MỤC
LỤC
PHẬT
HỌC PHỒ THÔNG KHOÁ THỨ IX
(DUY
THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
TẬP
BA
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Ngài
THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài
HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông
ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lượt giải.
BÀI
THỨ BA
CHÁNH
VĂN
Hỏi:
_ Trên đã nói thức năng biến thứ nhứt, còn thức năng biến
thứ hai thế nào?
Đáp:
_ Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Thứ
đệ nhị năng biến
Thị
thức danh Mạt na
Y
bỉ chuyển, duyên bỉ
Tư
lương vi tánh tướng.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ này tụng (12 câu) để trả lời rằng:Thức năng biến
thứ hai tên là Mạt na. Thức này do thức A lại da sanh ra,
rồi trở lại duyên thức A lại da chấp làm ngã. Tánh và
tướng của nó thường lo nghĩ.
LƯỢC
GIẢI
Trước
đã nói thức Năng biến thứ nhứt, tiếp theo đây nói thức
Năng biến thứ hai, tức là thức thứ Bảy. Tiếng Phạn gọi
là Mạt na, Tàu dịch là Ý. Thức này là "Căn" của ý thức,
chứ không phải ý thức (thứ 6).
Thức
này nương thức A lại da sanh khởi, rồi trở lại duyên thức
A lại da chấp làm ngã. Cũng như cái tay từ nơi thân sanh ra,
rồi trở lại hộ vệ cái thân. Vì thức này tánh hay lo nghĩ,
nên hiện ra tướng trạng bên ngoài cũng lo nghĩ.
Nguyên
văn chữ Hán
Tứ
phiền não thường câu
Vị:
ngã si, ngã kiến
Tinh
ngã mạn, ngã ái
Cập
dư xúc đẳng câu.
Dịch
nghĩa
Bốn
món phiền não thường chung cùng với thức này là: Ngã si,
Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái. Ngoài ra thức này còn tương ưng
với các Tâm sở, như Xúc, Tác ý ...
LƯỢC
GIẢI
Trước
đã nói thức năng biến thứ nhứt, thiếp theo đây nói thức
Năng biến thứ hai, tức là thức thứ Bảy. Tiếng Phạn gọi
là Mạt na, Tàu dịch là Ý. Thức này là căn của ý thức,
chứ không phải là ý thức (thứ 6).
Thức
này nương thức A lại da sanh khởi, rồi trở lại duyên thức
A lai na chấp làm ngã. Cũng như cái tay từ nơi thân sing ra,
rồi trở lại hộ vệ cái thân. Vì thức này tánh hay lo nghĩ,
nên hiện ra tướng trạng bên ngoài cũng lo nghĩ.
Nguyên
văn chữ Hán
Tứ
phiền não thường câu
Vị:
ngã si, ngã kiến
Tinh
ngã mạn, ngã ái
Cập
dư xúc đẳng câu.
Dịch
nghĩa
Bốn
món phiền não thường chung cùng với thức này là: Ngã si,
Ngã kiến, ngã ái. Ngoài ra thức này còn tương ưng với các
Tâm sở như: Xúc, Tác ý, v.v...
LƯỢC
GIẢI
Những
Tâm sở thường tương ưng với thức này, là bốn món phiền
não: 1. Ngã si (si mê cái Ngã), 2. Ngã kiến (Chấp cái Ngã),
3. Ngã mạn (đề cao cái Ngã của mình, để khinh mạn người),
4. Ngã ái (tham ái cái Ngã).
Bởi
thức Mạt ma thường chấp thức A lại da làm Ngã, nên bốn
món phiền não tương ưng với thức này, cũng đều do caqi
Ngã mà sanh. Vì thế nên trên mỗi món phiền não lại thên
chữ Ngã (Ngã si, Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái).
Ngoài
bốn món phiền não trên, lại còn có các Tâmsở, như năm
món Biến hành và tuỳ phiền não v.v...cũng tương ưng với
thức này; nhưng không phải thường có như bốn món phiền
não trên.
Si,
Kiến,
Các
Tâm sở 1. Thường chung khởi
Tương
ưng với Mạn, Ái.
Thức
này 2. Không thường Năm món Biến hành.
Tuỳ
phiền não v.v ...
Nguyên
văn chữ Hán
Hữu
phú vôký nhiếp
Tuỳ
sở sanh sở hệ
A
la hán, Diệt định
Xuất
thế đạo vô hữu
Dịch
nghĩa
Tánh
của thức này là "hữu phú vô ký". Tuỳ thức A lại da sanh
về cảnh giới nào, thì thức này theo đó mà chấp Ngã. Khi
chứng A la hán, nhập Diệt tận định và được vào Đạo
xuất thế, thì không còn thức này.
LƯỢC
GIẢI
Vì
bốn món phiền não ngăn che, nên tánh của thức Mạt ma thuộc
về hữu phú vô ký. Lại nữa, vì thức này do thức A lại
da sanh ra, nên tuỳ theo thức A lại da sanh về cõi nào, thì
nó theo chấp ngã ở cõi đó.
Hỏi:_
Người tu hành phải đến địa vị nào mới đoạn được
Ngã chấp và không còn thức Mạt ma?
Đáp:_
Có ba địa vị:
1.
Đến địa vị A la hán: Vì vị này đã xả tàng thức, nên
thức Mạt ma không còn chấp Ngã.
2.
Nhập diệt tận định: Vì định này diệt hết các Tâm vương
và Tâm sở của bảy thức trước.
3.
Đạo xuất thế: Hành giả khi đặng cái trí hiểu biết chơn
vô ngã và đặng trí vô lậu hậu đắc, thì không còn thức
Mạt ma.
Xả
Tàng thức
1.
A la hán không còn Mạt ma
Diệt
hết Tâm vương Tâm
Ba
địa vị sở của 6 thức trước.
Không
có 2. Diệt tận định Diệt các Tâm sở về phần
Mạt
ma tạp nhiễm của thức Mạt ma.
Được
trí hiểu biết chơn
3.
Đạo xuất thế vô ngã
Đặng
trí vô lậu hậu đắc
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Như vậy đã nói thức năng biến thứ hai, còn thức năng biến
thứ ba thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Thứ
đệ tam năng biến
Sai
biệt hữu lục chủng
Liễu
cảnh vi tánh tướng
Thiện,
bất thiện, câu phi.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói tụng (2 bài) để trả lời rằng:
Thức
năng biến thứ ba, có sáu món sai khác. Tánh và tướng của
thức này đều phân biệt cảnh (liễu cảnh). Thức này đủ
cả ba tánh: thiện, ác và vô ký (câu phi).
LƯỢC
GIẢI
Thức
năng biến thứ ba có sáu món: 1. Nhãn thức, 2. Nhĩ thức, 3.
Tỹ thức, 4. Thiệt thứic, 5. Thân thức, 6. Ý thức. Trong 8
thức, thức nào cũng đều phân biệt cảnh; song thức thứ
Bảy và thức thứ Tám chỉ phân biệt cảnh tế, còn 6 thức
trước lại phân biệt cảnh thô; nên trong bài tụng nói "Tánh
tướng nó đều phân biệt cảnh". Cũng như mặt trời mặt
trăng sáng suốt chiếu soi khắp thiên hạ. Mặt trời mặt
trăng sáng suốt là dụ cho bản tánh của thức này; còn chiếu
soi là dụ cho tướng dụng của thức này.
Sáu
thức này đủ cả 3 tánh: thiện, ác, và vô ký (không thiện
ác).
Nguyên
văn chữ Hán
Thử
Tâm sở biến hành
Biệt
cảnh, thiện, phiền não
Tuỳ
phiền não bất định
Giai
tam tho tương ưng
Dịch
nghĩa
Những
Tâm sở tương ưng với thức này, như: biến hành, biệt cảnh,
căn bản phiền não, tuỳ phiền não, bất định và ba thọ.
LƯỢC
GIẢI
Tâm
sở do tâm vương đặt để, cũng như các quan do Vua sắp đặt,
như một vị quan lớn có bao nhiêu nhơn viên. Tâm sở cũng
thế, tất cả 51 món, phân làm 6 loại, mỗi loại có bao nhiêu
món.
Nay
xin liệt kê sau đây:
1.
Biến hành, có 5 món
2.
Biệt cảnh, có 5 món
3.
Thiện, có 11 món
4.
Căn bản phiền não, có 6 món
5.
Tuỳ phiền não, có 20 món
6.
Bất định, có 4 món.
Ba
thọ là:khổ thọ, lạc thọ, và xả thọ.
Tóm
lại, thức này tương ưng với 51 món tâm sở và 3 thọ