Mục
Lục Khóa Thứ Hai
Thiên
Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 10
Tịnh
Ðộ
A.
Mở Ðề
Trong
vũ trụ có vô lượng thế giới
Như
đức Phật ngày xưa đã dạy và các nhà khoa học ngày nay
đã xác nhận, trong vũ trụ nầy có hằng hà sa số thế giới.
Mỗi đem, chúng ta ngước mặt lên dòm trời, bao nhiêu ngôi
sao lấp lánh hay lu mờ xa tít, hiện ra trước mắt ta đây
là bao nhiêu thế giới. Ngay một dãy ngân hà với những đám
trắng lờ mờ như mây bạc đó, cũng đã chứa đựng từng
triệu thế giới rồi. Huống cho trong vũ trụ, đâu phải chỉ
một dãy ngân hà mà có mấy ngàn dãy như thế. Cái phần chúng
ta thấy được mỗi đem, mặc dù không thể đếm hết, chỉ
mới là phần trất nhỏ so với vũ trụ mênh mông mà ta không
thể thấy được.
Trong
kinh thường dạy: phương Ðông có vô số thế giới như cát
sông hằng, mà phương Tây, phương Nam, phương Bắc cũng như
thế (kinh Di đà).
Nhưng
chỉ có thế giới Cực lạc (Tịnh độ) là vui hơn cả
Trong
bao nhiêu thế giới ấy, có thế giới ô uế, có thế giới
thanh tịnh, có thế giới đau khổ, có thế giới an vui, có
thế giới mới thành hình, có thế giới sắp tiêu diệt, có
thế giới thiên về vật chất, có thế giới trọng về tinh
thần.
Theo
lời đức Phật Thích Ca dạy, thì trong vô lượng thế giới
ấy, chỉ có thế giới Cực lạc hay Tịnh độ của đức
Phật A Di_Ðà là vui hơn cả.
Hôm
nay chúng tôi xin trình bày về thế giới Cực lạc ấy, theo
như lời đức Phật Thích Ca đã dạy.
B.Chánh
Ðề
I.
Danh Hiệu Và Cảnh Trí Cõi Cự Lạc Hay Tịnh Ðộ
Một
hôm nhìn thấy Ðức Phật Thích Ca, dung mạo khác lạ, vô cùng
hoan hỷ, Ngài A Nan mới hỏi Phật:
Hôm
nay tại sao dung mạo của Phật lại khác hơn ngày thường?
Phật
dạy rằng:
Ta
cảm nhớ đức Phật A Di Ðà, muốn nhắc đến nhân địa
của Ngài, để chỉ dạy cho chúng sanh pháp môn tu Tịnh độ.
Ngày
dạy rằng: từ cõi Ta Bà nầy hướng về phía tây, hơn mười
muôn ức cõi, có một thế giới gọi là Cực lạc hay Tịnh
độ. Ở nước đo có đức Phật, hiệu là A Di Ðà, Ngài thường
thuyết pháp. Cảnh giới ở nước thanh tịnh ấy, vô cùng
đẹp đẽ, sáng lạng vui tươi, phong cảnh cả toàn xõi như
là một vườn hoa vĩ đại với những hàng cây ngay ngắn,
những tường hoam những dây leo rũ xuống như màu gấm, như
lụa là; có những hồ nước chứa đầy những thứ nước
có tám công đức. Ðáy hồ lát bằng cát vàng; trong hồ có
những hoa sen lớn bằng bánh xe, đủ màu sắc, hương tỏa
thơm ngát, và có hòa quang đẹp đẽ: hễ hoa màu xanh, thì
phát ra hòa quang xanh; hoa màu trắng, thì phát ra hòa quang trắng;
hoa màu hồng, thì phát ra hòa quang hồng...Ðường sá cầu
cống, đèn đài, điện các ở cõi Tịnh độ đều làm bằng
ngọc vàng châu báu, vô cùng quý giá.
Chim
chóc ở đây là những thứ chim báu, như bạch hạc, khổng
tước, anh vỏ, xá lợi, ca lăng, tần già v.v...những thứ
chim này, ngày đem sáu thời, hót ra những thứ tiếng pháp
vi diệu, hòa lẫn trong những điệu nhạc thiêng, làn cho ai
nghe đến, cũng phải liền phát tâm hoan hỷ niệm Phật. Các
loài chim do đức Phật A Di Ðà biến hóa ra để thuyết [háp
cho chúng sinh nghe. Chẳng những chim biết nói pháp, mà cho đến
nước chảy, gió thổi cây reo đều là những lời thuyết
pháp vi diệu, ai nghe cũng đều phát tâm niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng. Ở đấy, không bao giờ có bóng tối, vì
nhờ hào quang của Phật phát ra, sáng chói luôn luôn. Cảnh
giới trang nghiêm, huy hoàng, xinh đẹp như thế là do sức đại
nguyện của đức Phật A Di Ðà, các bậc Bồ Tát và Thánh
chúng, toàn là bậc Thượng thiện gây nên.
Trong
hoàn cảnh thuận tiện, vui tươi như thế nên tất cả mọi
người ở đấy, ai cũng tinh tấn tu hành và dễ được thành
đạo nghiệp.
II.
Những Ðiều Kiện Ðể Vãng Sanh Về Cõi Tịnh Ðộ
Muốn
được sanh về cõi Tịnh độ, trước tiên cần phải đủ
ba điều kiện sau đây:
1.
Ðức tin chắc chắn:
Trong
kinh Hoa Nghiêm có nói: "Tin là mẹ các công đức. Tin có thể
thành tựu quả bồ đề". Lòng tin có ba khía cạnh:
a)
Tin Phật là đáng sáng suốt từ bi cứu khổ mọi loài. Vì
muốn cứu độ chúng sanh mau hết khổ sanh tử, nên Ngài mới
chỉ bày cảnh Tịnh độ của Phật A Di Ðà là một cảnh
có thật.
b)
Tin giáo pháp của Phật nói ra là đúng đắn chơn thật, dạy
chúng ta phải nhất tâm niệm Phật, cầu vãnh sanh về cảnh
giới của Phật A Di Ðà. Chúng ta tin chắc theo giáo pháp của
Ngài mà tu hành thì sẽ được thành công.
c)
Tin ở nơi sức mạnh của mình. nếu ta thật tâm tin chắc:
ta là Phật sẽ thành, nhất tâm trì niệm danh hiệu Phật,
quyết chắc sẽ được vãnh sanh cõi Tịnh độ.
2.
Lập nguyện vững vàng:
Nguyện
là ý muốn tốt đẹp. lập nguyện vững vàng nghĩa là thiết
tha mong muốn, lập chí nguyện không thối chuyển, quyết sinh
về Cực lạc, dù có gặp bao trở ngại gian lao, khổ sở.
Phải có tấm lòng thiết tha, không giờ phút nào xao lãng ý
muốn được về gần Phật A Di Ðà, như con đi xa thiết tha
được về gặp mẹ.
Trong
mọi công việc lớn lao, chí nguyện là quan trọng. Không có
chí nguyện, thì không có gì thành tựu được cả. một nhà
văn đã viết rất đúng: "Ðường đi khó, không khó vì ngăn
sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Người
có chi nguyện, như thuyền có lái, như ngựa có cương. Từ
việc đời cho đến việc đạo, muốn thành công, điều cần
yếu là lập chí nguyện cho vững vàng.
3.
Thực hành theo đúng chí nguyện:
Ðã
so chí nguyện rồi, phải thực hành theo đúng chí nguyện.
Thực hành ở đây là luôn luôn trì niệm danh hiệu Phật A
Di Ðà, niệm luôn luôn trong khi đi đứng, nằmd ngồi, cho đến
"nhất tâm bất loạn".
Tóm
lại, điều kiện tiên quyết để vãng sanh về thế giới
Cực lạc của Phật A Di Ðà, không có gì khó khăn, cũng không
có gì bó buộc lắm, mà trái lại, bất luận ai, sang hèn,
giàu nghèo, trí thức hay thiếu học đều có thể có được.
Ðó là: Có đức tin mạnh mẽ, lập nguyện vững vàng, thực
hành theo đúng chí nguyện. Có đủ ba yếu tố Tín, hạnh,
Nguyện, là có thể oớc lên đường đi đến cõi Cực lạc.
Cuộc hành trình ấy có thể chậm có thể mau, có thể khó
khăn có thể dễ dàng, nhưng ai đã có đủ ba điều kiện
ấy, thì thế nào cũng đến đích, Ðức Phật A Di Ðà lúc
nào cũng sẵng sàng chờ đợi để đón tiếp chúng ta, như
mẹ chờ con đi xa về. Nhưng nếu mẹ chờ con mà con không
nhớ mẹ, không muốn quay về, thì mặc dù có gần nhau đi
nữa, cũng chẳng khác gì hai người xây lựng lại với nhau
mà đi, một người đi về phương Nam, một người đi về
phương Bác, càng đi càng xa, không thể gặp nhau được nữa.
Trái lại, nếu con nhơ mẹ, mọt lòng muốn gặp mẹ, trong
lúc mẹ cũng đang nhớ và chờ đợi con thì, cũng như hai người
hướng về nhau mà đi, mọt người ở phương Tây đi về phương
Ðông, một người ở phương Ðông đi về phương Tây, mặc
dù có cách xe muôn trùng, thế nào cũng sẽ gặp nhau.
Ta
tin có Phật A Di Ðà, ta quyết tâm thực hiện chí nguyện ấy,
thì mặc dù cõi Cực lạc cách xa mười muôn ức cõi, khi lâm
chung, ta cũng sẽ được đức Phật A Di Ðà và Thánh chúng
hiện ra để tiếp độ ta về cõi ấy.
III.
Pháp Tu Về Cực Lạc (Tịnh Ðộ)
Phương
pháp tu về Cực lạc có nhiều lối, nhưng không ngoài các
pháp niệm Phật. Ðây lược kể bốn pháp niệm Phật:
1.
Trì danh niệm Phật:
Trì
danh niệm Phật tức là giữ một lòng nhớ nghĩ danh hiệu
Phật, là niệm "Nam mô A Di Ðà Phật ". Khi đi, đứng, nằm,
ngồi, ăn, uống cũng niệm. Niệm từ buổi mai khi mới thưc
dậy, cho đến buổi tối, trước khi đi ngủ. Niệm suốt cả
ngày không xen hở. Khi gần đi ngủ, ngồi xếp bằng bán già
hay kiết già, chắp tay mà nguyện rằng:
"Con
tin lời của đức Phật A Di Ðà, giữ một lòng niệm danh
hiệu Ngài, nguyện đời nầy, bao nhiêu tội chướng thảy
đều tiêu sạch, đến khi lâm chung được Phật và các vị
Bồ Tát, đến tiếp dẫn chúng con về Cực lạc.
2.
Tham cứu niệm Phật:
Pháp
niệm Phật tương tợ pháp trì danh, nhưng mà có khác nghĩa,
làm môi miệng không động, niệm không ra tiếng, mà trong tư
tưởng có niệm Phật.
Khi
niệm có tiếng thì xét tiếng ấy từ đâu mà sanh ra. Ðến
khi hết niệm không nghe nữa, thì xét tiếng ấy coi nó đi
vào chỗ nào. Xét cho biết chỗ sinh ra, chỗ trở về là đã
được một phần công phu khá cao rồi, cứ giữ như thế mà
niệm, đừng cho tán loạn, thì chắc có ngày minh tâm kiến
tánh.
3.
Quán tưởng niệm Phật:
Là
quán tưởng hình dung đức Phật à ở trước mắt ta, mình
cao một trượng sáu thước, đứng trên hoa sen, và quán thân
ta cũng ngồi trên hoa sen, chắp tay hầu Phật. Phật thấy ta,
ta thấy Phật. Quán như thss lâu ngày, đi, đứng, nằm, ngồi,
nhắm mắt, mở mắt đều thấy Phật, tức là pháp quán đã
thuần thục.
4.
Thật tướng niệm Phật:
Thật
tướng niệm Phật là niệm Phật hợp với chân tâm. Vì tất
cả các pháp đều do tâm biến hiện, bởi tâm biến hiện,
nên tướng nó đều là hư vọng (phàm sở tướng, giai thị
hư vọng), duy có chân tâm là chân thật, không sinh, không diệt;
không chứ, không lai, xưa nay thanh tịnh bình đẳng như như,
không hư vọng, không biến diệt, cho nên mới gọi là thật
tướng.
Ba
pháp niệm Phật trước thuộc về Sự, có tánh cách tiệm
tu và tiệm quán. Ðến pháp thứ tư nầy, là thuộc về Lý
tánh, cao siêu hơn cả. Niệm Phật đến đây, mới hoàn toàn
rốt ráo, mới ngộ tánh mình là Phật A Di Ðà, tâm mình là
cảnh Tịnh độ.
Nhưng
chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng: nhờ có Sự mới hiển
ra Lý. Trớc hết cũng do Trì danh niệm Phật, Quán tưởng niệm
Phật v.v...nhờ lối dụng công tu ba pháp trước, đến lúc
thuần thục không còn thấy có mình là người niệm Phật
và Phật là một vị mình niệm, chỉ còn có một chơn tánh
vừa yên lặng, vừa chiếu soi không năng, không sở, không
bỉ, không thử, không hữu, không vô. Chỗ này chính như trong
Kinh tứ Thập Nhị Chương, Phật nói: "Niệm đến chỗ vô
niệm"; hay trong kinh A Di Ðà nói: "Ðược nhứt tâm bất loạn".
IV.
Sự Quan Hệ Của Niệm Phật Trong Lúc Lâm Chung
Theo
quan niệm sai lầm của phần đông, thì khi ông bà cha mẹ chết,
con cháu phải khóc cho nhiều mới là có hiếu. Nhiều gia đình
lại còn thuê người đến "khóc mướn" để cho "rậm đám".
Theo đạo Phật thì trái lại, lúc ông bà cha mẹ chết, mà
con cháu khóc lóc nhiều, làm ồn, rối loạn tâm thần người
sắp chết là con cháu bất hiếu. Thật thế, phút quan trọng
ấy cần để cho người sắp lâm chung được yên tĩnh, đừng
làm cho họ động tâm, cảm xúc quá mà khó lìa bỏ cõi đời.
Một
điều quan trọng nữa là, khi gần lâm chung, biết rằngk thể
sống được, các trần duyên nên buông bỏ, đừng mến tiếc
của cải, nhà cửa đẹp, con cháu ngoan. Lòng quyến luyến
ấy làm cho người sắp từ trần khó vãnh sanh. Trong sách có
ví dụng: như con cò bị con ngao kẹp miệng lại, mặc dù có
đủ cánh quạt mạnh, mà không thể bay lên được.
Nên
nhớ rằng trong các nghiệp nhân, cận tử nghiệp (nghiệp trước
khi lâm chung) là có một lực rất lớn trong sự đầu thai.
Nếu còn tâm niệm tham lam mến tiếc, thì bị luân hồi trở
lại, để giữ gìn của cải, và kết duyên làm tình nghĩa
ái ân nữa, mãi mãi sanh tử luân hồi không dứt.
Vậy
trong phút lâm chung, người đương sự cần có tâm hồn thanh
thoát, không luyến tiếc đau khổ, mà trái lại, phải thiết
tha cầu sinh Tịnh độ. Còn những người thân thuộc thì phải
tránh sự khóc lóc, níu kéo người sắp từ trần và phải
hộ niệm hết sức thành tâm, để vong linh người lâm chung
được nhẹ nhàng siêu thoát.
V.
Pháp Môn Niệm Phật Dễ Tu Và Chắc CHắn Có Kết Quả
Ðạo
Phật có muôn ngàn pháp môn, tựu trung có pháp môn niệm Phật
là dễ tu hơn cả. Các pháp môn khác như con mọt đục ống
tre từng mắt mà lên, còn pháp môn niệm Phật như con mọt
đục ngay mình tre mà ra. hai phương pháp đều đưa con mọt
ra khỏi ống tre cả, nhưng phương pháp sau kết quả mau chóng
hơn phương pháp trước.
Cổ
nhơ dạy: "Người tu Thiền mà không tu Tịnh độ (niệm Phật
) thì mười người lầm hết chín. Người tu Tịnh độ mà
không tham Thiền, muôn người tu, muôn người được vãnh sanh
(nếu nhất tâm). Niệm Phật có cả tham Thiền, như cọp đã
có sức mạnh, lại còn mọc thêm sứng". Nghĩa là lối tu niệm
Phật đã chắc chắn rồi, mà còn tham Thiền, lại càng chắc
chắn hơn nữa. Còn người không tu Thiền, mà cũng không tư
Tịnh độ, thì như nằm gường sắt nóng, và ôm trụ đồng;
nghĩa là không tu môn nào, cứ tạo điều ác, thì phải đọa
vào địa ngục, chịu hành phạt khổ sở. Một phen để mất
thân người rồi, khó mà trở lại người được.
VI.
Dẫn Chứng
Pháp
môn niệm Phật, chắc chắn được kết quả mỹ mãn như ý
muốn. Kinh Di Ðà, kinh Thập Lục Quán, kinh Hoa Nghiêm, kinh Phương
Ðẳng v.v...đều tán thán pháp môn niệm Phật.
Các
vị Bồ Tát cũng đều tu pháp môn niệm Phật. Như Ngài Văn
Thù Bồ Tát, trong bài kệ phát nguyện, có nói: "Nguyện ngã
lâm dục mạng chung thời, tận trừ nhứt thế chư chướng
ngại, diện kiến bỉ Phật A Di Ðà, tức đắc vãnh sanh An
lạc quốc". (Nghĩa là: Nguyện khi tôi lâm chung, dứt trừ các
điều ngăn ngại, thấy đức A Di Ðà trước mắt, liền được
vãnh sanh về cõi An lạc).
Ngài
Phổ Hiền, Ngài Mã Minh, Ngài Long Thọ, Ngài Vô Trước, Ngài
Thiên Thân bên tướng tôn, Ngài trí Giả Ðại sư bên Thiên
Thai tôn, Ngài Hiền Thủ bên Hiền thủ tôn, và con nhiều vị
Tổ sư khác cũng chuyên niệm Phật cầu vãnh sanh Cực lạc.
Pháp
môn niệm Phật có sự linh nghiệm rõ ràng. Như ở Trung Hoa,
Ngài Huệ Viễn lập hội Liên Xã, chuyên tu pháp môn niệm
Phật, ba lần thấy Phật, khi lâm chung, biết trước ngày giờ
vãnh sanh. Tại Việt Nam, Ngài Nhất Ðịnh chùa Từ Hiếu, Ngài
tường Vân (ở Huế), Ngài Hòa Thượng Tế Xuyến (ở Hà Nam)
đều biết trước ba ngày thị tịch. Chằng những các Ngài
xuất gia, mà bên hàng cư sĩ như ông chủ Thời (Gia Ðịnh),
ông Phó Kinh ở Nam Ðịnh (Bắc Việt) v.v...cũng biết trước
ba ngày sẽ lâm chung.
Pháp
niệm Phật còn có nhiều linh nghiệm lạ thường khác nữa,
không thể kể xiết được.
VII.
Lợi Ích Của Niệm Phật Trong Ðời Sống Hiện Tiền
Niệm
Phật có nhiều lợi ích, không những đời sau được vãnh
sanh cỗi Phật, là lợi ích chính, mà hiện tại cũng có nhiều
lợi ích thiết thực.
1.
Niệm Phật sẽ trừ được niệm chúng sanh:
Niệm
chúng sanh tức là nhớ nghĩ đến những điều xấu xa như
tham, giạna, kiêu căng...Do những điều nhớ nghĩa ấy mà lời
nói hay việc làm đều vương mang tội lỗi. Nếu ta niệm Phật,
thì tâm trí không còn nhớ nghĩ đến những điều xấu xa,
miệng và thân không tạo ra nghiệp ác nghĩa là ta diệt được
niệm chúng sanh. Một giờ niệm Phật, là một giờ bớt niệm
chúng sanh; một ngày, một tháng, một năm, một đời chuyên
niệm Phật, làm một ngày, một tháng, một năm, một đời
tránh được niệm chúng sanh, tránh được điều ác, và làm
được việc lành.
2.
Niệm Phật sẽ trừ được tâm buồn phiền:
Trong
những lúc buồn phiền đau khổ, như khi gặp cảnh con cái
biẹt ly, vợ chồng xa cách, nhà cửa tiêu tan v.v...nếu ta niệm
Phật, thì buồn phiền đau khổ sẽ tiêu tan. Vì sao vậy? Vì
một khi ta nhớ nghĩa đến Phật A Di Ðà, đến cảnh giới
của Ngài, thì không còn bận tâm nghĩ đến những nỗi niềm
riêng của ta nữa. Niệm Phật đổi được niệm phiền não
là thế. Nếu niệm Phật tăng thì niệm phiền não phải giảm.
Cho nên Cổ đức có nói:
"Một
câu niệm Phật giải oan khiên".
Tóm
lại, sáu chữ Nam mô A Di Ðà Phật, có lợi ích rất nhiều
và thiết thực là làm tiêu tan được phiền não nghiệp chướng.
Nếu người không tin có nước Cực lạc, có Phật A Di Ðà
mà niệm Phật, cũng vẫn có lợi ích nhiều.
VIII.
Quyết Nghi
1.
Có người hỏi rằng:
Phật
có vô số, vì sao chỉ niệm Phật A Di Ðà? Trả lời:
Tất
cả chư Phật đều đồng một thể tánh chơn như bình đẳng.
Niệm Phật A Di Ðà tức là niệm tất cả chư Phật. Ví như
trong một căn phòng rộng, quanh tường có treo trăm cái gương,
ta chỉ đứng soi vào một tấm gương, mà cả trăm tấm gương
đều phản chiếu hình ảnh ta.
2.
Lại có người hỏi:
Phật
đã có khắp nơi, thì cảnh Phật cũng có khắp nơi. Tại sao
không niệm Ðông phương Phật, Nam phương Phật, mà chỉ cầu
về tây phương Cực lạc?
Trả
lời:
Ðúng
là cõi Phật ở đâu cũng có, muốn cầu về cõi nào cũng
được, nhưng chúng ta chỉ cầu về Tây phương Phật, vì hai
lý do:
a)
cảnh Cực lạc Tây phương là cảnh mà nhờ đức Phật Thích
Ca giới thiệu, chúng ta biết rõ hơn cả. Ðến một cảnh
giới mà ta đã có ý niệm bao giờ cũng hơn là đến một
nơi ta còn xa lạ, không rõ biết gì cả.
b)
Ta chuyên tưởng niệm một cảnh giới nhất định, thì tâm
sẽ được duy nhất. Nếu hôm nay niệm cảnh giới này, hôm
sau niệm cảnh giới khác, thì tâm sẽ tán loạn, ý niệm không
được tập trung. Cũng như nhiều ngả thì dễ lạc. Bắn tên
phải nhắm vào một đích nhất định, mới hy cọng trúng.
Tu pháp môn niệm Phật cốt nhất là được "nhất tâm bất
loạn".
C.
Kết Luận
Pháp
môn niệm Phật là một pháp môn dễ tu hành hơn cả. Niệm
Phật không phải hao công, nhọc sức, khó khăn. Người trí
thức, kẻ đi buôn, người làm ruộng, kẻ thợ thuyền, bất
luận ở đâu và lúc nào, đều có thể niệm được cả.
Pháp môn niệm Phật đã dẽ tu mà lại có kết quả chắc
thật, viên mãn là vãnh sanh về tây phương Cực lạc.
Song
muốn có kết quả, điều kiện tiên quyết là phải có: Tín,
Hạnh, Nguyện đầy đủ; phải có sự; lý viên dung, không
nên chấp sự bỏ lý, hay chấp lý bỏ sự. Cốt yếu là phải
niệm đến nhất tâm bất loạn, cầu sanh về Cực lạc, không
còn khổ: sanh, già, bệnh, chết nữa.
Chúng
ta đã trót sinh ra ở cõi đời nầy, ai lại không biết có
thân là khổ, dù có vui đi nữa, cũng chỉ vui trong chốc lát,
mà cái khổ lại đeo đuổi theo luôn, như hai bánh xe lăn theo
sau chân con bò. Vậy chúng ta nên chuyên cầu niệm Phật, để
sớm được giải thoát. Sách có cấu:
"Mạc
đãi lão lai phương niệm Phật.
Cô
phần đa thị thiếu niên nhơn".
Nghĩa
là: chớ đợi đến già mới niệm Phật; trong nghĩa địa,
thiếu cho mồ của hàng thiếu niên. Vì vậy, trong giờ phút
còn mạnh khỏe, chúng ta phải chuyên cần niệm Phật. Biết
vô thường còn kiên tâm chờ đợi chúng ta cho đến ngày mai
chăng?