Mục
Lục Khóa Thứ Ba
Thinh
Văn Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 9
Ðạo
Ðế (Nirodha Gamadukkha)
(Tiếp
theo)
Ngũ
Căn Ngũ Lực
A.
Mở Ðề
Trong
37 món trợ đạo, Ngũ căn và Ngũ lực là những phương pháp
quý báu, cũng quan trọng như các pháp khác; có thể đưa người
tu hành từ địa vị phàm phu đến các Thánh quả trong ba thừa.
Chúng là sự phục sức trang nghiêm, là phương tiện công hiệu
giúp người thẳng tiến trên bước đường tu đạo, chứng
quả. Vậy Phật tử chúng ta không thể không biết để trì
hành.
B.
Chánh Ðề
I.
Ðịnh Nghĩa Ngũ Căn
Ngũ
căn là năm căn. Căn đây tức là căn bản, là gốc rễ, là
nguồn gốc để tất cả các thiện pháp xuất phát.
Luận
Trí Ðộ, quyển thứ mười, giải rằng: "Năm căn này là căn
bản để phát sanh tất cả thiện pháp, nên gọi là ngũ căn".
Năm căn ấy là: Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Ðịnh căn, Huệ
căn.
II.
Thành Phần Và Nội Dung Ngũ Căn
1.
Tín căn: là lòng tin mạnh mẽ vững chắc. Lòng tin này không
giống như lòng tin mù quáng, vô điều kiện, bất chấp lý
trí của phần nhiều ngoại đạo. Lòng tin ở đây là con đẻ
của lý trí, là kết qủ của sự suy luận sáng suốt, của
sự quan sát kỹ càng. Ðức Phật không bao giờ bắt buộc
Phật tử tin một điều gì mà không suy luận được, không
giải thích được.Vì lòng tin của người Phật tử khởi
từ trí xét đoán. Bởi thế nên nó vô cùng vững chắc, mãnh
liệt. Chính nó là căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật
dạy: "Tin là mẹ vô lượng của công đức". Nhưng Phật tử
tin cái gì? Phật tử tin Tam Bảo:
Tin
Phật: Phật tử biết rằng đức Phật là đấng hoàn toàn
giác ngộ, giải thoát. Vì thế, Phật tử suốt đời tin tưởng
theo Phật, để hướng tiến đến sự giác ngộ, giải thoát
mà Phật đã thân chứng.
Tin
pháp: Pháp là chân lý, là sự thật mà đức Phật đã khám
phá ra và truyền lại cho chúng ta. Hay nói một cách khác, pháp
là giáo lý đúng như sự thật mà đức Phật đã thuyết minh.
Chúng ta tin tưởng những giáo lý ấy, vì người nói ra là
đức Phật, đã thân chứng được và giác ngộ được nhờ
giáo lý ấy.
Tin
Tăng: Tăng là người thật hành các giáo lý của Phật để
giác ngộ mình và người, là kẻ thay Phật đưa cao ngọn đuốc
chánh pháp sáng ngời, để soi đường cho chúng sinh. Vì thế,
Phật tử suốt đời quy hướng về Tăng.
2.
Tấn căn: Tấân là tinh tấn. Tấn căn là sự dũng mãnh tinh
tấn trên bước đường tu tập không bao giờ thối lui. Nếu
đã có lòng tin chắc chắn mà không tinh tấn thực hiện, làm
theo những điều mình tin, thì lòng tin suông ấy trở thành
vô dụng, không đưa chúng ta đến đâu cả.
Vậy
cho nên người Phật tử đã tin Tam Bảo, thì phải luôn luôn
tinh tấn thực hành giáo lý của Phật.Theo Luận Nhiếp Ðại
Thừa, tinh tấn có ba thứ:
Bị
giáp tinh tấn: Nghĩa là mang áo giáp tinh tấn. Người Phật
tử trong cuộc chiến đấu để diệt trừ đau khổ, tiến
tới giải thoát, cần phải mang áo giáp tinh tấn, để khi
xông pha vào trận địa "phiền não", khỏi bị ma quân hảm
hại. Nhờ có áo giáp này, người Phật tử tin tưởng ở
năng lực của mình hùng dũng tiến tới, không sợ gian nan
nguy hiểm, không lùi bước trước một trở ngại hay một
địch thủ nào.
Gia
hạnh tinh tấn: Nghĩa là luôn luôn gắng sức không bao giờ
dừng nghĩ trên bước đường đi đến giải thoát. Với thứ
tinh tấn này, người Phật tử càng tiến càng hăng, càng thêm
sức lực, càng phấn chí không bao giờ biết mệt mỏi.
Vô
hỷ túc tinh tấn: Vô hỷ túc tinh tấn nghĩa là không vui sướng
tự mãn, cho là vừa đủ khi mới thu được một ít thắng
lợi trên đường tu hành. Người Phật tử chưa chứng được
Phật quả, thì còn gia công gắng sức tu luyện mãi, chứ không
chịu dừng nghỉ, vui thú với một quả vị thấp thỏi, tạm
bợ, như người bộ hành khi chưa đến đích cuối cùng, thì
còn hăng hái bước mãi, chứ không chịu chấm dứt cuôĩc
hành trình của mình, bằng cách an phận ở mãi trong quán trọ
bên đường.
3.
Niệm căn: Niệm là ghi nhớ. Ghi nhớ những gì?
a)
Thứ nhất niệm thí: nghĩa là nhớ tu bố thí. Người Phật
tử thường ngày nhớ đem tài sản bố thí cho người bần
cùng; đem hùng lực cứu giúp người sợ hãi; đem chánh pháp
chỉ giáo cho người si mê, khiến họ hết khổ được vui.
b)
Thứ hai niệm giới: nghĩa là nhớ trị tịnh giới để đoạn
trừ các phiền não nghiệp chướng, tăng trưởng mọi hạnh
lành. Giới có ba thứ:
Nhiếp
luật nghi giới: Những giới để ngăn cấm các hạnh nghiệp
thô xấu, đoạn diệt các nghiệp chướng nơi thân tâm.
Nhiếp
thiện pháp giới: Những quy điều đúng pháp và lợi ích,
người thực hành theo nó, có thể thành tựu tất cả pháp
lành.
Nhiêu
ích hữu tình giới: Những điều luật làm lợi ích an lạc
cho tất cả chúng sinh.
c)
Thứ ba niệm thiên: Luận Nhiếp Ðại Thừa có nói: "Thiên
niệm trụ là an trụ bón món thiền định". Vậy niệm thiên
là nhớ tu các niệm thiền định, để gạn sạch tất cả
phiền não, thể chứng chân như:
4.
Ðịnh căn: Ðịnh hay tịnh lự do dịch nghĩa chữ Phạn là
Dhyana (Thiền na). Ðịnh là lắng tâm yên tịnh, chuyên chú
vào chánh pháp, để suy đạt thật nghĩa của nó. Theo Luận
Nhiếp Ðại Thừa, định có thể chia làm ba bậc:
An
trụ định: Ðêt tâm an trụ vào định cảnh, không cho tán
động, do đó phiến não được tiêu trừ.
Dẫn
phát định: Do đoạn sạch phiền não nên được phát sanh
sáu món thần thông là các công đức thù thắng.
Thành
sở tác sự định: Do đã phát khởi được các công đức,
thần thông, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh;
cứu độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng được Niết
Bàn.
5.
Huệ căn: Huệ là trí huệ sáng suốt, thâm nhập được chân
tướng của vạn pháp. Trsi huệ ấy không có sự phân biệt,
vì phân biệt là tác dụng của vọng thức, là mê lầm. Cũng
theo Luận Nhiếp Ðại Thừa, trí huệ có ba thứ:
Vô
phân biệt gia hạnh huệ: Quán trí nầy không còn thấy có
phân biệt, nhưng còn có gia hạnh, nghĩa là còn phải dụng
công tu hành, để thành tựu hoàn toàn vô phân biệt trí. Vì
thế, nên gọi là " vô phân biệt gia hạnh huệ".
Vô
phân biệt huệ: Trí huệ nầy không có sự phân biệt, mà
không cần phải gia hạnh vì đã thuần phục. Do không phân
biệt nên không có mê vọng. Nhờ trí huệ này, người tu hành
được tự tại thể chứng nhân như.
Vô
phân biệt hậu đắc huệ: Hay hậu đắc trí, nghĩa là trí
huệ có được sau khi đã chứng được chân như. Trí huệ
này hoàn toàn sáng suốt, tỏ ngộ được thật nghĩa của
các pháp. Chư Phật nhờ hậu đắc trí nầy mà thi tác vô
lượng công đức, để cứu độ chúng sanh.
Nói
một cách tổng quát giản dị, huệ căn là trí huệ do thiền
định đã làm lặng sạch. Nó không đạt được sự thật
của các pháp; nó là căn nguyên phát sanh mọi việc vĩ đại
để giải thoát chúng sinh.
II.
Ðịnh Nghĩa Ngũ Lực
Ngũ
lực tức là năm năng lực vĩ đại, năm thần lực của Ngũ
căn. Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm cánh tay, còn
ngũ lực như là sức mạnh của năm cánh tay ấy.
IV.
Thành Phần Và Nội Dung Của Ngũ Lực
1.
Tín lực: tức là thầnlực của đức tin, hay sức mạnh lớn
lao, vi diệu do tín căn phát sinh.
2.
Tấn lực: tức thần lực của đức tinh tấn, hay sức mạnh
bất thối chuyển, kiên cố, có thể sang bằng mọi trở lực,
sức mạnh này do tấn căn phát sinh.
3.
Niệm lực: tức là thần lực của sự ghi nhớ, hay sức mạnh
lớn lao bền chắc của niệm căn.
4.
Ðịnh lực: tức thần lực của sự tập trung tư tưởng hay
sức mạnh vĩ đại của định căn.
5.
Huệ lực: tức thần lực của trí huệ hay sức mạnh vô biên
của huệ căn.
Nói
một cách tổng quát, những sức mạnh nầy là kết quả thâu
đạt được do sự kiên cố tu luyện của Ngũ căn. Nó như
là một ngọn lửa bật lên sai khi người ta đã nỗ lực cọ
sát hai cây củi vào nhau để lấy lửa.
C.
Kết Luận
Diệu
Dụng Của Ngũ Căn Và Ngũ Lực
Như
chúng ta đã thấy ở trên, Ngũ căn và Ngũ lực vừa làm hai
căn bản, vừa là nghị lực để phát sinh, tăng trưởng vô
lượng công đức thù thắng.
Bất
luận người nào, hễ đã lấy trí làm nền tảng, tinh tấn
thật hành chánh pháp (tấn), hằng ghi nhứ chánh pháp để
tiến tu (niệm), tập trung tư tưởng để trừ sạch vô minh
phiền não, đem diệu huệ vô phân biệt (huệ) để chứng
chân như, thì người ấy thế nào cũng nắm chắc trong tay
quả vị vô thượng Bồ đề. Vì sao? Vì người ấy đã có
những thần lực vĩ đại (Ngũ lực) do Ngũ căn gây tạo. Với
ngũ lực nầy, hành giả như người bộ hành có đủ phương
tiện linh lợi, diệu dụng để băng rừng, vượt biển và
đi đến đích cuối cùng. Ðích cuối cùng của người tu hành
theo chánh pháp tức là thành Phật.Ðến đích này, người
ấy là ánh sáng của chúng sinh gieo mầm an lạc. Chính người
mới có đủ thần lực, diệu dụng làm cho chúng sinh trở
thành những kẻ hoàn tàon giải thoát, hoàn toàn giác ngộ.
Kết
qủa của Ngũ căn và Ngũ lực lớn lao, quý báu như thế đó,
chúng ta không thể không tu theo hai pháp môn ấy.
09-2
Ðạo đế (Thất bồ đề phần