NỘI
DUNG BÀI PHÁT THANH SỐ 52
MUỐN
TU TẬP THEO PHẬT GIÁO, CÓ CẦN BỎ TÔN GIÁO CỦA MÌNH, CHUYỂN
QUA ĐẠO PHẬT KHÔNG ?
Thưa
quý thính giả,
Kỳ
này, chúng tôi xin lược trích từ những thư của quý thính
giả gửi về, để trả lời chung hầu hết những câu hỏi,
mà chúng tôi nhận được trong tuần qua. Tóm tắt các câu
hỏi như sau:
-
Trí Giả đại sư là ai?
-
Chư Phật hộ niệm bổ xứ nghĩa là gì?
-
Xin cho biết câu chuyện anh chàng Cùng Tử trong kinh Pháp Hoa,
và câu chuyện đó có ý nghĩa gì?
-
Tâm Bồ Đề nghĩa là gì?
-
Bất khả tư nghị, bất khả lượng, bất khả thuyết nghĩa
là gì?
-
Thế nào là bán thế xuất gia?
Trên
đây là tóm tắt nội dung câu hỏi, chúng tôi sẽ xin lần
lượt trả lời. Chúng tôi cũng ước mong sẽ nhận được
nhiều câu hỏi gửi về Thư Viện Hoa Sen, để chúng ta sẽ
cùng nhau thảo luận, trong tinh thần tích cực tìm hiểu, và
giữ gìn sự trong sáng của đạo Phật.
Thưa
quý thính giả,
- Trí
Giả đại sư là người Trung Hoa, sinh vào đời nhà Tùy,
khoảng thế kỷ thứ 6, thế danh là Trần Đức An, pháp danh
Trí Khải, là Tổ thứ tư tông phái Thiên Thai của Phật giáo.
Vì sự thông tuệ của ngài, mà người đời tôn xưng ngài
là Trí Giả, có nghĩa là “người trí tuệ”.
- "Bổ
xứ" có nghĩa là "bổ dụng vào trụ xứ". Sách Lược Sử
Phật Giáo Ấn Độ ghi rằng Bồ Tát Di Lặc là Bồ Tát nhất
sinh bổ xứ, kiếp sau sẽ là Phật, mà trụ xứ là cõi Ta
Bà
- Chàng
Cùng Tử là một nhân vật dùng làm thí dụ trong kinh Diệu
Pháp Liên Hoa. Đây là một bộ kinh Đại Thừa liễu nghĩa.
Liễu nghĩa là nghĩa chân thật, nghĩa cùng tột. Kinh Đại
Thừa liễu nghĩa là kinh nói về Phật Tánh, Chân Tâm. Nội
dung kinh này có thể tóm gọn vào câu “Khai, thị, ngộ,
nhập Tri Kiến Phật”, có nghĩa là Phật nói kinh này
để khai thị cho chúng sinh nhận ra được rằng, tất cả
mọi người đều có sẵn Tri Kiến Phật.
Tri
Kiến Phật cũng tức là Phật Trí, Trí Tuệ Giác Ngộ, Trí
Tuệ Bát Nhã, (Prajna Paramita), Tánh Không, Chân Tâm, Phật Tánh,
vân .. vân ...
Đại
ý câu chuyện này là, sau khi nghe đức Phật giảng rằng Phật
Tánh vốn sẵn sàng nơi mỗi chúng sinh, bất cứ ai tu hành
cho tâm thanh tịnh cũng sẽ thành Phật, thì các đại
đệ tử hốt nhiên tỉnh ngộ, bèn dùng câu chuyện chàng Cùng
Tử để làm thí dụ, ví với sự vô minh của mình khi trước,
không biết mình có Phật Tánh như Phật, cũng như chàng Cùng
Tử vốn là con ông trưởng giả giầu sang, nhưng vì ngay khi
còn nhỏ đã bỏ nhà ra đi, nên không còn nhớ chuyện vốn
giầu sang của mình.
Ông
trưởng giả biết con mình sống cuộc đời bần hàn đã lâu
quá, quen thói suy nghĩ thấp kém, nên phải dùng các phương
tiện tiệm tiến, để chuyển hóa dần tính nết con mình,
cho đến lúc biết nó đã đủ khả năng, có thể đảm đương
sự nghiệp, ông mới cho nó biết rằng nó chính là con của
ông, rồi ông giao tất cả gia tài sản nghiệp lớn lao
cho nó.
Câu
trong kinh: "Khi người con nghèo khốn nghe lời ấy của người
cha trưởng giả thì cùng cực vui mừng, được sự chưa từng
có, nghĩ rằng mình vốn không có lòng nào mong cầu, vậy mà
ngày nay kho báu tự đến”, có nghĩa là, khi các đệ tử
được đức Phật cho biết mình rằng, các ông cũng có Phật
Tánh y như Phật, cũng có khả năng thành Phật, thì ai cũng
mừng rỡ cùng cực, vì bây giờ mới biết được rằng mình
có của báu vô giá, như vậy.
- Tâm
Bồ Đề là Tâm Giác Ngộ. Phát Tâm Bồ Đề là phát
lên cái tâm cầu Giác Ngộ Vô Thượng Bồ Đề, tức là giác
ngộ Phật Tâm, cũng là Kiến Tánh Thành Phật như Sơ Tổ Bồ
Đề Đạt Ma đã nói.
Thiền
sư Duy Tắc nói trong cuốn Yếu Chỉ Kinh Hoa Nghiêm rằng:
“Muốn
thành Chánh Giác (nghĩa là thành Phật), cần phải Phát Tâm
Bồ Đề, nên kinh nói :"Tâm Bồ Đề cũng như chủng tử,
vì hay sanh tất cả Phật pháp; Tâm Bồ Đề cũng như đại
địa, vì hay trì tất cả thế gian; Tâm Bồ Đề cũng như
nước trong sạch, vì hay rửa tất cả cấu bẩn phiền não;
Tâm Bồ Đề cũng như gió lớn, vì thổi khắp thế gian đều
vô ngại; Tâm Bồ Đề cũng như xe lớn, vì hay chuyên chở
chư Bồ Tát; Tâm Bồ Đề cũng như đường lớn, vì hay khiến
chúng sanh được vào thành Đại Trí.. . "
Phật
nói kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng Nghiêm, vân vân, là
những kinh Đại Thừa liễu nghĩa, mục tiêu đưa người ta
từ Mê tới Giác Ngộ, từ phàm phu chứng đắc Phật quả.
Người đọc phải thấu rõ nghĩa kinh, mới khỏi cô phụ bản
hoài của đức Phật, lặn lội cực khổ một đời giáo hóa,
xuất phát từ Tâm Đại Bi thương xót chúng sinh trong vòng
khổ não, mong chúng sinh biết mà tìm đường tu hành để vĩnh
viễn thoát khổ, chứng đắc Phật Trí, chứ chẳng phải để
nói tới những vấn đề thiện ác thông thường, trong đời
sống hằng ngày, mà Ngài đã dạy trong Nhân Thừa và Thiên
Thừa.
- Bất
khả tư nghị nghĩa là không thể nghĩ bàn
-
Bất khả lượng là không thể đo lường
-
Bất khả thuyết là không thể dùng lời nói mà mô tả.
Cả
ba câu trên đều dùng để chỉ Phật Tánh. Điều gì có thể
nghĩ bàn, có thể đo lường hoặc có thể dùng lời nói mà
mô tả thì đều nằm trong bình diện tương đối.
Chân
Tâm, Phật Tánh vượt ra ngoài phạm vi tương đối, không
thể dùng lời nói để mô tả, cho nên phải dùng thể phủ
định để hiển thị.
- Bán
thế xuất gia là người đã sống đời thường, có gia
đình rồi mới phát tâm xuất gia. Điển hình như Sơ Tổ thiền
phái Trúc Lâm của Việt Nam vốn là vua Trần Nhân Tôn, là
một vị bán thế xuất gia.
Thưa
quý thính giả,
Trong
những kỳ trước, chúng tôi đã kính gửi tới quý thính giả
những bài pháp về Tâm Từ, một trong bốn Tâm là Từ,
Bi, Hỷ, Xả. Kỳ này, chúng tôi xin kính gửi tới quý vị
bài pháp về Tâm Bi, lược trích từ cuốn “Being
Nobody, Going Nowhere” của tác giả Ayya Khema, là cuốn
sách được giải thưởng Christmas Humphrey của hội Phật giáo
Anh Quốc, dành cho sách về Phật giáo hay nhất trong năm. Dịch
giả Diệu Đạo chuyển ra Việt ngữ.
Ni
Sư Ayya Khema sinh năm 1923 tại Đức Quốc, gia đình theo đạo
Do Thái. Bà sống ở Bá Linh cho đến khi cuộc chiến bắt đầu
thì trốn thoát sang Ái Nhĩ Lan. Sau chiến tranh, bà đi chu du
nhiều miền đất châu Á, nhất là các nước vùng Hy Mã Lạp
Sơn, để tu học Thiền.
Năm
1964, bà cùng chồng và hai con di cư sang Mỹ. Từ đó, bà bắt
đầu dạy Thiền tại nhiều nơi trên thế giới.
Năm
1978, bà giúp thành lập thiền viện Buddha Dhamma theo truyền
thống Nguyên Thủy, trong một khu rừng gần Sydney, Úc. Bà thọ
giới xuất gia tại Tích Lan vào năm 1979, khi bà được 56 tuổi.
Năm
1982, bà thành lập Trung Tâm Quốc Tế Ni (International Buddhist
Women’s Center) và Parappuduwa Nuns’ Island tại Tích Lan, dành
cho phụ nữ muốn tu học chuyên sâu hay muốn thọ giới xuất
gia.
Vào
năm 1987, bà tham gia tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên
cho Ni giới, nơi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đã đọc bài diễn
văn chủ yếu. Cũng trong năm đó, bà là người đầu tiên
phát biểu về Phật giáo tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc.
Ni
sư Ayya Khema cũng là giám đốc đỡ đầu cho trung tâm Buddhahaus
thành lập ở Ðức, năm 1989. Năm 1996, trước khi qua đời,
Ni sư còn được nhìn thấy và chứng minh cho sự thành lập
Tăng đoàn của tu viện Western Forest Monastery Tradition, là tu
viện Phật giáo Lâm Tế đầu tiên ở Ðức.
Ni
Sư là tác giả của khoảng 25 tựa sách về Thiền và giáo
lý nhà Phật và là một trong số những người tiên phong tranh
đấu cho nữ giới trong Tăng đoàn.
Sau
đây là lời giảng của Ni Sư:
“Người
bạn thứ hai là tâm Bi. Ðối nghịch với tâm Bi là sự
ác độc. Ðừng lầm tâm Bi với lòng thương hại. Lòng thương
hại dấy khởi khi ta cảm thấy tội nghiệp cho ai đó. Tâm
Bi là khi chúng ta chia sẻ lòng xót thương với họ. Tâm Bi
là cùng cảm thông với người khác.
Tâm
Bi phát sinh khi chính bản thân ta cảm nhận được sự đau
khổ, bất như ý của người khác. Chỉ có như thế ta mới
thực sự cảm thông được với mọi người. Nếu không, ta
sẽ tiếp tục sống với ảo tưởng là đối với ta, mọi
việc đều bình thường, chỉ có người khác là có vấn đề
đau khổ. Nếu ta có thể nhận diện được tất cả những
trạng thái bất như ý, dồn dập xảy ra trong ta, sự không
ưa thích và chán ghét, hối hận và hờn trách, sợ hãi và
lo lắng, căng thẳng, thì ta hiểu rằng tất cả chúng ta đều
cùng một số phận. Ðể khi người khác gặp chuyện khó khăn,
ta có thể thông cảm với họ, vì ta biết rằng chính mình
cũng có khổ đau.
Sự
cảm thông (Bi) là bước đầu dẫn đến tình thương. Nếu
ta có thể thực sự dấy lên trong lòng một cảm xúc chân
thành cho ai đó, cảm thông sâu sắc nỗi khó khăn của họ,
những gì họ phải hứng chịu, thì sự thương cảm đối
với họ cũng tự nhiên dấy lên trong lòng ta.
Tuy
nhiên, không nên có sự phân biệt giữa người này và kẻ
kia theo thói thường tình. Thông thường, chúng ta dễ cảm
thông với những người có liên hệ gì đó với ta. Như người
đồng tôn giáo, cùng nhóm bạn, đồng quê hương láng giềng,
hay có lý do gì đó khiến ta quan tâm. Một cái gì đó để
ta có thể nói "của tôi" thì ta chọn lựa cái đó. Sự lựa
chọn này đẩy con người ra xa nhau, và dầu họ đi đến đâu
trên thế giới này, thì tinh thần chia rẽ cũng đi theo đến
đó, làm cho con người xâu xé nhau.
Sự
chia rẽ này do quan niệm chấp "Ngã", (tức là ego), mà ra. Ðây
là “cái Tôi”, tôi phải bảo vệ “cái Tôi” của mình.
“Cái Tôi” thường xuyên cảm thấy bị đe doạ, đến nỗi
chính ta cũng không biết rõ về mình, không thực sự biết
"cái Tôi" này là gì. Tất cả cái tôi biết, là sự đe doạ
đến “cái Tôi”, làm “tôi” sợ hãi. Nơi nào có sự sợ
hãi, nơi đó không có cảm thông (tâm Bi), vì sợ hãi xuất
phát từ sân hận. Chúng ta chỉ sợ những gì ta ghét. Những
gì ta ưa thích, ta không sợ. Trái tim nào càng có nhiều sự
sợ hãi, trái tim đó càng có ít sự đồng cảm (tâm Bi). Càng
nhiều Ngã chấp, sự sợ hãi càng tăng. Sợ bóng tối, sợ
trộm cướp, sợ thời tiết xấu, sợ tương lai, đủ thứ
sợ. Sự sợ hãi xuất phát từ lòng muốn bảo vệ “cái
Tôi”. Và càng muốn bảo vệ “cái Tôi” bao nhiêu, lòng
cảm thông (tâm Bi) càng bị giới hạn.
Tất
cả những người có suy tư đều than phiền về chiến tranh
giữa các quốc gia. Ai cũng muốn nhìn thấy thế giới được
hoà bình. Dĩ nhiên là điều đó không thể có. Ở thế kỷ
này hình như lúc nào cũng có chiến tranh, ở nơi này hoặc
nơi khác. Các xứ sở đua nhau thành lập những hàng phòng
thủ kiên cố, đổ vào đó biết bao nhiêu là năng lực, tiền
bạc, và con người. Chính các hệ thống phòng thủ này, sẽ
biến thành hệ thống tấn công ngay lập tức, nếu như có
ai tuyên bố lời nào không thân thiện, hay hơi có vẻ đụng
chạm đến không phận hay hải phận của họ. Hành động
này được biện hộ bằng "chúng ta phải bảo vệ biên giới
và dân cư của mình".
Việc
bãi bỏ vũ khí chỉ là ước vọng, một lời cầu nguyện,
không phải là thực tế. Tại sao? Vì việc bãi bỏ vũ khí
phải bắt nguồn từ trái tim của mọi người, nếu không
thì sẽ không thể nào xảy ra.
Nhìn
sâu rộng ra thì những chuyện phòng thủ và tấn công đó
luôn luôn xảy ra trong chính mỗi chúng ta. Chúng ta không ngừng
bảo vệ “cái Tôi” của mình. Nếu ai đó nhìn chúng ta một
cách không thân thiện, hoặc tỏ ra không biết ơn, không thương
yêu ta giống như ta mong muốn, hay trách cứ ta điều gì, thì
sự phòng thủ đó biến thành sự tấn công.
Do
đó, mỗi người chúng ta phải tự phấn đấu để tìm hoà
bình cho chính nội tâm mình. Ðiều đó có thể xảy ra nếu
mỗi “cái Tôi” có thể thu nhỏ lại bớt, và vấn đề
Ngã chấp chỉ có thể giảm thiểu khi chúng ta thật lòng soi
rọi lại mình.
Một
cách để làm việc đó là đặt tên cho các tư tưởng của
mình (labelling). Có thế ta mới khám phá ra các tư tưởng xấu
của mình, từ đó bớt quan trọng hóa mình, hay tư tưởng
của mình. Ðó là một trong các khía cạnh của hành Thiền.
Một
cách khác để nhìn nội tâm mình cặn kẽ, là biết chấp
nhận sự thật, khi trong ta dấy lên những tư tưởng xấu
và không thể đè nén chúng. Phải nhận ra rằng con người
luôn khao khát thoả mãn những dục vọng. Sự soi rọi đến
tận gốc rễ này sẽ giúp hóa giải dần “cái Tôi” ngạo
nghễ trong chúng ta. Khi ta làm được như thế, lòng bi mẫn
(tâm Bi) trở nên là một hiện thực, đó là niềm cảm thông
chân thật, không chỉ là lời nói đầu môi.
Nói
suông thì dễ lắm. Một em bé sáu tuổi đã có thể học thuộc
lòng bài thiền quán về lòng từ bi. Những lời này rất hay,
nhưng thực sự chúng giúp được gì cho ta? Sự lập đi lập
lại một cách lý thuyết suông về những lời này chẳng mang
lại được cho chúng niềm xúc cảm, trong khi ta sống tùy thuộc
vào xúc cảm của mình. Đó là lý do cốt tủy của sự thấu
đáo niềm xúc động trong tâm mình. Ðừng hiểu lầm rằng
ta sống theo lý trí. Sự thật là mọi việc bắt đầu bằng
xúc cảm, rồi phát sinh ra hành động. Sau cùng tiến trình
tư tưởng mới xuất hiện để lý giải cho hành động của
mình.
Hiểu
được cảm xúc của mình là điều tối quan trọng, là điều
cơ bản. Làm sao chúng ta có thể thấu triệt được rằng
đó là tình yêu hoặc đó là lòng bi mẫn nếu chúng ta không
có những xúc cảm đó? Chúng ta có thể “biết” về chúng
nhưng làm sao “thể hiện” chúng, nếu không có xúc cảm
đó?
Giải
thoát không phải là một "tri thức", nó là một cảm xúc.
Lòng
bi mẫn là một tình cảm xuất phát từ trái tim , không cần
có lý do hay điều kiện đặc biệt gì. Đó là một tình cảm
vô điều kiện. Nếu lòng bi mẫn của ta phải được kích
thích gọi mời, thì có nghĩa là nó không luôn luôn có mặt
trong tim ta. Tâm Bi là một trái tim đầy cảm xúc, một trái
tim đầy tình thương, luôn luôn thương cảm, vì biết rằng
ai cũng có nỗi khổ. Sự đau khổ đã được nhắc đến nơi
Chân Lý đầu tiên của Bốn Chân Lý Cao Quý trong Phật pháp.
Không ai thoát khỏi sự đau khổ, vì cuộc đời -- sự hiện
hữu của ta – đã chính là sự khổ đau.
Nhưng
nó không phải là bi kịch. Nó chỉ có nghĩa là vạn pháp trên
đời đều ẩn chứa trong đó sự xung đột, bất mãn, bực
dọc, lòng mong muốn được có nhiều hơn, muốn không bị
mất mát, không bị thay đổi hay hoại diệt, vân vân.... Trừ
các vị A la hán, bản tánh con người không phải dễ dàng
buông xả, vì thế lòng bi mẫn cần luôn luôn có mặt, không
đợi đến khi người khác bị cảnh long đong mới xuất hiện.
Nếu
quá nghĩ về “cái Tôi”, người ta khó thể cảm thông với
người khác. Chấp Ngã là nguồn gốc của tất cả mọi vấn
đề giữa loài người với nhau. Vì mọi người đều bận
rộn lo cho “cái Tôi” của mình, nên làm sao còn cảm xúc
cho người khác được.
Không
bao giờ ta có thể giải quyết hết những vấn đề của mình,
vì hết điều này thì đã có điều khác dấy lên. Nhưng khi
ta buông bỏ nó, mà hướng tất cả chú tâm vào sự không
toại nguyện, đau khổ mà mọi chúng sinh đều phải đối
mặt, ta sẽ nhận ra được cái khổ của tất cả nhân loại.
Lúc đó những nỗi niềm riêng của chúng ta trở thành quá
nhỏ mọn, không đáng kể. Nỗi đau của ta chỉ là một phần
của sự hiện hữu chung. Khi đó, lòng cảm thương cho chính
mình và tha nhân sẽ phát sinh.
Và
quyết tâm tận diệt mọi đau khổ sẽ được tăng thêm sức
mạnh cần thiết để thực hiện.
Thưa
quý thính giả,
Trên
đây là bài pháp của Ni Sư Ayya Khema. Ước mong quý thính giả
có niềm cảm thông với quan điểm của Ni Sư về Tâm Bi.
Ban
Biên Tập/TVHS
Bài
này đã được phát thanh trên làn sóng AM
1480 (KVNR) tại Nam California
ngày 18-3-2006 và ngày 19-3-2006 trên làn sóng AM1520
(KYND) &
AM 880 (KJOJ) tại
Texas. Live Webcasting at http://www.littlesaigonradio.com
8:00 PM Saturday (Pacific Time).