PHẬT
HỌC PHỒ THÔNG KHOÁ THỨ IX
(DUY
THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
TẬP
BA
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Ngài
THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài
HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông
ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lượt giải.
BÀI
THỨ NHỨT
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
GIẢI
ĐỀ MỤC
"Duy
thức" _ Thức là phân biệt; có hai phần: 1. Sở phân biệt
(bị biết) gọi là cảnh, hoặc gọi là sự vật, tức là
núi, sông, ruộng, vườn ...2. Năng phân biệt (cái biết) gọi
là thức, tức là cái tác dụng phân biệt hay nhận biết các
cảnh vật.
Cảnh
vật có hình tướng, thức không hình tướng. Người đời
đều nói hai vật này ( vật chất, tinh thần) riêng khác; thật
ra năng phân biệt (biết) và sở phân biệt (bị biết) cũng
đều là thức; ngoài thức ra không có vật gì khác. Bởi thế
nên gọi là Duy thức.
Người
đời vì chấp tất cả sự vật là thật có, nên không tin
lý duy thức. Nay môn học này, giải thích cho người biết:
tất cả sự vật, chỉ có thức biến hiện, không phải thật
có, nên gọi là "Duy thức học".
"Tam
thập tụng" _ Theo lệ thường, trong kinh Phật, mỗi một bài
là bốn câu; nay dùng 30 bài tụng, để giải thích nghĩa mầu
nhiệm của Duy thức, cho nên quyển luận này gọi là "Duy thức
tam thập tụng".
"Dị
giải" _ Nguyên văn bổn luận này có 30 bài tụng, do ngài Bồ
Tát Thiên Thân tạo ra. Văn tự đã khó mà nghĩa lý lại thâm,
người học rất khó hiểu. Nay tôi giải thích bổn luận này,
dùng những lời lẽ gọn gàng dễ hiểu, nên gọi là "Dị
giải".
CHÁNH
VĂN
Hỏi:
_ Nếu chỉ có thức, tại sao người thế gian và trong Phật
giáo, đều nói có Ngã và Pháp ?
LƯỢC
GIẢI
Người
đời chấp tất cả sự vật, như núi, sông, cỏ, cây ...đều
thật có. Nay lại nghe nói:"Các cảnh vật ấy đều do thức
biến hiện, chỉ là giả tướng, chớ không phải thật có",
thì họ quyết định không tin. Bởi thế nên Luận chủ đề
xướng Duy thức học, đặt ra những lời vấn đáp, để giải
thích các điều nghi ngờ đó.
Có
người hỏi: _ Nếu chỉ có thức mà thôi, thì tại làm sao,
người thế gian và trong Phật giáo đều nói có Ngã, Pháp
? Nếu lý Duy thức đúng, thì lời người thế gian và Phật
giáo nói sai, còn nếu thế gian và Phật giáo nói đúng, thì
lý Duy thức phải sai. Hai thuyết rất mâu thuẫn nhau, vậy
bên nào nói đúng lý ?
Câu
hỏi này rất khó, nếu không phải bực Bồ Tát trí huệ vô
biên, thì không dễ gì trả lời được.
"Ngã
pháp" nghĩa là gì?_ "Ngã" là chủ tế (tự chủ, có quyền
sắp đặt). Như người đời chấp thân này là "ta"; có quyền
tự chủ, tự tại và sai khiến sắp đặt các việc, như thếgọi
là "Ngã".
"Pháp"
là khuôn phép và giữ gìn; nghĩa là tự nó giữ gìn bản chất
của nó, làm cho người xem đến, thì biết là vật gì. (Nhậm
trì tự tánh, quỹ sanh vật giải).
Như
cái bàn ở trước mặt đây, tự nó giữ gìn bản chất cứng
nhắc, hình dáng dài rộng hoặc cao thấp và có công năng chứa
vật. Một khi người xem đến thì biết là cái bàn. Như thế
gọi là "pháp".
Người
thế gian chấp ngã, như chấp thân mạng loài hữu tình, đều
có quyền tự chủ, tự tại và sai khiến sắp xếp mọi việc.
Người
thế gian chấp pháp, không ngoài ba điểm: Thật (bản chất),
Đức (hình dáng), Năng (công dụng). Như họ chấp nhà cửa
cỏ cây, v.v ...là thật có (thật) hình dáng tốt hay xấu (đức)
và công dụng của nó (nghiệp); mỗi món đều gọi là một
pháp.
Trong
Phật giáo nói ngã, như nói "Tu Đà hoàn, Tu Đà hàm, A Na Hàm,
A la Hán, v.v ...". mỗi tên đều hàm ẩn ý nghĩa: ta đã chúng,
ta được tự chủ và tự tại.
Trong
Phật giáo nói Pháp, như nói "5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, v.v...".
mỗi pháp đều tự giữ gìn bản chất (tự tánh) và hình
dáng của nó; khi người xem đến, có thể biết đó là vật
gì.
Nhưng
chúng ta phải chú ý ở điểm này: Trong Phật giáo nói "ngã"
, không đồng với người thế gian "chấp ngã". Như kinh Kim
Cang nói: "Gọi là Tu Đà Hoàn (Nhập lưu) mà không có Tu Đà
Hoàn (vô sở nhập) thế mới gọi là Tu Đà Hoàn, v.v ..."
Đem
đoạn kinh này để chứng minh, thì chúng ta thầy trong kinh
tuy nói "Ngã", song chỉ có giả danh mà thôi, không phải như
thế gian chấp có thật Ngã.
Đáp:_Nguyên
văn chữ Hán
Tụng
viết:
Do
giả thuyế Ngã Pháp
Hữu
chủng chủng tướng chuyển
Bỉ
y thức sở biến.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói ba câu tụng để trả lời rằng: Thế gian và Thánh
giáo đều giả nói có Ngã, Pháp; bởi vì các tướng Ngã,
Pháp kia đều do thức sanh ra vậy.
LƯỢC
GIẢI
Đại
ý ba câu tụng này nói: Do thế gian và Thánh giáo đều giả
nói có Ngã, Pháp, rồi từ trên thức của người nghe tự
biến ra hình tướng của Ngã, Pháp.
NÓI
VỀ TƯỚNG NGÃ, PHÁP CỦA THẾ GIAN
Như
có ngư6ời đang ngồi yên trong nhà tối, bổng nghe người
nói: "Ở góc nhà kia có con quỉ". Lúc bấy giờ trên thức
của họ liền biến ra con quỉ,tóc tai xù xụ, hình tướng
rất ghê sợ, muốn chụp bắt người. Thật ra không có quỉ,
nhưng trên thức người nghe lại biến ra quỉ. Đây là tướng
Ngã của thế gian, do thức biến vậy.
Có
người ngồi trong nhà, nghe nói: "Tuyết rơi ngoài sân". Lúc
bấy giờ trên thức họ tự biến ra hình tướng tuyết bay
trắng xoá. Thật ra không có tuyết, nhưng trên thức của người
nghe lại biến ra có hình tướng của tuyết. Đây là tướng
Pháp của thế gian, di thức biến ra vậy.
NÓI
VỀ TƯỚNG NGÃ, PHÁP TRONG THÁNH GIÁO
Như
có người nghe trong kinh nói: "Phật có 32 tướng". Rồi từ
trên thức của họ tự biến ra tướng Phật tốt đẹp lạ
thường. Đây là tướng "Ngã" trong Thánh giáo, do thức biến
ra.
Hoặc
nghe nói: "Cõi Phật có 7 món báu trang nghiêm"; rồi từ trên
thức của họ biến ra cảnh Tịnh độ. Đây là tướng "Pháp"
trong Thánh giáo, do thức biến hiện.
***
Ngoại
nhơn đã nghe Luận Chủ nói: "Các tướng Ngã, Pháp đều do
thức biến hiện", thế tất nhiên họ phải nghi rằng:
Hình
tướng của thức thế nào?
Và
có bao nhiêu chủng loại?
Vì
đoán tâm lý của ngoại nhân, nên Luận chủ nói tiếp ba câu
tụng, để trả lời rằng:
Nguyên
văn chữ Hán
Thử
năng biến duy tam
Vị:
Dị thục, Tư lương
Cập
Liễu biệt cảnh thức
Dịch
nghĩa
Thức
Năng biến này có 3 loại:
1.
Dị thục thức (thức thứ Tám)
2.
Tư lương thức (thức thứ Bảy)
3.
Liễu Biệt cảnh thức (6 thức trước).
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
trên nói: "Do thức biến ra các tướng Ngã, Pháp". Đã có cảnh
sở biến (bị biến) tất nhiên phải có thức năng biến.
Đoạn
này nói về thức năng biến. Thức năng biến có ba loại:
1.
Dị thục thức, tức là thức thứ Tám
2.
Tư lương thức, tức là thức thứ Bảy
3.
Liễu biệt cảnh thức, tức là 6 thức trước (từ nhãn thức
cho đến ý thức).
Ba
loại thức Năng biến này, nếu phân tích ra thì có tám thức
(Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỹ thức, Thiệt thức, Thân thức,
Ý thức, Mạt na thức và A lại da thức)