PHẬT
HỌC PHỒ THÔNG KHOÁ THỨ IX
(DUY
THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
TẬP
BA
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Ngài
THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài
HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông
ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lượt giải.
BÀI
THỨ HAI
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã lược nói cái "tên", nhưng chua nói rõ cái "tướng"
của thức Năng biến; vậy cai "tướng" của thức Năng biến
thứ nhứt thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Sơ
A lại da thức
Dị
thục, Nhứt thế chủng.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói tụng (10 câu) đễ trả lời rằng: Thức Năng biến
thứ nhứt tên là A lại da, cũng gọi là Dị thục thức hay
Nhứt thế chủng thức.
LƯỢC
GIẢI
Thức
Năng biến thứ nhá?t có ba tướng:
I.
Tự tướng (thể); tiếng Phạn gọi là "A lại da", Tàu dịch
là "Tàng". Chữ Tàng có ba nghĩa:
1.
Năng tàng: Thức này có công năng chứa tất cả chủng tử
(hạt giống) của các Pháp thiện ác; cũng như cái kho có công
năng chứa lúa.
2.
Sở tàng: Thức này có chổ để chứa chủng tử của các
Pháp; cũng như cái kho là chổ để chứa lúa.
3.
Ngã ái chấp tàng: Thức này thường bị thức thứ Bảy ái
luyến chấp làm ngã. Nó như người giữ kho, giữ gìn chẳng
cho lúa mất (chấp tàng).
II.
Quả tướng (quả), gọi là "Dị thục thức". Chữ Dị thục
có ba nghĩa:
1.
Dị thời nhi thục: Khác thời mà chín. Dụ như trái xoài,
từ khi sanh cho đến khi chín, thời gian khác nhau.
2.
Dị loại nhi thục: Khác loài mà chín. Dụ như trái xoài, khi
nhỏ tánh chua, đến chín lại ngọt.
3.
Biến dị nhi thục: Biến đổ khác chất mà chín. Dụ như
trái xoài, khi nhỏ thì xanh, đến khi già chín biến đổi lại
vàng.
Vì
thức Dị thục này lãnh thọ thân quả báo, nên gọi là Dị
thục quả. Tánh chất của Dị thục quả là vô ký (không
nhứt định thiện hay ác); song về nghiệp nhơn đời trước
của nó, lại có thiện và ác.
Bởi
lấy nghiệp nhơn (thiện ác) đối với quả (vô ký) mà nói,
nên có ba nghĩa: Khác thời gian chín (Dị thời nhi thục), khác
loại mà chín (Dị loại nhi thục) và biến đổi chín (Biến
dị nhi tục).
1.
Dị thời ...
Dị
thục 2. Dị loại ... nhị thục
3.
Biến dị ... Quả (vô ký)
Nhơn
(thiện, ác)
III.
Nhơn tướng (nhơn), gọi là Nhứt thế chủng tức. Tất cà
các pháp hiện tượng (hiện hành) trong thế gian và xuất thế
gian, đều có chủng tử (công năng tiềm tàng) của nó. Các
chủng tử này đều chứa trong thức thứ Tám (tàng thức).
Các chủng tử là "nhơn" khởi hiện ra các Pháp là "quả".
Vì theo "nhơn tướng" (chủng tử), nên gọi thức này là "Nhứt
thế chủng".
Nguyên
văn chữ Hán
Bất
khả tri chấp thọ
Xứ
liễu thường dữ xúc
Tác
ý thọ tưởng tư
Tương
ưng duy xả thọ
Dịch
nghĩa
Không
thể biết hành tướng năng duyên và công năng giữ gìn chủng
tử, lãnh thọ thân thể và thế giới của thức này được.
Thức này thường tương ưng với năm món biến hành là: xúc,
tác ý, thọ, tưởng và tư. Song trong các thọ, nó chỉ tương
ưng với xả thọ.
LƯỢC
GIẢI
Hành
tướng thức Năng biến thứ nhứt rất là tế nhị ! Bởi
người đời tâm thô không thể biết được, nên nói "Bất
khả tri".
Những
việc của thức này mà người đời không thể biết được,
có hai phần:
1.
Thức này giữ gìn chủng tử, thế giới, thân thể và làm
cho thân thể sanh ra cảm giác, lãnh thọ; nghĩa là thức thứ
Tám này biến hiện ra thế giới và chúng sanh rồi giữ gìn
không cho mất; đây là điền khó biết thứ nhứt.
2.
Hành tướng năng duyên (liễu) của thức này, rất sâu xa và
tế nhị, đây là điều khó biết thứ hai.
Không
1. Kiến phần năng duyên của thức này (liễu)
Thể
biết 2. Tướng phần bị 1. Chủng tử
Duyên
của thức 2. Thân thể (chấp thọ)
Này
3. Thế giới (xứ)
Tám
thức, phân làm ba món năng biến, đều có quyền tự chủ,
tự tại; cũng như vị Quốc Vương, nên gọi là Tâm vương.
Song như vị Quốc vương phải có quần thần phụ tá, thì
mới có thể giữ nước trị dân. Tâm vương cũng phải có
bộ hạ tuỳ tùng để giúp đỡ mới hay tạo ra các nghiệp.
Những bộ hạ tuỳ tùng ấy lệ thuộc Tâm vương, không được
tự tại, nên gọi "Tâm sở", hoặc gọi là "Tâm sở hữu";
nghĩa là cái sở hữu của Tâm vương.
Lại
nữa, Tâm sở đã giúp Tâm vương tạo nghiệp, thì Tâm vương
với Tâm sở phải ưng thuận với nhau nên gọi là tương ưng.
Hỏi:_
Có mấy Tâm sở tương ưng với thức này?
Đáp:_
Chỉ có năm món biến hành thường tương ưng với thức này
là: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng và Tư.
Xúc:
Tiếp xúc. Như con mắt xen hoa, khi mới vừa tiếp xúc với
hoa; đó là tác dụng của Xúc Tâm sở. Thí như hai người
đồng đi một con đường; một người đi từ phương Đông
đến phương Tây, một người đi từ phương Tây đến phương
Đông; hai người gặp nhau một chỗ, gọi đó là xúc.
Một
thí dụ nữa, như môn Kỷ hà học: trên cái hình tròn gạch
qua một đường, chỗ đụng nhau một chỗ trên đường gạch,
đó là xúc.
Tác
ý: Móng khởi cái ý. Như khi muốn xem hoa, trước nhứt móng
khởi cái ý; đó là "Tác ý Tâm sở". Rồi nó dẫn dắt nhãn
thức xem hoa. Nếu không có tác dụng của Tâm sở này, thì
dù có gặp hoa cũng không thấy.
Người
đời có khi đi ngang qua vườn đầy hoa, mà không thấy hoa.
Như thế là vì trong lúc đó, Tâm sở tác ý không có tương
ưng với nhãn thức.
Thọ:
Lãnh thọ. Như khi thấy hoa, có sự cảm thọ vui buồn ...
Tưởng:
Tưởng tượng. Như sau khi thấy hoa, rồi tưởng tượng hình
tướng của hoa đỏ hay vàng, tốt hay xấu ...
Tư:
Lo nghĩ, tạo tác. Như nhơn thấy hoa, rồi lo nghĩa trồng hoa
hay bẻ hoa ...
Lại
nữa, "Thọ Tâm sở" có 3 loại:
1.
Lạc thọ: Thọ vui. Khi gặp cảnh thuận, như được người
khen ngợi, thì cảm thọ vui mừng.
2.
Khổ thọ: Thọ khổ. Khi gặp cảnh nghịch, như bị người
huỷ báng hạ nhục, thì cảm thọ buồn khổ.
3.
Xả thọ: Thọ cảnh không vui buồn. Khi gặp cảnh bình thường
không thuận nghịch, như trong lúc không được khen hay bị
chê, thì cảm thọ không vui buồn.
Tóm
lại, thức thứ Tám này, tương ưng với 5 món Tâm sở Biến
hành và hành tướng của nó rất là tế nhị, không có hiện
ra khổ và vui, nên chỉ tương ưng với xả thọ.
Nguyên
văn chữ Hán
Thị
vô phú vô ký
Xúc
đẳng diệc như thị
Dịch
nghĩa
Tánh
của thức này là vô phú vô ký, nên những Tâm sở tương
ưng với nó, như Xúc, Tác ý ...cũng vô phú vô ký.
LƯỢC
GIẢI
Tánh
của các pháp, tóm lại có 3 loại: 1. Tánh thiện, 2. Tánh ác,
3. Tánh vô ký (không thiện không ác).
Tánh
vô ký lại chia làm 2 loại:1. Vô phú vô ký, 2. Hữu phú vô
ký _ Thí như mặt gương, không phải thiện ác, dụ cho "tánh
vô ký"; khi bị bụi che lấp ánh sáng, dụ cho "tánh hữu phú
vô ký". Đến lúc lau chùi sạch bụi; dụ cho "tánh vô phú
vô ký".
Tóm
lại, thức thứ Tám này không bị các phiền não ngăn che,
nên thuộc về tánh vô phú vô ký. Và những Tâm sở tương
ưng với thức này, như Xúx, Tác ý ...cũng thuộc về tánh
vô phú vô ký.
Nguyên
văn chữ Hán
Hằng
chuyển như bộc lưu
Dịch
nghĩa
Hằng
chuyển biến như dòng nước chảy mạnh.
LƯỢC
GIẢI
Ngoại
đạo chấp các pháp thường còn không mất, như thế gọi
là chấp "thường?; hoặc chấp chết rồi mất hẳn, như thế
gọi là chấp "đoạn?.
Nhà
duy thức nói: từ vô thỉ đến nay, thức này hằng chuyển
biến luôn, mỗi niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn.
Cũng như nước thác, từ trên núi cao đổ xuống, một dãy
trắng xoá; ở xa trông như tấm vải trắng. Vì nó hằng chảy
luôn, nên chẳng phải "đoạn diệt". Song nó liên kết tiếp
tục nhiều giọt, biến chuyển sanh diệt luôn, nên không phải
"thường nhứt".
Nguyên
văn chữ Hán
A la
hán vị xả ?
Dịch
nghĩa
Đến
vị A la hán mới xả bỏ thức này (tàng thức).
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:
Thức này, đã sanh diệt tương tục, là gốc của sanh tử
luân hồi, vậy phải tu đến địa vị nào mới xả bỏ nó
được ?
Đáp:
Người tu hành đoạn hết phiền não chướng, đến quả vị
A la hán, mới xả bỏ được thức "A lại da". Song chỉ xả
bỏ cái "danh", chớ không phải xả bỏ cái "thể" của thức
này.
Hỏi:
Tại sao không xả bỏ cái "thể", của thức này?
Đáp:
Cái "thể" của thức này có hai phần: nhiễm và tịnh. Phần
tịnh tức là "Trí". Trong bài tụng nói "xả bỏ thức này",
tức là chuyển thức thành trí, chớ không phải xả bỏ. Nếu
xả bỏ cái "thể" của thức này, thì thành ra đoạn diệt,
thuộc về ngoại đạo. Trong Đạo Phật không có chủ trương
đoạn diệt (mất hẳn).