Thái cực là hai danh từ trước, thì Phật học
cũng như khọc học đều không công nhận, nên bị lỗi "bất
thành".
8.
câu bất cực thành._ Lập cái Tôn mà "danh từ trước" và
"danh từ sau", bên đối phương
đều
không nhìn nhận. Như đối với khoa học mà lập như vầy:
Tôn
1.
Cốc thần, Thái cực tức là chơn như
2.
Thần Tạo vật chính là Thái cực.
Bên
khoa học không nhìn nhận danh từ trước là "Cốc thần, Thái
cực hay Thần Tạo vật" và cũng
không
nhìn nhận danh từ sau là "Chơn như hay Thái cực". Phàm lập
luận mà bên đối phương
không
hiểu, hoặc hiểu mà không nhìn nhận, thì không thể lý luận
được nữ. Nên bị lỗi "bất thành".
Tóm
lại, ba lỗi bất thành này (Năng biệt, Sở biệt và Câu bất
thành) bên đối phương không hiểu,
hoặc
hiểu mà không công nhận. Bởi hai nguyên nhơn:
1.
Lập không đúng.
2.
Lập đúng mà thiếu lời khôn khéo giản biệt, nên bị lỗi
ấy.
9.
Tương phù cực thành._ Lập cái Tôn mà trùng ý kiến với
bên đối phương. Như lập:
Tôn
1.
Cơm ăn no bụng.
2.
Nước uống đã khác.
Phàm
cĩa nhau là vì hai bêb ý kiến không đồng. Nếu bên khách
đã nhìn nhận như mình, mà mình
còn
lập thêm cxái tôn ra nữa thì vô ích, nên bị lỗi "tương
phù" (trùng điệp).
Trong
9 lỗi về Tôn, tứ 1 đến 5 là thuộc về lỗi "tươmng vi";
từ 6 đến 8 là thuộc vể lỗi "Bất thành".
Lỗi
thứ 9 vì lập trùng điệp, nên không có hiệu quả. 9 lỗi
về tợ Tôn, giải thích đã rồi, bây giờ sẽ nói 14 lỗi
về tợ Nhơn.
PHỤ
BÀI HỌC ÔN
(ÔN
LẠI 9 LỖI VỀ TỢ TÔN)
Quý
vị nên xét kỹ, những câu sau này, đối với 9 lỗi trong
tợ Tôn, thuộc về lỗi gì?
1.
Mẹ tôi không có chồng.
2.
Không có Trời Đất Quỷ Thần.
3.
Không Nhơn quả, Luân hồi.
4.
Không Thiên đường và Địa ngục.
5.
Trời sanh muôn loại.
6.
Trời không luân hồi.
7.
Minh sơ sanh Thần ngã.
8.
Vò vò bắt sâu làm con của nó.
9.
Tai nghe mùi thơm.
10.
Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi.
11.
Tôi trường sanh bất tử.
12.
Vật này bao nhiêu mà rẻ vậy.
13.
Ông mù này, cái chi cũng thấy.
14.
Ngựa đua dưới nước, tàu chạy trên bờ.
***
B.
NHƠN
Nhơn
là nguyên nhơn hay lý do. Phàm một sự vật hay câu nói gì,
cũng đều có nguyên nhơn
hay
lý do cả.
Như
nói
Tôn
: Tôi muốn ăn cơm.
Nhơn:
Vì tôi đói bụng vậy (lý do).
Phàm
cái "Nhơn" nào đủ cả ba tánh chất sau đây, mới đúng đắn.
Trái lại, nếu thiếu một,
thiếu
hai, hoặc thiếu ba, thì cái Nhơn ấy có lỗi. 14 lỗi về Nhơn
sau này,
cũng
bởi thiếu một, hai hoặc ba tánh chất sau đây. Vậy quý vị
nên nhớ kỹ ba tánh chất của Nhơn.
1.
Biến thị Tôn pháp tánh. _ Nghĩa là: Cái Nhơn phải bao trùm
cả Tôn (tánh chất thứ nhứt).
Biểu
Như Tôn : Tôi muốn ăn cơm.
lập
Nhơn:Vì tôi đói bụng vậy.
Cái
Nhơn "Vì tôi đói bụng" này, nó trùm được danh từ trước
của Tôn là "Tôi muốn";
và
cũng trùm được danh từ sau của Tôn là "Ăn cơm".
Nhơn
trùm cả Tôn
Nghĩa
là: Vì tôi đói bụng, nên "tôi muốn"; và vì tôi đói bụng,
nên "tôi ăn cơm".
2.
Đồng phẩm định hữu tánh._ Nghĩa là cái Nhơn quyết định
phải hoàn toàn hoặc ít nhứt là phải
có
một phần liên quan với Đồng dụ. Nó phải là đồng một
tánh chất như Đồng dụ (tánh chất
thứ
hai của Nhơn).
BIỂU
Tôn: Tôi muốn ăn cơm
Như
Nhơn: Vì đói bụng vậy
lập
Đồng dụ: Như anh A (đói bụng
và
muốn ăn cơm)
"Như
anh A " là đồng dụ. Nghĩa là anh A cũng "vì đói bụng" (Nhơn)
nên "muốn ăn cơm" (Tôn).
Nhơn
trùm cả Tôn và liên quan
Với
Đồng dụ
Cái
Nhơn "vì đói bụng" này, hoàn toàn liên quan với Tôn và Đồng
dụ (thí dụ thuận).
3.
Dị phẩm biến vô tánh._ cái "Nhơn" này đối với Dị dụ
(thí dụ về bề trái) phải hoàn toàn
không
liên quan; nghĩa là tánh chất của Nhơn, phải hoàn toàn không
có trong Dị dụ mới được
(tánh
chất thứ ba của Nhơn).
BIỂU
Tôn:
Tôi muốn ăn cơm
Như
Nhơn: Vì đói bụng vậy
lập
Đồng dụ: Như anh A (đói bụng, muốn ăn)
Di
dụ: Như anh B (no bụng
không
muốn ăn)
Cái
Nhơn "vì đói bụng" này, đối với Dị dụ hoàn toàn không
có liên quan; nghĩa là:
anh
B (Dị dụ) đã no bụng (trái với Nhơn: đói bụng), nên không
muốn ăn (trái với Tôn: muốn ăn).
Nhơn
này trùm cả Tôn và
Đồng
dụ, còn Dị dụ thì
không
liên quan đến Tôn và Nhơn.
14
LỖI VỀ NHƠN
phàm
lập cái "Nhơn", phải tránh 14 lỗi sau này, thì cái "Nhơn"
ấy mới hoàn toàn đúng đắn,
chia
làm 3 loại:
1.
BỐN LỖI BẤT THÀNH:
1.
Lưỡng câu bất thành._ Lập cai Nhơn mà cả chủ và khách
đều không nhìn nhận.
Như
lập Tôn: con rắn Hổ mây chạy mau
Nhơn:
Vì nó có chân vậy (nguyên nhơn)
Cả
chủ và khách đều không nhìn nhận "rắn hổ có chân". Nay
lại lập cái Nhơn "vì có chân",
nên
cái Nhơn này chẳng thành.
2.
Tuỳ nhứt bất thành._ Phàm lập cái Nhơn, phải chủ và khách
hai bên đều công nhận, ít nhứt
là
một bên khách phải có công nhận, thì cái nhơn ấy mới thành.
Nay cái Nhơn này bên khách
không
công nhận nên bị lỗi "Tuỳ nhứt bất thành". Như đối với
nhà Khoa học mà lập như vầy:
Như
lập Tôn: Vò vò không sanh con (t rứng)
Nhơn:
Vì nó bắt sâu làm con vậy.
Theo
Khoa học nói con Vò vò đẻ trứng trong tổ, rồi bắt sâu
nhét vào làm mồi, để cho
con
nó khi nở ra có mồi ăn. Nay lập cái Nhơn "bắt sâu làm con"
thì bên khách (Khoa học)
không
công nhận, nên bị lỗi.
3.
Dự dự bất thành._ cái Nhơn dụ dự chẳng nhứt định, nên
không thành. Như ở xa thấy mù mù,
không
rõ đó là sương mù hay khói mù, lại lập như vầy:
Như
lập Tôn:Chỗ kia có lữa
Nhơn:
Vì có mù (mây mù)
Bởi
cái Nhơn này có thể lập được cả hai Tôn, vừa "có lữa"
và vừa "không có lữa",
dụ
dự không nhứt định, nên bị lỗi "bất thành".
4.
Sở y bất thành._ Chỗ y cứ của mình, bên khách không công
nhận. Như tín đồ Nhứt
thần
giáo đối với khoa học hoặc Phật giáo mà lập như vầy:
Như
lập Tôn: Thần sanh ra mọi vật
Nhơn:
Vì trong kinh của Đạo tôi nói vậy.
Phải
là tín đồ của Tôn giáo họ, mới nhìn nhận kinh của Đạo
họ là đúng. Còn đối
với
khoa học hay Phật giáo, không nhìn nhận kinh sách của họ,
mà y cứ nơi kinh sách
đó
để lập luận với người ngoài Đạo mình, nên bị lỗi
"sở y ất thành".
Một
tỷ dụ thứ hai: Theo trong Nhơn minh có lập cái lượng như
vầy:
Như
lập Tôn: Hư không thật có
Nhơn:
Vì muôn vật đều y hư không vậy.
Phái
"vô không luận", họ chẳng công nhận "thật có hư không".
Nếu với phái này, mà lập cái
Nhơn
như vậy thì bị lỗi "sởy bất thành".
Bốn
lỗi "bất thành" đã nói rồi, bây giờ sẽ nói đến sáu
lỗi "bất định"
II.
SÁU LỖI BẤT ĐỊNH:
1.
Cọng bất định._ cái Nhơn này liên quan cả Đồng dụ và
Di dụ, nên bị lỗi "không nhứt định"
BIỂU
Tôn:
Anh A đau
Nhơn:
Vì ăn xoài sống
Như
Đồng dụ: Như anh B
Lập
(ăn xoài sống và đau)
Dị
dụ: Như anh D
(ăn
xoài sống, không đau)
Nếu
nói anh A "vì ăn xoài sống" mà đau như anh B, thì tại sao anh
D cũng "ăn xoài sống"
mà
lại không đau? Bởi thế nên người ta có thể lập cái Tôn
ngược lại rằng:
Tôn:
Anh D không đau
Nhơn:
vì ăn xoài sống
Như
lập Đồng dụ: Như anh D (ăn xoài sống và không đau)
Dị
dụ: Như anh A (ăn xoài sống, đau)
người
ta có thể nói rằng: Vậy thì "vì ăn xoài sống" mà bị đau
như anh A, hay "vì ăn xoài sống"
mà
không đau như anh D?
Bởi
lập cái Nhơn bất định như vậy nên có lỗi.
2.
Bất cọng bất định._ Cái nhơn này không có liên quan với
Đồng dụ.
BIỂU
Tôn:
Tiếng là thường còn
Nhơn:
vì tai nghe vậy
Như
Đồng dụ: Như hư không
Lập
(tai không nghe)
Dị
dụ: Như cỏ cây (tai không nghe).
Cái
Nhơn "vì tai nghe" này, đối với "Đồng dụ" và Dị dụ đều
không có liên quan chút nào cả,
nên
cũng bị lỗi "bất định". Bởi cái nhơn này người ta có
thể lập ngược lại như vầy:
Tôn
: Tiếng là vô thường
Như
Nhơn : Vì tai nghe vậy
lập
Đồng dụ: Như cỏ cây (vô thường)
Dị
dụ : Như hư không (thường còn)
Vậy,
"vì tai nghe" mà tiếng nói thường còn như hư không? Hay "vì
tai nghe" mà tiếng nói
vô
thường như cỏ cây? Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi "bất
định".
3.
Đồng phẩm nhứt phần chuyển, Dị phẩm biến chuyển bất
định:
BIỂU
Tôn
: Chỗ kia có khói Nhơn: Vì có lửa vậy
Như
Như lửa rượu alcool
Đồng
dụ: (có lửa, không khói)
Lập
Như lửa ở nhà bếp
(có
lửa, có khói)
Dị
dụ: Như lửa ở nhà bếp
(có
lửa, có khói).
Nếu
cái Nhơn "vì có lửa", dụ như lửa ở nhà bếp, thì Tôn này
có "khói"; còn "vì có lửa",
dụ
như lửa rượu, thì cái Tôn này "không khói". Vì cái Nhơn
này, đối với Tôn "có khói" hay
"không
khói" đều không nhứt định, nên cái Nhơn này có lỗi bất
định. Bởi người ta có thể
lập
ngược lại như vầy:
Tôn
: Chỗ kia không khói
Như
Nhơn : Vì có lửa vậy
lập
Đồng dụ: Như lửa Alcool (có lửa, không khói)
Dị
dụ : Như lửa ở nhà bếp (có lửa, có khói)
4.
Dị phẩm nhứt phần chuyển, Đồng phẩm biến chuyển bất
định:
cái
Nhơn này đối với Dị dụ, có dính líu một phần, còn đối
với Đồng dụ thì phải hoàn toàn
dính
líu, nên cái Nhơn này cũng bị lỗi "bất định".
BIỂU
Tôn : Con khỉ leo cây giỏi
Nhơn:
Vì có hai tay.
Như
Đồng dụ: Như con
Dị
dụ _ Như con bò (không tay, không biết leo)
_ Như
con rắn (không tay, leo cây giỏi).
Phàm
Đồng dụ thì phải hoàn toàn liên quan cả Tôn và Nhơn; còn
Dị dụ thì hoàn toàn không
dính
líu gì đến Tôn và Nhơn, như thế mới đúng.
Nay
cái Nhơn này, đối với Dị dụ bị dính líu hết mốt phần.
Bởi thế cái tánh chất thứ ba của
Nhơn
là "Dị phẩm biến vô tánh", nên bị lỗi; vì khách có thể
hỏi lại rằng: "Vì không tay,
nên
leo cây giỏi như con rắn"; hay vì không tay, nê "chẳng biết
lao cây như con bò?".
Bởi
thế nên cái Nhơn này bị lỗi "bất định".
5.
Câu phẩm nhứt phần chuyển bất định:
Cái
Nhơn này, đối với Đồng dụ và Dị dụ đều chỉ có dính
líu một phần, nên cũng bị lỗi "bất định".
BIỂU
Tôn:
Tiếng vô thương
Nhơn:
Vì mắt không thấy
Như
tánh giận, buồn v.v...
(mắt
không thấy và vô thường)
Như
Đồng dụ Như ruộng, nhà v.v...(mắt thấy
lập
Và cũng vô thường)
Như
Hư không
(thường,
mắt trông thấy)
Dị
dụ Như Giác tánh (thường, mắt không thấy)
Cái
thí dụ thứ hai:
Tôn:
Người ta ai cũng phải chết
Nhơn:
Vì vật hữu tình vậy
Đồng
Như cầm thú (hữu hình dụ có chết)
dụ
Như nước biển (hữu hình, không chết)
Như
lập
Dị
dụ Như hư không (vô hình không chết)
Như
tượng gỗ (hữu hình không chết)
Nếu
cái Nhơn "vì hữu hình" này, mà dụ như cần thú, thì cái
Tôn nàu có chết", còn cái Nhơn
"vì
hữu hình" mà thí dụ như nước, thì cái Tôn này "không chết".
Phàm
Dị dụ là dụ bề trái của Tôn và Nhơn, nên phải dùng những
vật "không chết".
(trái
với Tôn) và "vô hình" (trái với Nhơn) để làm thí dụ._
Nay cái Dị dụ này chỉ trái
với
Nhơn được phân nữa. Vì ngoại nhơn có thể hỏi lại rằng:
vậy "hư không, không chết"
vì
vô hình vậy? Hay "tượng gỗ không chết "vì hữu hình vậy?
Bởi hữu hình (tượng gỗ)
vô
hình (hư không) đều không chết, nên cái Nhơn này bị lỗi
"bất định".
6.
Tương vi quyết định bất định:
Chủ
và khách lập lượng trái nhau; song cả hai đều không có lỗi,
và đều quyết định thành lập được.
Nhưng
không bên nào phá dược bên nào.
Tôn
: Sóng thường còn
Nhơn:
Vì sóng tức là nước
Khách
lập Đồng dụ : Như điện.
Tôn
: Sóng là vô thường
Chủ
phá Nhơn : Vì chuyển động dược
Đồng
dụ : Như gió.
Hai
cái lượng này rất mâu thuẩn nhau, song đều quyết định
thành lập được. Bên khách vẫn
công
nhận "sóng có chuyển động", bên chủ cũng nhận "sóng tức
là nước". Nhưng không bên
nào
phá được bên nào, nên Nhơn này bị lỗi "bất định". Đây
cũng là vì thiếu lời lẽ khôn khéo,
để
làm cho "người ta phục mình. Thưở xưa có người nói: Ai
lập trước thì hơn".
Phải
lập Tôn : Sóng không thường còn
Nhơn
: Vì nó là nước bị gió động
như
vầy Đồng dụ: Cũng như gió.
6 lỗi
"Bất định" đã giải thích rồi, bây giờ sẽ nói đến 4
lỗi tương vi.
III.
BỐN LỖI TƯƠNG VI
1.
Pháp tự tướng tương vi._ Cái Nhơn trái (mâu thuẩn) với
tự tướng (lời nói trắng)
của
danh từ sau
Tôn:
Gió thường còn
Như
lập Nhơn : Vì có động vậy
Đồng
dụ : Như hư không
Dị
dụ : Như sóng.
Đã
có động thì làm sao lại thường còn; nên cái Nhơn "có động"
này, rất trái với tiếng
"thường
còn" là lời nói trắng về danh từ sau của Tôn.
2.
Pháp sai biệt tương vi Nhơn._ Cái Nhơn trái (mâu thuẩn) với
ý hứa (ẩn ý) của danh từ sau
Tôn:
Loài người quyết định có tạo ra
Như
lập (ý hứa là một vị thần).
Nhơn
: Vì có trí khôn và mắt, tai v.v...
Đồng
dụ : Như con do cha mẹ sanh ra
trong
cái Tôn này, về chữ "quyết định có người tạo ra "là
do người lập Tôn, ẩn ý của họ
muốn
nói: Người tạo ấy là một vị Thần. Và ẩn ý của họ
cho vị Thần ấy có ba đức tánh sau này:
1.
Toàn trí toàn năng, 2. Thường còn, 3. Độc tôn.
Nhưng
cái Nhơn này nó lại trái ngược (mâu thuẩn) với ẩn ý của
họ:
1.
Nếu vị thần ấy tạo ra loài người có trí khôn và mắt
tai v.v...như cha mẹ sanh con;
vậy
cha mẹ "không toàn trí toàn năng",
vì
sanh ra có những đứa con ngỗ nghịch với cha mẹ, thì vị
thần ấy cũng
"không
toàn trí toàn năng" vì tạo ra loài người
mà
có những kẻ oán trách lại vị Thần ấy, và giữa loài người,
không biết bao nhiêu
những
điều bất bình đẳng.
2.
Cha mẹ sanh ra con, đến khi già phải chết "không phải thường
còn"; vậy vị Thần ấy đã
sanh
ra loài người, thì vị thần ấy cũng phải chết, "không thường
còn".
3.
Cha mẹ sanh ra con, tất nhiên phải có ông, bà sanh lại cha
mẹ, nên cha mẹ không phải
"độc
tôn". Vậy thì vị Thần ấy đã tạo ra loài người, thì vị
thần ấy cũng phải có một vị thần
lớn
hơn sanh ra, nên vị thần ấy cũng không "độc tôn".
Bởi
thế nên cái Nhơn này bị lỗi mâu thuẩn với ý hứa (ẩn
ý) của danh từ sau là "người tạo ra".
3.
Hữu pháp tự tưởng tương vi Nhơn._ cái Nhơn mâu thuẩn với
lời nói trắng (tự tướng)
về
danh từ trước của Tôn
Tôn
: Phải có một ông Vô hình, tạo ra Vũ trụ
Như
lập Nhơn :Vĩ Vũ trụ có trật tự ấy
Đồng
dụ: Như ông Kiến trúc sư làm nhà.
Cái
Nhơn "Vì vũ trụ có trật tự" này, rất trái ngược với
danh từ trước của Tôn là
"Ông
Vô hình". Đã Vô hình thì
làm
sao tạo ra Vũ trụ là vật hữu hình và có trật tự được?
Phải vật hữu hình mới tạo ra
vật
hữu hình. Như ông
kiến
trúc sư, vì hữu hình mới tạo ra cái nhà hữu hình được.
4.
Hữu pháp sai biệt tương vi nhơn._ Cái Nhơn trái ngược với
ý hứa (ẩn ý) về danh từ
trước
của Tôn.
Tôn
: Phải có một đấng sanh ra vũ trụ
Như
lập Nhơn : Vì vũ trụ có thứ tự vậy.
Đồng
dụ:Như ông thợ làm nhà.
Người
lập lượng này, nếu nói trắng ra "Có một ông thần", thì
sợ bên đối phương không
công
nhận, mà phải bị lỗi
"Sở
biệt bất thành", nên họ chỉ nói một cách hồn hàm là "Có
một Đấng".song ẩn ý của họ
muốn
nói
"Đấng
ấy là một vị thần"; và họ cho vị Thần này có 3 đức
tánh: 1. Thường còn, 2. Cao cả,
3.
Sanh vạn vật.
Nhưng
Đấng ấy đã sanh ra ợ?c van vật, thì Đấng ấy tất nhiên
cũng phải bị người khác
lớn
hơn sanh ra và chết; không phải cao cả và thườnhg còn. Cũng
như ông thợ làm nhà.
Vì
cái Nhơn này, trái ngược với ần ý của danh từ trước,
nên bị lỗi "tương vị".
Ngoại
nhơn có thể lập lượng bác lại rằng:
Tôn:
Đấng ấy phải bị người khác sanh ra và phải chết.
Như
lập Nhơn : Vì Đấng ấy sanh ra vũ trụ vậy.
Đồng
dụ: Như ông thợ làm nhà.
14
lỗi về Tợ Nhơn, chúng tôi đã giải thích rồi, sau đây
sẽ nói 10 lỗi về Tợ dụ.
PHỤ
BÀI ÔN HỌC
(ÔN
LẠI 14 LỖI VỀ TỢ NHƠN)
Quí
vị nên xét kỹ các lượng sau này, rồi chỉ ra: lỗi của
Tôn, lỗi của Nhơn, và nói rõ tại sao
Lượng
thứ I
Tôn:
Nhơn loại quyết định có người tạo
Nhơn
: Vì có trí khôn và đủ cả mắt, tai v.v...
Đồng
dụ : Như con, phài có cha mẹ sanh ra.
Lượng
thứ II
Tôn:
Gió thường còn
Nhơn
: Vì có động vậy
Đồng
dụ : Như hư không
Dị
dụ: Như sóng
Lượng
thứ III
Tôn:
Phải có một Đấng sanh ra vũ trụ
Nhơn
: Vì vũ trụ có trật tự vậy
Đồng
dụ : Như ông Kiến trúc sư làm nhà
Lượng
thứ IV
Tôn:
Phải có một ông vô hình tạo ra vũ trụ
Nhơn
: Vì vũ trụ có trật tự vậy
Đồng
dụ : Như ông thọ làm nhà.
***
C.
DỤ
Phàm
lấy một vật gì mà bên đối phương đã biết và đã công
nhận, để so sánh chúng minh
với
một vật khá mà bên đối phương kia chưa biết, hoặc chưa
công nhận thì gọi là "Dụ".
Thí
dụ khi lập cái "Tôn thường còn", thì phải lấy tất cả
những vật "thường còn", làm Đồng dụ;
trái
lại, phải lấy tất cả những vật "vô thường" làm Dị
dụ.
Về
Tợ dụ có 10, chia làm 2 loại:
I.
TỢ ĐỔNG DỤ CÓ 5:
1.
năng lập pháp bất thành,_ Phàm cái nhơn là để thành lập
cái Tôn, nên cái Nhơn là
"năng
lập pháp" còn cái Tôn là "Sở lập pháp". Cái Dụ này trái
ngược Nhơn, nên bị lỗi "bất thành"
Như
lập
Tôn:
Con ngựa hay chạy
Nhơn
: Vì có bốn vó
Đồng
dụ : Như con rắn hổ ngựa
Cái
Dụ này hiệp với Tôn (chạy hay), ttrái với Nhơn (thiếu chân)
2.
Sở lập pháp bất thành._ Nhơn là Năng lập mà Tôn là Sở
lập (bị lập). Cái dụ này trái ngược
với
Tôn, nên cũng bị lỗi "bất thành".
Như
lập
Tôn:
Người ta không bay được.
Nhơn
: Vì thiếu hai cánh
Đồng
dụ : Như mây (không cánh, bay dược)
Cái
Dụ này hiệp với Nhơn (thiếu cánh) và trái ngược với Tôn
và Nhơn. Bởi lấy Dị dụ làm
Đồng
dụ, nên bị lỗi "bất thành".
Như
lập
Tôn
: Tiếng thường còn
Nhơn
: Vì tai nghe vậy
Đồng
dụ : Như bàn, ghế.
Bàn,
ghế "vô thường" nên trái với Tôn, và "tai không nghe được",
nên trái với Nhơn.
4.
Vô hiệp._ Cái Dụ này không có lời phối hiệp để kết
thúc lại cho dễ hiểu.
Như
lập
Tôn
: Người ta phải chết
Nhơn
: Vì có sanh vậy
Đồng
dụ : Như chim v.v...
Đáng
lẽ phải nói lời phối hiệp để kết thúc lài như vầy:
"Người ta có sanh (Nhơn) phải có chết
(Tôn).
Phàm vật gì có sanh (Nhơn) phải có chết (Tôn), như chim v.v..."thời
người ta mới
dễ
hiểu. Cái này chỉ nói tắt rằng "như chim"; làm cho người
ta không hiểu: Như chim có
hai
cánh, hay là như chim có mỏ?nên bị lỗi "vô hiệp".
5.
Đảo hiệp._ Lời thí dụ, kết thúc phối hiệp lại trái
ngược. Phàm kết thúc phối hiệp thì phải
nói
cái nhơn trước rồi nói cái Tôn sau.
Như
lập
Tôn
: Người ta phải chết
Nhơn
: Vì có sanh vậy
Đồng
dụ : Phàm vật gì có sanh (Nhơn) thì phải có chết (Tôn)như
chim v.v ...
Nay
kết thúc lại trái ngược, nghĩa là: Phối hiệp Tôn trước
rồi nhơn sau.
Như
lập
Tôn
: Người ta phải chết
Nhơn
: Vì có sanh vậy
Đồng
dụ : Phàm có chết (Tôn) phải có sanh (Nhơn) như chim v.v ...
Bởi
vì nói "có sanh phải có chết" thì ai cũng thấy; còn nói "có
chết phải có sanh", người ta
khó
nhận.
II.
TỢ DỊ DỤ CÓ 5:
Phàm
Dị dụ là dụ bề trái của Tôn và Nhơn, ne6n phải hoàn toàn
trái ngược với Tôn và Nhơn.
1.
Sở lập pháp bất khiển._ Cái Dị dụ này không trái với
Tôn
Như
lập
Tôn
: Tiếng nói thường còn
Nhơn
: Vì vô hình vậy
Đồng
dụ : Như hư không
Dị
dụ: như vi trần (vi trần hữu hình và thường còn)
vi
trần có hình chất màlại thường còn. Nếu lấy vi trần
làm Dị dụ, thì chỉ trái với
Nhơn
(vô hình) mà không trái với Tôn (thường) nên bị lỗi.
2.
Năng lập pháp bất khiển._ cái Dị dụ này không trái với
Nhơn
Như
lập
Tôn
: Tiếng nói thường còn
Nhơn
: Vì vô hình vậy
Đồng
dụ : Như hư không
Dị
dụ: như điện chớp (vô hình, không thường).
Lấy
điện chớp làm Dị dụ, thì chỉ trái với "Tôn thường còn",
mà không trái với
"Nhơn
vô hình", nên bị lỗi.
3.
Câu bất khiển,_ cái Dị dụ không trái với Tôn và Nhơn.
Lỗi này vì lấy Đồng dụ làm Dị dụ.
Như
lập
Tôn
: Người phải chết
Nhơn:
Vì có sanh vậy
Đồng
dụ : Như cỏ cây
Dị
dụ: như loài vật
Phàm
Dị dụ là phải trái với Tôn và Nhơn. Nay dùng cái Dị dụ
này không trái với Tôn và
Nhơn
nên bị lỗi.
4.
Bất ly._ Dị dụ không có lời kết thúc để ly biệt Tôn
và Nhơn
Như
lập
Tôn
: Tiếng nói thường còn
Nhơn
: Vì không hình chất
Đồng
dụ : Những gì vô hình đều thường còn, như hư không
Dị
dụ: như bàn ghế
Về
Dị dụ, đáng lẽ cũng phải có lời phối hiệp kết thúc
để ly biệt Tôn và Nhơn như vậy:
"Phàm
những gì vô thường, thì đều có hình chất, như bàn ghế".
Nay chỉ nói tắt rằng:
"Như
bàn ghế" Làm cho người
ta
không hiểu: Như bàn ghế có bốn chân? Hay như bàn ghế có
mặt?
Phải
lưu ý: Về Đồng dụ, nếu thiếu lời phối hiệp để kết
thúc, thì gọi là "Vô hiệp";
còn
bên Dị dụ, nếu thiếu lời phối hiệp
để
kết thúc, thì gọi là "bất ly".
5.
Đảo lỳ._ Lời kết thúc của Dị dụ, để ly biệt Tôn và
Nhơn, lại phối hiệp mốt cách trái ngược.
Như
lập
Tôn
: Tiếng thường còn
Nhơn
: Vì vô chất ngại
Đồng
dụ : Như hư không
Dị
dụ:
những gì có chất ngại (Nhơn) đều vô thường (tôn) như
bình, bàn v.v...
Phàm
lời phối hiệp để kết thúc của Dị dụ là phải nói Tôn
trước rồi Nhơn sau, mới thuận.
Như
nói: "Những gì vô thường (Tôn) thì đều có chất ngại (Nhơn)
như bình, bàn v.v...
"Nay
phối hiệp ngược lại Nhơn trước Tôn sau, nên bị lỗi "Đảo
ly".
Lưu
ý:_ về Đồng dụ, khi kết thúc, phải nói Nhơn trước rồi
nói Tôn sau. Nếu trái lại thì bị lỗi
"Đảo
hiệp". Về Dị dụ, khi kết thúc, phải nói Tôn trước rồi
nói Nhơn sau. Nếu trái lại thì bị lỗi
"Đảo
ly". 10 lỗi về Tợ Dụ đã giải thích rồi.
***
PHỤ
BÀI HỌC ÔN
Quý
vị nên xét kỹ các lượng sau này: Tôn thuộc về lỗi gì?
Nhơn thuộc về lỗi gì? Và Dụ thuộc về lỗi gì?
Lượng
thứ I
Tôn
: Người ta phài chết
Nhơn
: Vì có sanh vậy
Đồng
dụ : Phàm có chết phải có sanh, như chim
Dị
dụ: Phàm không sanh thì không chết, như hư không
Lượng
thứ II
Tôn
: Tiếng nói thường còn
Nhơn
: Vì vô hình vậy
Đồng
dụ : Như hư không
Dị
dụ: như vi trần
Lượng
thứ III
Tôn
: Tiếng nói thường còn
Nhơn
: Vì tai nghe vậy
Đồng
dụ : Như hư không
Dị
dụ: như điện chớp
Lượng
thứ IV
Tôn
: Người ta phải chết
Nhơn
: Vì có sanh vậy
Đồng
dụ : Như cỏ cây
Dị
dụ: như loài vật. Hoặc lập nhiều lượng khác
LỢI
ÍCH HỌC NHƠN MINH LUẬN
Trong
các Kinh điển Đại thừa, phần nhiếu Phật dạy các đệ
tử phải biết Ngũ minh (1. Nội minh, 2. Nhơn minh, v.v...)
thời việc hoá đạo mới được nhiều lợi ích. Trong Ngũ
minh, Nhơn minh là một.
Nhờ
biết Nhơn minh nên lời nói ít lỗi, luận lý vững vàng, có
thể thuyết phục được các tà thuyết đem về chánh
đạo.
Nhờ
biết Nhơnminh, mới học nổi được các bộ luận trong Phật
giáo. Vì trong các bộ luận ấy phần nhiều dùng nhơn
minh để lập Chánh lý và phá các tà thuyết.
Tóm
lại, Nhơn minh là một môm Luận lý học, vừa lợi ích cho
mình và lợi ích cho người.
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA
Sửa
lại và viết xong mùa thu năm Mậu tuất (1958)
Chùa
PHẬT QUANG (Trà Ôn)