NỘI
DUNG BÀI PHÁT THANH SỐ 58
BUÔNG
XẢ NHỮNG QUÁ KHỨ ĐAU THƯƠNG và HẬN THÙ
Thưa
quý thính giả,
Tuần
qua, chúng tôi nhận được câu hỏi của thính giả, xin tóm
tắt nội dung như sau:
...”...
Là
một cựu quân nhân trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, tôi
đã chiến đấu tại các chiến trường để bảo vệ nền
tự do cho miền Nam Việt Nam. Khi miền Nam sụp đổ, tôi bị
bắt đi tù, được gọi một cách văn hoa là đi cải tạo.
Ở đó, hằng ngày ngoài chuyện làm việc cực nhọc, chúng
tôi còn phải nghe những lời lăng mạ của các người quản
trại, rằng chúng tôi là những kẻ phản quốc, làm tay sai
cho ngoại bang. Do hiểu biết nông cạn, nên họ không hiểu
được thực tế, rằng cuộc chiến của nước Việt Nam là
chiến tranh ý thức hệ, giữa hai khối tự do và cộng sản.
Được
đi theo diện HO sang đây, do có điều kiện nghiên cứu kinh
sách nhà Phật, đôi khi tôi lại cảm thấy thương xót cho
những cai tù khi xưa, những kẻ vì ngu dốt mà tạo nghiệp
ác với anh em tù nhân chúng tôi. Những lúc ấy, lòng tôi nhẹ
nhõm, không còn oán hận họ nữa.
Tôi
rất muốn buông xả, tha thứ cho họ, theo lời đức Phật
đã dạy: “Oán chỉ nên cởi, không nên thắt”,
và
“Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán,
oán ấy chập chùng". Nhưng càng gần ngày kỷ niệm
miền Nam xụp đổ, thì lòng tôi lại bồn chồn uất ức,
nghĩ tới biết bao nhiêu là cảnh cũ, người xưa.
Vậy
tôi có nên buông xả hay không? Muốn buông xả thì làm sao
cho tôi quên được biết bao nhiêu chuyện đau lòng mà buông?
... (Phạm văn Khang)
Thưa
quý thính giả và ông Khang,
Hằng
năm, cứ vào khoảng thời gian miền Nam xụp đổ, là cuối
tháng Tư dương lịch, thì không riêng gì ông Khang thấy lòng
bồi hồi buồn bã, mà hầu như hết thẩy chúng ta, những
người phải bỏ quê cha đất tổ ra đi để tìm tự do, đều
cùng chung nỗi bồi hồi buồn bã như nhau. Mặc dầu ba chục
năm đã trôi qua, thế hệ những người có nhiều kỷ niệm
với miền Nam thuở xưa, vẫn thấy mọi chuyện như mới xảy
ra, và vết thương lòng vẫn như là còn đang nhức nhối.
Vậy
thì liệu chúng ta có thể quên được những kỷ niệm xưa
không? Và có cần phải quên không? Đấy cũng là những mối
ưu tư trong đời sống, cần được tìm hiểu.
Kính
thưa quý vị,
Trong
đời, chúng ta có rất nhiều câu hỏi, và mỗi câu hỏi cũng
lại có nhiều câu trả lời khác nhau, tùy theo môi trường
sống, hoàn cảnh cá nhân, văn hóa, xã hội, vân vân... Vì
thế, những câu trả lời cũng đều chỉ là những quan
điểm tưong đối, không phải là chân lý tuyệt đối,
dùng chung cho tất cả mọi người.
Đạo
Phật cũng trôi chảy trong dòng sống của nhân loại, cũng
có nhiều câu hỏi và giải đáp khác nhau cho hành giả trên
đường tu tập. Là một đạo sư, đức Phật hiểu rất thấu
đáo điều này. Ngài hiểu rằng tâm mỗi chúng sinh đều có
những đặc điểm riêng, do đó, những thắc mắc cũng cần
có những giải đáp khác nhau, cho nên đã chỉ ra nhiều cách
tu tập, để đáp ứng với nhu cầu luyện tâm của nhiều
người.
Cốt
tủy của đạo Phật là tu hành để giải thoát ra khỏi sinh
tử luân hồi. Đây là kinh nghiệm bản thân của đức
Phật, sau khi tu hành khổ hạnh qua nhiều phương pháp, một
buổi sáng, khi sao Mai mọc, Ngài bừng tỉnh ngộ, nhận ra được
rằng “Tất cả chúng sinh đều có Tri Kiến Phật như
Ngài, chỉ vì vô minh che khuất, nếu tu tập thì sẽ bừng
tỉnh, giác ngộ như Ngài”.
Đó
là thông điệp của đức Phật khi giác ngộ, thành Phật.
Phật có nghĩa là giác ngộ.
Từ
sự giác ngộ của Ngài, đạo Phật ra đời. Mục tiêu của
người tu đạo Phật là giác ngộ thành Phật để cứu độ
chúng sinh như đức Phật đã tu và đã thành tựu. Thành phần
này là những người xuất gia, còn được gọi là những
Trưởng Tử Như Lai. Để có thể đạt được kết quả rốt
ráo, các vị này thường tới những khu rừng sâu, núi cao,
xa lánh hẳn chuyện đời, để thanh lọc tâm linh. Đó là các
vị hành giả quyết tâm bước trên đường giác ngộ giải
thoát, để có khả năng cứu độ muôn loài chúng sinh như
đức Phật, ngay trong kiếp sống này.
Đối
với các vị này thì:
“Quá
khứ qua rồi
Tương
lai chưa tới
Hãy
nên tỉnh thức
Sống
trong hiện tại
Vững
chãi thảnh thơi”.
Do
đó, các pháp môn họ tu đều với mục tiêu dẹp trừ vọng
tưởng Tham Sân Si, buông bỏ kỷ niệm xưa, tình cảm cũ, quay
lưng lại quá khứ. Quý vị này được Phật tử tôn là bậc
trượng phu, đã vượt lên trên những chân lý tương đối,
có tính cách quy ước của từng nhóm người, từng cộng đồng,
vốn là nguyên nhân sâu xa của chiến tranh. Hành động của
người tu giải thoát phải phát xuất từ tâm Đại Bi, bình
đẳng, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Nếu có việc
làm nào, mà động cơ là Tham Sân Si, thì người tu sĩ đó
chưa giữ đúng lời nguyện khi xuất gia. Mang tâm nguyện độ
sinh bước vào cửa Không, người tu sĩ trên đường tiến
tới giác ngộ giải thoát, coi danh lợi và vinh hoa phú quý
chỉ như đôi dép rách, thẳng tay liệng bỏ. Đấy là mục
tiêu cốt tủy của con đường tu theo đạo Phật.
Nhưng
không phải tất cả mọi Phật tử đều có khả năng làm
được việc đó. Và cũng không phải tất cả Phật tử có
lòng muốn tu tập, đều muốn tu một cách tích cực, dẹp
bỏ tất cả mọi lôi cuốn của thế gian như vậy.
Cho
nên ngoài giới xuất gia tu hành để giải thoát ngay trong kiếp
sống này, còn có Phật tử cư sĩ tu hành tại gia. Với
Phật tử cư sĩ tại gia thì lại có quy chế khác với người
xuất gia. Vì cư sĩ đang sống trong đời thường, phải
có bổn phận với gia đình, tổ tiên, non sông, đất nước,
phải duy trì nếp sinh hoạt với cộng đồng dân tộc.
Người cư sĩ tuy cũng có những tu tập tâm linh, nhưng phải
giữ được sự quân bình đối với đời sống xã hội.
Mỗi
xã hội lại có những quy định cho các thành viên. Thí dụ
như ở Việt Nam khi xưa, thanh niên tới hạn tuổi phải đi
quân dịch để bảo vệ tổ quốc, trong khi tu sĩ thì được
miễn dịch, vì họ có nếp sinh hoạt khác biệt. Trước những
nhiệm vụ đối với gia đình và tổ quốc như vậy, mọi
con dân đều có những ràng buộc với cộng đồng, không thể
tự do phóng khoáng như tu sĩ được.
Như
vậy, nếp sinh hoạt của cư sĩ đã khác với tu sĩ, cho
nên sự buông xả cũng có những mức độ khác nhau.
Khi
đức Phật phát biểu về quyền sống, về sự bình đẳng,
Ngài nói đến “chúng sinh”, chứ không phải chỉ nói
đến “nhân loại”, lại càng không phân biệt quốc
gia, dân tộc. Cuộc đời Ngài là giáo hóa để mưu cầu hạnh
phúc và an lạc cho toàn thể chúng sinh. Ngay đối với tính
mạng những sinh vật nhỏ nhít, như con sâu, cái kiến, Ngài
cũng khuyên chư đệ tử vào mùa côn trùng sinh sản, nên giảm
thiểu sự đi lại để tránh giẫm đạp lên, khiến chúng
phải bỏ mạng.
Nhưng
đối với chúng ta là những người dân thường, dù là Phật
tử, chúng ta vẫn đang sống trong thế giới tương đối,
có phải, trái, tốt, xấu, vân vân, theo quy ước của cộng
đồng. Chúng ta có nhiệm vụ phải hoàn tất các bổn
phận mà cộng đồng quy định, có cái nhìn phân biệt về
quốc gia, dân tộc, vân vân... Trên
quan điểm này, quá khứ là gia tài
chung của những người cùng truyền thống, cùng kỷ niệm,
có những vui, buồn, vinh, nhục chung, không thể xóa nhòa ký
ức, không thể quên được.
Không
thể quên, nhưng chúng ta có thể buông xả bớt những
nỗi niềm đau khổ ra khỏi tâm tư, để trước nhất là cứu
tâm chúng ta cho bớt nhức nhối, sau là có thể dùng những
sinh lực, đáng lẽ tiêu hao trong việc gậm nhấm những cảm
xúc đau đớn, chuyển qua những công việc ích lợi hơn.
Nhà
Phật cho là “Tâm tạo thiên đường, Tâm tạo địa
ngục”. Suốt cả cuộc đời giáo hóa chúng sinh, đức
Phật chỉ dạy chuyển tâm. Đó là thông điệp ”Oán
chỉ nên cởi, không nên thắt”, và “Lấy đức
báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập
chùng”.
Đối
với quá khứ, cfhúng ta không cần
phải quên, mà nên ghi chép lại trong lịch sử của dân tộc,
để lưu truyền cho thế hệ sau. Quá khứ cho ta những bài
học của lịch sử, mà nhờ có những bài học này, người
đời sau có thể rút tỉa kinh nghiệm, để từ đó, có những
quyết định sáng suốt, tốt đẹp hơn. Như vậy, kỷ niệm
quá khứ sẽ đem lại những chuyển hóa tích cực cho tương
lai.
Tuy
nhiên, chúng ta nên phân biệt giữa ghi nhớ và
căm
thù. Ghi nhớ để có kinh nghiệm mà do đó, làm được
những việc có ích cho đời thì tốt. Nhưng ghi nhớ
để nổi lên lòng căm thù thì không đúng với lời Phật
dạy. Lòng thù hận sẽ đem lại cho mình và cho người
những nỗi đau khổ không bao giờ chấm dứt được. Trước
nhất là lòng thù hận trói buộc mình trong những cảm xúc
tiêu cực, không an lạc. Để trong tâm sự thù hận, nhãn
quan sẽ bị thu hẹp. Đó là lý do nhà Phật khuyên chúng
ta nên buông xả.
Thưa
quý thính giả,
Lịch
sử các cuộc tàn sát vì cuồng tín ghi rằng, đã nhiều lần
người theo đạo Hồi tấn công đạo Phật, bằng những cuộc
thảm sát đẫm máu. Điển hình như cuộc tấn công năm 1197,
được mô tả như sau:
...”...
Đạo
quân Hồi giáo xông xáo vào đất Phật tại Ấn Độ. Những
lưỡi kiếm vung lên loang loáng, chém bay tất cả những cái
đầu cạo trọc (ám chỉ đầu các tu sĩ Phật giáo). Tội
ác giết người được hoàn tất chu đáo đến nỗi, khi kẻ
chiến thắng muốn tìm một người có thể đọc và giải
thích kinh sách nhà Phật, tại nơi cất giữ kinh của các tu
viện, thì không còn tìm ra nổi, dù là chỉ một người sống
sót, có khả năng đọc được sách nữa. Tất cả đã bị
giết hết. Cuộc tàn sát ráo riết tới tận gốc. Do cuộc
chém giết man rợ này, Hồi giáo đã nhổ tận gốc đạo Phật
tại Ấn Độ”
Không
riêng tại Ấn Độ, người Hồi Giáo đã tàn sát Phật tử
tại nhiều vương quốc miền Trung Á vốn theo đạo Phật,
thí dụ Afghanistan, nơi Phật giáo đã có một thời được
phổ biến rất rộng rãi, điển hình là đã có hai pho tượng
khổng lồ được xây dựng từ mấy ngàn năm nay, mà chúng
ta mới được biết gần đây, khi quân Taliban phá hủy hai
pho tượng này, khiến cho cả thế giới phải xúc động. Có
thể nói 300 năm trước Tây lịch, dưới triều đại Asoka,
Phật giáo đã vượt khỏi biên giới Ấn Ðộ, và phát triển
rộng về phiá Nam, phiá Ðông và Tây Ấn Ðộ. Phía Tây Bắc,
Phật giáo du nhập vào các vùng Gandhara, Pakistan và Afghanistan.
Ở thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, một vùng đất rộng
lớn bao gồm Bắc Ấn, Gandtara, Afghanistan cho tới thung lũng
sông Tarim do hoàng đế Kaniska cai trị. Vị vua này là một
tín đồ Phật giáo, dưới triều đại của ông, đã tổ chức
kết tập kinh điển lần thứ IV ở Kashmir và cũng chính nhà
vua đã cử những vị cao tăng đem Phật giáo đến các vương
quốc như Hy Lạp, Ai Cập, Syria… Nhưng tất cả những khu
vực theo Phật giáo này đã bị người Hồi giáo tàn sát,
đập phá chùa chiền, tu viện, thư viện với những kho tàng
văn hóa Phật giáo. Trước lưỡi kiếm tàn sát hung bạo, những
người
Phật tử hiền lành, hiếu hòa, bất bạo động, đã chạy
tan tác đi lánh nạn tại các nước như Nepal, Trung Hoa, Tây
Tạng, vân vân...
Là
một nhà lãnh đạo đất nước Tây Tạng, một đất nước
mà dân chúng hầu hết theo Phật giáo, hẳn đức Đạt Lai
Lạt Ma biết rõ về những cuộc tàn sát đạo Phật của Hồi
giáo. Thế nhưng, trong buổi hội nghị mang tên "A
Gathering of Hearts Illuminating Compassion" tại San Francisco,
từ ngày 10 tháng Tư đến ngày 16 tháng Tư năm 2006, gồm có
khoảng 500 nhà lãnh đạo và học giả thuộc nhiều tín ngưỡng,
của khoảng 30 quốc gia trên thế giới, Đức Đạt Lai Lạt
Ma đã phát biểu: “Ngày nay,
theo ý một số người, Hồi giáo có vẻ như bị coi là hiếu
chiến. Tôi cảm thấy rằng điều đó hoàn toàn không đúng.
Hồi giáo, cũng như các truyền thống tôn giáo khác, cũng dạy
tín đồ về sự tử tế, về lòng trắc ẩn, về sự giúp
đỡ những người nghèo khổ, vân vân...”....
Ngài
nói với cử tọa rằng, nhiều người đã thấy và nghe nói
về những cuộc nổ bom tự sát, phần lớn xảy ra tại các
nước Hồi giáo, mà không nghe nói về những người Hồi giáo
đi làm việc thiện, giúp đỡ người nghèo. Ngài nói rằng
tất cả mọi người đều có khuynh hướng bạo động, nếu
bản thân bị mất bình tĩnh, và chúng ta không nên căn
cứ vào hành động của một số người, mà phán xét cả
một tôn giáo, vì “Ở đâu cũng có những kẻ
phá hoại”. Ngài cũng kêu gọi cử tọa, là những
nhà lãnh tụ tôn giáo và các học giả tôn giáo, cần phải
làm việc tích cực hơn để tạo một thế giới sống chung
hòa bình.
Những
điều Ngài nói đều có cơ sở thực tế, thí dụ tổ chức
Rahima
Foundation của người Hồi giáo đã nhận được huy
chương Human Relations Award of California’s Santa Clara County vì
đã có công tặng y phục, thực phẩm và những vật dụng
cần thiết cho những người kém may mắn tại Santa Clara và
các vùng phụ cận từ năm 1993. Tại những vùng như Sacramento,
New York, Philadelphia, Chicago, Detroit, Tampa Bay, vân vân, các bác
sĩ Hồi giáo tại địa phương đã cung cấp dịch vụ y tế
miễn phí cho những bệnh nhân không có bảo hiểm. Và qua những
tổ chức như Habitat for Humanity, các thiện nguyện viên Hồi
giáo đã hy sinh thời giờ và khả năng kỹ thuật của họ,
để xây dựng nhà cửa cho những người vô gia cư, vân vân
...
Lời
kêu gọi của Ngài được nhiều người có tấm lòng rộng
mở hoan hỉ đón nhận. Nhưng cũng có một số người, ngay
cả Phật tử, phản đối, cho là Ngài quá khoan hòa với Hồi
giáo.
Như
chúng ta đã thấy, hẳn là Ngài biết rất rõ về những nỗi
thống khổ, những tai hại do Hồi giáo gây ra cho đạo Phật.
Thế nhưng, là một Phật tử chân chính, Ngài không nhìn
sự việc bằng cảm tính, theo kiểu vơ đũa cả nắm. Chúng
ta cũng thấy rằng không phải tất cả người Hồi giáo
đều xấu. Trong số những người Hồi giáo, có rất nhiều
người tốt lành. Họ cũng tốt lành như chúng ta, mà lại
còn đáng buồn hơn chúng ta, vì bị mọi người hiểu lầm,
nên ghét lây tới họ.
Chắc
chắn Ngài không quên những đau thương mà người Hồi giáo
đã đem lại cho Phật giáo trong quá khứ, nhưng là một
Phật tử sáng suốt, Ngài nhìn những kiếp người đang sống
trên thế giới này bằng con mắt Tâm, con mắt thấu triệt
được những đau thương khốn khổ, mà mọi người phải
chịu đựng, nếu nhân loại cứ tiếp tục thù hận nhau, chiến
tranh cứ liên miên xảy ra khắp thế giới.
Trong
cuốn The
Art of Happiness, a Handbook for Living, đức Đạt Lai
Lạt Ma đã nói:
...“...
Sự
tai hại của lòng thù hận thật là hiển nhiên, rõ ràng và
trực tiếp. Thí dụ, khi trong lòng bạn nổi lên một cảm
giác ghét ai đó, thì ngay lập tức, cảm giác ghét đó tràn
ngập tâm trí bạn, và nó làm tan biến cảm giác an lạc trong
tâm bạn ngay lập tức. Nó cũng khiến cho tâm bạn không còn
sáng suốt, tỉnh thức được nữa. Ngay khi sự nổi giận
và ghét bỏ xuất hiện, nó phá hủy phần tốt đẹp nhất
của tâm trí, phần mà nhờ nó, bạn biết được sự đúng
và sai, sẽ gây ảnh hưởng vào phản ứng của bạn ngay lúc
đó và trong tương lai của bạn. Khả năng phán xét của bạn
bị đình chỉ, không còn làm việc nữa. Bạn sẽ giống như
người bị mất trí. Như vậy, sự giận dữ và thù ghét
có khuynh hướng làm cho bạn bị mất tỉnh táo, khiến cho
những khó khăn mà bạn đang gặp càng trở nên tệ hại hơn...”...
Thưa
quý thính giả,
Một
trong những con đường tu tập của Phật giáo Đại Thừa là
Bồ Tát Đạo. Hạnh nguyện Bồ Tát là hy sinh bản thân để
cứu độ chúng sinh. Có câu hỏi đặt ra là: “Nếu tại khu
rừng kia có con cọp rất dữ, đã ăn thịt nhiều người.
Có một võ sĩ tu theo hạnh Bồ Tát, có khả năng giết con
cọp đó. Nhưng giết cọp thì phạm vào giới sát. Vậy phải
làm sao?”
Câu
trả lời cho người đi trên Bồ Tát Đạo là dùng con mắt
Tâm, con mắt “cứu khổ chúng sinh” để chỉ đạo.
Giết cọp sẽ cứu được nhiều chúng sinh khỏi chết, hành
giả Bồ Tát Hạnh sẽ rất thương xót mà đành phải xuống
tay chấm dứt cuộc đời con cọp, để cứu nhiều mạng sống,
và sẵn sàng chấp nhận sẽ phải trả quả báo do hành động
sát sinh, dù động cơ sát sinh nảy ra do lòng từ bi của mình.
Người
Phật tử tu theo đúng lời dạy của đức Phật, trước mỗi
hành động phải luận coi động cơ là vì lòng từ bi, vì
chúng sinh, hay vì tham sân si cho cá nhân mình.
Cuộc
đời luôn luôn đem tới cho chúng ta những câu hỏi. Chỉ có
con mắt Tâm, con mắt của lòng từ bi là có thể giúp chúng
ta trả lời một cách sáng suốt mà thôi.
Ban
Biên Tập/TVHS
Bài
này đã được phát thanh trên làn sóng AM
1480 (KVNR) tại Nam California
ngày 29-4-2006 và ngày 30-4-2006 trên làn sóng AM1520
(KYND) &
AM 880 (KJOJ) tại
Texas. Live Webcasting at http://www.littlesaigonradio.com
8:00 PM Saturday (Pacific Time).