BÀI
THỨ TÁM
VIII.
CHƯƠNG BIỆN ÂM
1.
Ngài Biện Âm Bồ tát hỏi Phật
2.
Phật khen ngài Biện Âm Bồ tát
3.
Phật dạy 25 pháp tu (25 luân)
4.
Tóm lại
5.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên
VIII.
CHƯƠNG BIỆN ÂM
1.
Ngài Biện Âm bồ tát hỏi Phật
Khi
đó NGài Biện Âm bồ tát ở trong đại chúng đứng dậy đi
quanh bên hữu của Phật ba vòng, rồi lạy Phật và quỳ thẳng
bạch rằng:
-Bạch
đức Ðại bi Thế Tôn, vừa rồi Ngài dạy ba pháp môn tu hành
như thế, rất là hy hữu.
Nhưng
các vị Bồ tát, khi muốn nhập Viên giác, đối với ba pháp
môn phương tiện này, có mấy cách tu tập?
Cúi
xin đức Thế Tôn, vì cả đại chúng hiện tại và chúng sanh
đời sau, phương tiện mở bày, khiến cho chúng con đều ngộ
được tướng chơn thật (viên giác).
Thư
thỉnh như vậy 3 lần, rồi Ngài Biện Âm kính cẩn lạy Phật
và trở lui.
LƯỢC
GIẢI
Vừa
rồi ở chương Oai Ðức Tự tại, Phật dạy có 3 pháp môn
tu là “Chỉ, quán và chỉ quán song tu”, rất rõ ràng.
Ðến
chương này Ngài Biện Âm Bồ tát lại hỏi thêm ba pháp môn
phương tiện tren, có mấy cách tu. Nghĩa là mỗi người
chỉ tu một pháp hay cả ba pháp? Ba pháp này tu đồng
thời hay có trước sau? Phải theo thứ lớp tu hay
vượt qua thứ lớp?
2.
Phật khen Ngài Biên Âm Bồ tát
Khi
đó đức Thế Tôn khen ngài Biện Âm bồ tát và dạy rằng:
-Này
Thiện nam, quý lắm! ông vì đại chúng hiện tại và
chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như Lai có bao nhiêu cách tu tập.
ông nên chăm chú nghe, Như Lai sẽ vì các ông mà chỉ giáo.
Khi
đó NGài Biện Âm bồ tát, cùng với Ðại chúng dồng yên
lặng và hoan hỷ nghe lời Phật dạy bảo.
3.
Phật dạy 25 pháp tu
-Này
Thiện nam! Tánh Viên giác thanh tịnh của tất cả Như
Lai, vốn không có pháp bị tu và người tu tập. Song vì
các vị Bồ tát hiện tại và chúng sanh đời sau, chưa nhập
được Viên giác, còn phải phương tiện dùng huyễn pháp để
tu tập; vì thế nên chia ra có 25 cách tu như sau:
LƯỢC
GIẢI
Ðại
ý đoạn này nói: Xứng về tánh “Viên giác thanh tịnh”
thì không có người tu và pháp để tu. Song vì chúng sanh
chưa giác ngộ, còn phải dùng phương tiện tu tập, vì thế
nên Phật chia ra có 25 pháp môn tu.
Tuy
chia ra 25 pháp môn tu, nhưng vẫn y theo 3 pháp là “Chỉ quán
và Chỉ quán đồng thời tu” mà Phật đã dạy ở chương
trước. Có khi tu chung hai pháp, ba pháp, mà có lúc lại
riêng từng pháp một, hoặc tu trước, hoặc tu sau, tùy theo
trình độ của chúng sanh xây qua trở lại thành 25 pháp; song
tu pháp nào cũng đều chứng nhập được viên giác.
1.
Riêng tu một pháp “xa ma tha” (tu định)
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát giữ tâm rất vắng lặng,
nhờ sức vắng lặng này, mà đoạn các phiền não, dược
vĩnh viễn thành tựu rốt ráo tánh Viên giác, thì vị Bồ
tát ấy lúc bấy giờ chẳng rời chỗ ngồi mà vẫn nhập
được Niết bàn, Bồ tát tu như thế, gọi là chỉ tu một
pháp “Xa ma tha” (tu chỉ”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát riêng tu một pháp “Chỉ”. Bồ tát
giữ gìn tâm trạng rất tinh tịch, nên phiền não không sanh,
đó là tu pháp “Chỉ”. Nhờ thế mà Bồ tát được
rốt ráo thành tựu tánh “Viên giác”, đặng quả Niết bàn
của Chư Phật.
2.
Riêng tu một pháp “Tam ma bát đề” (tu huệ)
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát chỉ tu pháp quán “như huyễn”,
và nhờ sức Phật gia hộ, nên Bồ tát ấy biến hóa ra được
thế giới, thì mặc dù Bồ tát làm các diệu dụng độ sanh
(tu quán), đầy đủ công hạnh mầu nhiệm của Bồ tát; nhưng
vẫn không mất niệm tịch tịnh (Ðịnh) và Huệ yên lặng
(Huệ) của Ðà La Ni (Viên giác). Bồ tát tu như thế,
gọi là riêng tu một pháp “Tam ma bát đề”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát riêng tu một pháp “Quán”. Bồ tát
khi tu pháp quán như huyễn, và nhờ thần lực của Phật, nên
biến hiện thế giới uế độ thành Tịnh độ, biến địa
ngục trở thành Thiên cung, vì các pháp đều như huyễn như
hóa. Tu như t hế là tu “Quán”. Bồ tát mặc dù
làm đủ công hạnh lợi tha, mà không rời bản t hể thường
tịch (Ðịnh) và thường chiếu (huệ) của tánh viên giác.
Chữ
“Ðà la ni” ở chương này, đồng với chữ “đà la ni”
trong chương Văn t hù, tức là biệt danh của tánh Viên giác,
như trong chương VĂn thù chép: “Có pháp Ðại Ðà La Ni gọi
là Viên giác”
3.
Riêng tu pháp “Thiền na” (định, huệ đồng tu)
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát chỉ diệt các huyễn, không
chấp thủ tác dụng, riêng đoạn các phiền não, khi phiền
não đoạn hết rồi, thì chứng được thật tướng,
Bồ tát tu như thế, gọi là riêng tu pháp “Thiền na” (chỉ,
Quán song tu).
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát đồng thời tu các “chỉ” và “quán”.
Bồ tát “chỉ diệc các huyễn”, tức là không dùng “Ta
ma bát đề” như đã nói ở trước (không tu quán như huyễn);
“không chấp thủ tác dụng” tức là không tu “xa ma tha”
như dã nói ở trước (không tu chỉ); “riêng đoạn phiền
não” tức là tu “Thiền na” (Chỉ, quán song tu). Hi
đoạn hết phiền não thì Bồ tát chứng đặng thật tướng,
tức là tu “thiền na” mà nhập viên giác tánh.
4.
Trước tu “định” sau tu “huệ”
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát trước giữ gìn nơi rất tịnh
(chỉ) sau dung tịnh huệ (huệ yên tịnh) chiếu soi các pháp
như huyễn như hóa, lúc bấy giờ khởi ra hạnh Bồ tát.
Bồ tát tu như htế, gọi là trước tu “Xa ma tha” (chỉ)
sau tu “Tam ma bát đề” (Quán)
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước tu “Chỉ” sau tu “Quán” - Bồ tát
trước giữ tâm rất tịnh là tu “chỉ”, rồi dùng trí huệ
yên tịnh mà chiếu soi các pháp như huyễn là tu “Quán”.
Lúc bấy giờ Bồ tát trên thì cầu đạo Phật, dưới hóa
độ chúng sanh, đó là thực hành Bồ tát hạnh.
5.
Trước tu “định” sau “định,huệ đồng thời tu”
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát, dùng, trí huệ yên tịnh,
chứng đặng htể tánh rất tịnh, rôì đoạn các phiền não,
vĩnh viễn ra khỏi sanh tử. Bồ tát tu như thế, gọi là trước
tu “xa ma tha” (chỉ) sau tu “thiền na” (chỉ, quán song tu)
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước tu “Chỉ sau “chỉ, Quán song tu”
- Bồ tát dùng trí huệ yên tịnh, chứng được tánh rất
tịnh là tu “chỉ”, đoạn hết các phiền não, vĩnh viễn
ra khỏi sanh tử luân hồi là “chỉ, quán song tu”.
6.
Trước tu “Ðịnh”, thứ tu “Huệ, sau “Ðịnh, Huệ song
tu”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát, dùng trí huệ thanh tịnh, lấy
sức huyễn hóa biến hiện ra các hình thức, để hóa độ
chúng sanh; sau đoạn các phiền não, rồi nhập vào cảnh giới
tịch diệt. Bồ tát tu như thế, gọi là trước tu “xa
ma tha” (chỉ) thứ tu “tam ma bát đề” (quán) sau tu “Thiền
na” (Chỉ, quán song tu).
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trướ ctu “chỉ”, thứ tu (quán), sau “chỉ,
quán song tu”. -Bồ tát dùng trí huệ thanh tịnh là tu “chỉ”,
lấy sức như huyễn mà biến hiện ra nhiều hình thức
để độ chúng sanh là tu “Quán”. Sau Bồ tát đoạn phiền
não rồi vào tịch diệt là “chỉ, quán song tu”.
7.
Trước tu “Ðịnh” thứ “Ðịnh, Huệ song tu”, sau tu
“huệ”
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát dùng sức rất tịnh, đoạn
các phiền não rồi, sau khởi cái hạnh thanh tịnh mầu nhiệm
của Bồ tát, để độ các chúng sanh. Bồ tát tu như
thế, gọi là trước tu “Xa ma tha”, thứ tu “Thiền na”,
sau tu “Tam ma bát đề”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước tu “Chỉ”, thứ “chỉ, quán song
tu”, sau tu “Quán” - Bồ tát trước tu “chỉ” được
rất tịnh, rồi tiến tu “Thiền na” (Chỉ, quán song tu) để
đoạn phiền não. Khi phiền não hết rồi thì Bồ tát
vào trần lao độ sanh, đặng diệu hạnh tự tại vô ngại,
không còn lo sợ nhiễm trước.
8.
Trước tu “Ðịnh”, sau đồng thời tu “Huệ” và “Ðịnh,
Huệ song tu”
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát dùng sức rất tịnh của tâm,
đoạn trừ phiền não và dựng lập thế giới, hóa độ chúng
sanh. Bồ tát tu như thế, gọi là trước tu “Xa ma tha”
sau đồng thời tu “Tam ma bát đề” và “Thiền na”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát truớc tu “Chỉ”, sau đồng thời tu “Quán”
và “Chỉ, Quán song tu” - Bồ tát dùng sức rất tịnh là
tu “Chỉ”, đoạn trừ các phiền não là tu “Thiền Na”,
dụng lập thế giới và hóa độ chúng sanh là tu “Quán”
9.
TRước đồng thời tu “Ðịnh” và “Huệ” sau “Ðịnh,
Huệ song tu”
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát dùng sức rất tịnh, giúp
cho việc biến hóa, sau đoạn các phiền não. Bồ tát
tu như thế, gọi là trước đồng thời tu “Xa ma tha” và
“Tam ma bát đề” sau tu “Thiền na”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước đồng thời tu “Chỉ” và “Quán”
sau “Chỉ, Quán song tu”. Bồ tát dùng sức rất tịnh
là tu “chỉ” giúp việc biến hóa là tu “Quán”, sau đoạn
phiền não là “Chỉ, Quán song tu”.
10.
Trước đồng thời tu “Ðịnh” và “Ðịnh, Huệ song
tu” sau tu “huệ”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức rất tịnh, giúp
cho tịch diệt; sau rồi khởi tác dụng, biến hóa thế giới.
Bồ tát tu như thế, gọi là trước đồng thời tu “xa ma
tha” và “Thiền na”, sau tu “Tam ma bát đề”
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước đồng thời tu “Chỉ” và “Chỉ,
Quán song tu”, sau tu “Quán”. - Bồ tát dùng sức rất tịnh,
để đoạn phiền não, mà vẫn giữ tịch diệt, tức là đồng
thời tu “Chỉ” và tu “Thiền na”. Sau dùng diệu hạnh
của bồ tát ra thế giới hóa độ chúng sanh, tức là tu “Quán”.
Từ pháp tu thứ tư, đến pháp tu thứ mười này cộng 7 pháp
đều là trước tu “Chỉ”.
11.
Trước tu “huệ” sau tu “Ðịnh”
-Này
Thiện nam! Nếu có Bồ tát dùng sức biến hóa tùy thuận
theo các chúng sanh để hóa độ, mà vẫn giữ tánh rất tịnh
Bồ tát tu như thế, gọi là trước tu “Tam ma bát đề”,
sau tu “Xa ma tha”
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước tu “Quán”. Sau tu “Chỉ”.
– Bồ tát dùng sức biến hóa, tùy thuận theo các chúng sanh
để hóa độ là tu “Quán”, mà vẫn giữ tánh rất tịnh
là tu “chỉ”.
12.
Trước tu “huệ” sau “Ðịnh, Huệ song tu”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát, dùng sức biến hóa, hoá hiện
ra các cảnh giới mà vẫn giữ tịch diệt (vắng lặng). Bồ
tát tu như thế gọi là trước tu “Tam ma bát đề” sau tu
“thiền na”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát tu trước “Quán” sau “Chỉ, quán song tu”.
- Bồ tát dùng sức biến hóa là tu “Quán”, biến ra các
cảnh giới, để hóa độ chúng sanh mà vẫn giữ tịch diệt,
thế là “Chỉ, Quán song tu”.
13.
Trước tu “Huệ” thứ tu “Ðịnh” sau “Ðịnh, Huệ
song tu”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức biến hóa, làm các
Phật sự mà vẫn ở yên nơi tịch tịnh, đoạn các phiền
não, Bồ tát tu như thế, gọi là trước tu “Tam ma bát đề”
thứ tu “Xa ma tha” sau tu “thiền na”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước tu “Quán” thứ tu “chỉ”, sau “chỉ,
quán song tu”. - Bồ tát dùng sức biến hóa làm các Phật
sự là tu “Quán”, yên ở chỗ vắng lặng là tu “chỉ”,
đoạn phiền não là “Chỉ quán song tu”
14.
Trước tu “huệ” thứ “Ðịnh, Huệ đồng thời tu”
sau tu “Ðịnh”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức biến hóa, làm các
việc không ngại, đoạn các phiền não và an trụ nơi rất
tịnh. Bồ tát tu như t hế gọi là trước tu “Tam ma
bát đề” thứ tu “Thiền na”, sau tu “Xa ma tha “
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước tu “Quán”, thứ “chỉ, quán song
tu”, sau tu “Chỉ”. - Bồ tát dùng sức biến hóa làm các
việc vô ngại là tu “Quán”, đoạn các phiền não là “Chỉ,
Quán song tu”, an trụ nơi rất tịnh là tu “Chỉ”.
15.
Trước tu “Huệ” sau đồng thời tu “định” và “định,
huệ song tu”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức biến hóa làm các
phương tiện và tùy thuận hai pháp: rất tịnh (chỉ) và tịch
diệt (thiền na). Bồ tát tu như thế, gọi là trước
tu “Tam ma bát đề” sau đồng thời tu “Xa ma tha” và “Thiền
na”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước tu “Quán”, sau đồng thời tu “chỉ”
và “chỉ, quán song tu”. - Bồ tát dùng sức biến hóa làm
các phương tiện là tu “Quán”, tùy thuận tánh rất tịnh
là tu “chỉ”, và tùy thuận tịch diệt là “Chỉ, quán
song tu”.
16.
Trước đồng thời tu “huệ” và “Ðịnh” sau tu “Thiền
na” (định, huệ song tu)
-Này
thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức biến hóa, khởi
ra các công dụng, giúp cho tánh rất tịnh, sau đoạn các phiền
não. Bồ tát tu như thế, gọi là trước đồng thời
tu “Tam ma bát đề” và “Xa ma tha”, sau tu “Thiền na”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước đồng thời tu “Quán” và “chỉ”
sau, sau “chỉ, Quán song tu”. – Bồ tát dùng sức biến hóa,
khởi ra các công dụng là tu “Quán”, giúp cho tánh rất tịnh
là tu “chỉ”, sau đoạn các phiền não là “chỉ, quán song
tu”.
17.
Trước đồng thời tu “Huệ” và “Ðịnh, Huệ song
tu”, sau tu “Ðịnh”.
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức biến hóa, giúp với
tịch diệt, sau an trụ nơi tánh định thanh tịnh, không do
tạo tác. Bồ tát tu như thế, gọi là trước đồng thời
tu “Tam ma bát đề” và “thiền na”, sau tu “xa ma tha”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước đồng thời tu “Quán” và “chỉ,
Quán song tu”, sau tu “chỉ”. - Bồ tát dùgn sức biến hóa
là tu “Quán”, giúp với tịch diện là “Chỉ, quán song
tu”, sau an trụ nơi tánh định thanh tịnh sẵn có, không do
tạo tác, là tu “chỉ”.
CÂu
“TÁnh Ðịnh thanh tịnh không do tạo tác” là chỉ cho “tu
tánh chơn định” sẵn có và thanh tịnh, không do tạo tác
mà thành, cũng không phải dụng công tu tập mà được, xưa
nay nó vẫn thanh tịnh.
18.
Trước “Ðịnh, Huệ song tu” sau tu “định”
-Này
thiện nam! Nếu có Bồ tát dùng sức tịch diệt (vắng
lặng) khởi hạnh rất ịnh, rồi anh trụ nơi thanh tịnh.
Bồ tát tu như thế, gọi là trước tu “Thiền na”, sau tu
“Xa ma tha”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước “Chỉ, quán song tu” sau tu “chỉ”.
- Bồ tát dùng sức tịch diệt, khởi tánh rất ịnh là “chỉ
quán song tu”m rồi anh trụ nơi thanh tịnh là tu “chỉ”.
19.
Trước “Ðịnh, Huệ song tu” sau tu “huệ”.
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức tịch diệt, khởi
ra tác dụng, tuy đối các cảnh, mà vẫn tùy thuận nơi tịch
tịnh. Bồ tát tu như thế, gọi là trước tu “Thiền
na”, sau tu “Tam ma bát đề”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước “Chỉ quán song tu”, sau tu “Quán”.
- Bồ tát dùng sức tịch diệt khởi ra tác dụng độ sanh
là “Chỉ, quán song tu”. Mặc dù bồ tát làm các hạnh
lợi sanh mà vẫn tùy thuận nơi tịch tịnh là tu “Quán”.
20.
Trước “Ðịnh, Huệ song tu” thư tu “Ðịnh” sau tu “huệ”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức tịch diệt, quán
tự tánh các chúng sanh, an trụ nơi Ðịnh, mà vẫn biến hóa
các pháp để độ sanh. Bồ tát tu như thế, gọi là trước
tu “Thiền na”, thứ tu “Xa ma tha” sau tu “tam ma bát đề”
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước “Chỉ, quán song tu”, thứ tu “chỉ”,
sau tu “Quán” - Bồ tát dùng sức tịch diệt, quán tự tánh
các chúng sanh để hóa độ, là “chỉ, quán song tu”; an trụ
nơi Ðịnh là tu “chỉ”, biến hóa các pháp để độ sanh
là tu “Quán”.
21.
Trước “Ðịnh, Huệ song tu” thứ tu “Huệ”, sau tu “Ðịnh”
-Này
thiện nam! Nếu có Bồ tát dùng sức tịch diệt của
tự tánh vô tác, để khởi ra tác dụng độ sanh, rồi y nơi
cảnh giới thanh tịnh mà trở về nơi Ðịnh. Bồ tát
tu như thế, thì gọi là trước tu “Thiền na”, thứ tu “Tam
ma bát đề”, sau tu “Xa ma tha”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước “Chỉ, Quán song tu” thứ tu “Quán”
sau tu “chỉ”. - Bồ tát dùng sức tịch diệt của tự tánh
vô tác, để khởi ra tác dụng độ sanh, là “chỉ, quán song
tu”. Bồ tát y nơi cảnh giới thanh tịnh là tu “Quán”,
sau trở về nơi Ðịnh là tu “chỉ”.
Chữ
“Tự tánh vô tác”, nghĩa là: tự tánh sẵn có không do tạo
tác mà thành.
22.
Trước tu “thiền na” (Ðịnh, huệ song tu) sau đồng thời
tu “Ðịnh và huệ”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức tịch diệt, mỗì
mỗi thanh tịnh, an trụ ở nơi Ðịnh, mà khởi ra các món
biến hóa. Bồ tát tu như thế, gọi là trước tu “Thiền
na”, đồn gt hời tu “Xa ma tha” và “Tam ma bát đề”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước “Chỉ, Quán song tu” sau đồng thời
tu “Chỉ” và “quán”. - Bồ tát dùng sức tịch diệt,
mỗi mỗi thanht ịnh là “chỉ, Quán song tu” an trụ ở nơi
định là tu “chỉ” khởi ra các món biến hóa là tu “Quán”.
23.
Trước đồng thời tu “thiền na” và tu “Ðịnh” sau
tu “huệ”
-Này
thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức tịch diệt, giúp
cho tan1h rất tịnh, sau khởi ra việc biến hóa. Bồ tát
tu như thế, gọi là đồng thời tu “Thiền na” và “Xa ma
tha” sau tu “Tam ma bát đề”
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước đồng thời “Chỉ, Quán song tu”
và tu “Chỉ” sau tu “Quán”. - Bồ tát dùng sức tịch diệt
là “Chỉ, quán song tu”, giúp cho tánh tất tịnh là tu “Chỉ”,
khởi ra các việc biến hóa là tu “Quán”
24.
Trước đồng thời tu “thiền na” và “huệ”, sau tu “Ðịnh”
-Này
Thiện nam! Nếu có bồ tát dùng sức tịch diệt giúp
việc biến hóa, sau khởi tánh rất tịnh, ở cảnh giới trí
huệ trong sáng. Bồ tát như thế, gọi là đồng thời
tu “Thiền na” và “Tam ma bát đề” sau tu “Xa ma tha”
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát trước đồng thời “chỉ, quán song tu”
và tu “Quán”, sau tu “chỉ”. – Bồ tát dùng sức tịch
diệt là “chỉ, quán song tu”, giúp việc biến hóa là tu
“Quán”, sau khởi tánh rất tịnh v.v.. là tu “chỉ”.
25.
Bồ tát viên tu ba pháp
-Này
thiện nam! Nếu có bồ tát dùng huệ Viên giác, viên hiệp
các háp, naò tánh, tướng của các pháp đều không rời tánh
Viên giác, bồ tát như t hế, gọi là viên tu ba pháp, tùy thuận
tánh viên giác thanh tịnh.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này nói Bồ tát viên tu ba pháp
Bồ
tát cùng Viên giác huệ, viên hiệp tất cả các pháp.
Nào Ðịnh, Huệ và Ðịnh Huệ song tu, nào tánh, tướng của
các pháp đều không rời tánh Viên giác.
4.
Tóm lại
-Này
thiện nam! Ðây là 25 pháp tu của Bồ tát. VẬy các
bồ tát phải y theo đây mà tu hành
Nếu
các bồ tát hiện tại và chúng sanh đời sau, muốn y theo 25
pháp môn này mà tu hành , thì phải giữ giới thanh tịnh, tâm
suy nghĩ vắng lặng và phải trải qua 21 ngày thành tâm sám
hối, rồi viết 25 pháp môn này vào mỗi miếng giấy, niêm
lại kỹ, đem để trên bàn Phật và chí tâm cầu khẩn, rồi
tùy tay hành giả rút một miếng giấy, khi mở ra xem thì hành
giả sẽ biết trình độ của mình tu pháp Ðốn hay Tiệm.
Song nếu hành giả một niệm nghi ngờ, thì chẳng thành tựu.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này Phật kết thúc lại và dạy rằng: Ðây là 25 pháp
tu của Bồ tát. Nếu có người muốn tu theo 25 pháp này, thì
điều cần yếu là phải giữ giới cho thân tâm được thanh
tịnh và chí thành cầu sám hối 21 ngày. Rồi hành giả
viết tên 25 pháp tu này vào 25 miếng giáy, xếp gói riêng từ
miếng, để chung lại trên bàn. Hành giả phải chí thành
cầu nguyện, rồi tùy ý rút ra một thăm, sau khi giở ra xem,
hành giả sẽ tự biết căn cơ của mình Ðốn hay Tiệm và
p hải y theo đó mà tu hành. Nếu hành giả có một niệm
nghi ngờ thì chẳng thành tựu.
Tóm
lại, 25 pháp tu này không ngoài định, Huệ và Ðịnh Huệ
song tu; chẳng qua tùy theo trình độ của hành giả có sâu
cạn, cao thấp không đồng, nên co 1khi phải tu Ðịnh trớc
rồi Quán sau; có khi phải tu Quán trước rồi Ðịnh sau; lắm
lúc phải tu đồng thời v.v.. Vì tùy theo trình độ của hành
giả, mà thay đổi trước sau, xaoy qua trở lại nên thành ra
25 pháp. Vậy hành giả nên tùy theo trình độ của mình
mà tu tập
5.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên
Khi
đó Ðức Thế Tôn muốn tóm lại nghĩa này, nên nói bài kệ
rằng:
Biện Âm! ông nên biết:
Các trí huệ thanh tịnh
Của
tất cả Bồ tát
Ðều
do Thiền định sanh
Thiền
định là “Chỉ, Quán”
Và
“Chỉ, Quán song tu”
BA
pháp, phân Ðốn, Tiệm
Thành
ra hai mươi lăm
Mười
phương các Như Lai
Và
hành giả ba đời
Ðều
y pháp môn này
Mà
đặng thành Bồ đề
Chỉ
trừ người đốn ngộ
Và
nhữn gngười không tin
Mới
chẳng theo pháp này
Còn
tất cả bồ tát
Và
chúng sanh đời sau
Phải
như th ế tu hành
Nhờ
Ðại bi của Phật
CÁc
ông siêng tu
Sẽ
mau chứng niết bàn.
LƯỢC
GIẢI
Ðại
ý bài kệ này nói: Trí huệ thanh tịnh vô ngại của các bồ
tát đều do Thiền định sanh. Thiền định là Chỉ, Quán
và Chỉ Quán song tu. Bởi theo căn cơ của hành giả có
đốn và Tiệm không đồng, nên ba pháp này lại chia ra đến
25 pháp.
Chỉ
trừ những bực đốn ngộ và những người không tin, còn
chư Phật và các vị Bồ tát cùng chúng sanh đời sau đều
tu theo các pháp môn này mà được thành Bồ Ðề.
Vậy
hành giả nên y theo đây, siêng năng tu tập và nhờ lòng Ðại
bi của Phật gia hộ, sẽ mau chứng Niết Bàn.