NỘI
DUNG BÀI PHÁT THANH SỐ 46
Thưa
quý thính giả,
Nhân
dịp Tân Xuân, chúng tôi xin gửi tới quý thính giả bài pháp
do hòa thượng Tuyên Hóa khai thị.
Hòa
thượng Tuyên Hóa là một bậc chân tu thời hiện đại mà
rất nhiều Phật tử Việt Nam đã có nghe danh hoặc đã từng
hành hương tới nơi ngài trụ trì là Vạn Phật Thánh Thành,
hay nói gọn là chùa Vạn Phật ở miền Bắc Califonia.
Cuộc
đời ngài là một tấm gương sáng trong số những tấm gương
hoằng dương Phật pháp.
Chào
đời ngày 16 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), đến năm 1937, ngài
vừa 19 tuổi, thì mẫu thân qua đời. Lo xong công việc cho
mẹ, ngài từ giã họ hàng lên chùa xin hòa thượng Thường
Trí cho xuất gia. Sau đó, ngài về lại nơi mộ phần mẫu
thân để cư tang ba năm. Suốt thời gian ấy, ngài sống trong
một túp lều tranh nhỏ, ngày ngày tọa Thiền, đọc tụng
kinh điển Ðại Thừa và niệm danh hiệu Phật A-Di-Ðà
Sau
Ðệ Nhị Thế Chiến, ngài tới chùa Nam Hoa, bái kiến vị
đại thiện tri thức của thời đó là lão hòa thượng Hư
Vân. Lão hòa thượng lúc ấy đã 109 tuổi. Vừa nhìn thấy
ngài, lão hòa thượng liền nhận ra ngay sự chứng ngộ của
ngài, ấn chứng sở đắc, phong cho pháp hiệu là Tuyên Hóa
và ngài chính thức trở thành vị Tổ thứ chín của dòng
thiền Quy Ngưỡng.
Năm
1950, ngài lên đường sang Hương Cảng, sống tại một sơn
động biệt lập, chẳng lai vãng gì đến bụi trần, tục
lụy.
Năm
1962, ngài đến San Francisco, Mỹ Quốc. Tại đây, nơi
một nhà kho nhỏ, ngài kiên trì tu hành trong im lặng, chờ
đợi cơ duyên hoằng dương đạo pháp chín mùi. Những Phật
tử hiểu biết sự tu hành chân chính của Ngài đều rất
cảm động và cung kính ủng hộ ngài.
Cảm
phục đức độ và ý chí tu hành rất mãnh liệt của ngài,
nên năm 1976, do chư Phật tử tích cực đóng góp công sức,
ngài thành lập được Vạn Phật Thánh Thành, nền tảng hoằng
dương Phật pháp ở Mỹ Quốc. Tại đây, ngài xây dựng
chế độ Tùng-lâm, đào tạo Tăng, Ni, học chúng, tạo duyên
lành cho sự chân chính tu hành.
Hòa
thượng chủ trương rằng tất cả Phật tử cần phải đoàn
kết lại và nên dung hợp Nam, Bắc tông. Vì thế, nhiễu
lễ truyền thọ Ðại Giới Đàn tổ chức tại Vạn Phật
Thánh Thành là do chư cao tăng Ðại Thừa và Nguyên Thủy hợp
lực chủ trì.
Phật
sự trong đời ngài được phân làm ba lãnh vực:
Thứ
nhất là đem giáo lý chính thống của Ðức Phật qua phuơng
Tây và thành lập ở đây một cộng đồng Tăng-già chánh
truyền.
Thứ
hai là tổ chức và hỗ trợ việc phiên dịch toàn bộ kinh
điển Phật giáo sang tiếng Anh cũng như các tiếng khác ở
Tây-phương.
Thứ
ba là quảng bá một nền giáo dục hướng thiện qua việc
thành lập các trường Trung-học và Ðại-học.
Giáo
huấn căn bản mà Ngài đã dạy cho đời sống tu tập tâm
linh của chư Tăng, Ni là:
- Dù
rét chết, không lụy theo .
-
Dù đói chết, không van nài.
-
Dù nghèo chết, không cầu cạnh.
-
Tùy theo nhân duyên, nhưng không đổi chí hướng.
-
Không đổi đạo phong, nhưng vẫn thuận theo ngoại cảnh.
-Xả
mình vì Phật sự.
-Cứu
người là bổn phận.
-Sửa
đời là việc Tăng.
-Hễ
gặp việc gì thấu suốt việc ấy
-Hiểu
đạo lý gì thì thực hiện đạo lý nấy, có như vậy mới
truyền thừa mạch huyết Tổ sư tâm truyền.
Hòa
thượng Tuyên Hóa đã nêu gương sáng cho chúng ta về sự tận
tụy để đạt được mục tiêu, từ ước mơ thành sự thật,
là truyền bá Phật pháp qua phương Tây.
Chúng
tôi xin gửi tới quý thính giả bài pháp của ngài như một
lời chúc. Chúc quý thính giả cũng thành đạt được mục
tiêu mà quý vị mong ước, do nỗ lực làm việc, ước mơ
của quý vị sẽ trở thành sự thật.
Sau
đây là lời khai thị của hòa thượng Tuyên Hóa:
Các
vị thiện tri thức,
Hôm
nay tôi xin chúc quý vị năm mới khoái lạc. Vậy thì năm cũ
phải chăng chẳng khoái lạc? Chúng ta phải cần vui sướng
hằng năm, hằng tháng, hằng giờ. Vì sao mình cần phải vui
sướng? Vui sướng không phải là vì có đồ ăn ngon, cũng
chẳng do mặc áo quần đẹp, mua được xe bóng nhoáng, ở
chốn nhà cao cửa rộng.
Vậy
thì mình phải làm sao để vui sướng khoái lạc?
Thì
đây: Trong thâm tâm mình phải thường luôn biết tri túc, bởi
vì hễ biết đủ thì ta luôn an vui. Biết nhẫn nại thì ta
sẽ thường được an ổn. Nhận rằng mình có đủ thì mình
sẽ luôn luôn đầy đủ. Chúng ta phải thường thường biết
tri túc. Con người có trí huệ, linh tri linh giác hơn hẳn loài
vật, chúng ta hơn tất cả mọi loài về đủ mọi phương
diện; do đó chúng ta phải biết tri túc. Khi biết tri túc thì
mình sẽ an vui, chẳng phiền não. Cho nên chẳng phải năm mới
tới mình mới vui vẻ, mà phải an vui trong mọi thời mọi
lúc. Khi chẳng có phiền não thì mình mới có thể:
Vun bồi khoảnh đất trên tâm,
Hàm dưỡng vòm trời nơi tánh.
Khi
mảnh đất nơi tâm sáng tỏ thì vòm trời ở thể tánh cũng
chói lọi. Sự rực rỡ ấy cũng chính là sự quang minh của
Phật. Vì sao chúng ta chẳng thể phóng quang minh? Bởi vì mình
chẳng vun bồi khoảnh đất trong tâm, chẳng hàm dưỡng vòm
trời nơi tánh. Vì vậy, trong đạo Phật, nếu bạn có thể
thường an vui thì tức là bạn tu hành rồi đó.
Sách
Trai Căn Đàm viết:
Gió trong, trăng tỏ, cây cỏ vui vui
Mưa gầm, gió lộng, chim thú co ro,
Nên:
Trời
đất chẳng thể một ngày không hòa khí
Lòng
người chẳng thể một phút thiếu niềm vui.
Khi
trời đất nổi cơn giông tố, thì hòa khí mất hết. Do đó
mới nói rằng trời đất chẳng thể một ngày không hòa khí;
mà phải luôn có gió thổi hiu mát, tỏa khí cát tường. Lòng
người cũng chẳng thể một phút thiếu niềm vui. Cũng như
đức Di Lặc Bồ Tát, người ta đối với Ngài như thế nào
Ngài cũng không sinh phiền não. Ngài dạy rằng:
Già khờ khoác áo nạp.
Cơm lạt dằn no bụng,
Vá víu đỡ rét hàn,
Vạn sự tùy duyên thôi!
Hễ ai chửi già khờ:
Già khờ tự nói: Giỏi.
Hễ ai đập già khờ,
Già khờ lăn ra ngủ.
Khạc nhổ nơi mặt già,
Cứ để nó tự khô.
Già này chẳng tốn công,
Bạn cũng không phiền não.
Như thế Ba la mật,
Đúng là báu nhiệm mầu,
Thấu rõ lý lẽ nầy,
Lo gì Đạo chẳng xong?
Đây
là một pháp ba la mật, pháp đưa ta tới bờ giải thoát. Đúng
là báu nhiệm mầu: Mà đa số chúng ta không ai biết dùng nó.
Nếu bạn biết được đạo lý này, nhất định bạn sẽ
thành tựu đạo nghiệp.
Vật
báu nhiệm mầu của Ngài không gì khác hơn là lòng nhẫn nhục
chịu đựng vô song, và nhất là lòng tha thứ không bờ bến.
Kinh Hoa Nghiêm nói là Bồ Tát không hề giận dữ, mà suy nghĩ
rằng:
“Hôm
nay ta gặp cái khổ này, ta phải nhẫn thọ vì ta phải nhớ
nghĩ thương yêu chúng sanh, vì ta phải lợi ích chúng sanh,
vì ta phải làm chúng sanh an lạc, vì ta phải thương xót chúng
sanh, vì ta phải nhiếp thọ dìu dắt chúng sanh, vì ta phải
đừng bỏ chúng sanh, vì ta tự giác ngộ và làm kẻ khác giác
ngộ, vì ta phải giữ tâm bồ-đề không cho lui sụt,
vì ta phải nhắm tới Phật đạo... “
Do
đó Bồ Tát nhẫn nại và tha thứ mọi hành động độc ác
của chúng sanh.
Các
bạn ơi, hễ mình có lòng tha thứ thì tự nhiên mình không
còn nghĩ xấu, nghĩ ác về kẻ đó nữa. Và đó là bước
đầu để tu tập lòng Đại Bi đấy:
Hãy
nhận thật lỗi mình,
Chớ
bàn tới lỗi người.
Lỗi
người là lỗi ta,
Được
vậy mới Đại Bi.
Khi
lòng mình không nghĩ xấu kẻ khác, không phê bình trách móc,
đố kỵ kẻ khác, mình mới thanh tịnh được. Có thanh tịnh
thì mới an lạc. Có an lạc thì mới nhẹ nhàng tự tại. Lúc
nào cũng vui, niềm vui bất tận. Vui như thể mỗi ngày đều
là Tết vậy. Niềm vui nội tại mà đức Di Lặc biểu lộ
bằng nụ cười bất hủ:
Bạn
muốn hỏi ta cười cái gì?
Ta
hỏi bạn chớ khóc chuyện chi?
Cười
khóc đều chẳng lý Trung Đạo
Chấp
trước hai đằng để làm chi?
Một
miệng hớp sạch dòng sầu oán
Hai
mắt nhìn suốt bọn lợi danh
Mặt
mũi Bồ Tát chẳng ai rành
Gặp
mà không biết uổng lắm thay!
Có
vị giáo sư ở đây giảng về từ bi của nhà Phật và nhân
từ của đạo Khổng ở Trung Hoa. Kỳ thật đạo Khổng nói
về lòng trung thứ, còn đạo Cơ Đốc, Thiên Chúa Giáo thì
nói về lòng bác ái. Hai chữ bác ái đều có bộ chữ tâm
ở trong đó, tức là chỉ lòng thương ở trong tâm. Đạo Lão
thì nói về cảm ứng. Tuy đạo Lão dạy rằng thanh tịnh,
vô vi, tu theo đạo tự nhiên, như Đạo Đức Kinh dạy: Con
người học theo pháp Đất, Đất theo mẫu của Trời, Trời
theo mẫu Đạo, Đạo làm theo tự nhiên. Song thật sự thì
cốt tủy đạo Lão dạy ta hai chữ cảm ứng. Đạo Phật thì
chủ trương từ bi. Nho, Đạo, Thích, ba tôn giáo chẳng thể
tách rời cái tâm. Ra ngoài tâm thì chẳng có tôn giáo.
Đạo
Khổng dạy hai chữ trung và thứ. Trung hay sự trung thành là
để giữ mình, thứ hay tha thứ thì dùng để đối đãi với
người. Giữ mình tức là khi mình làm việc gì mình cũng cần
có lòng trung thành đối với người, phải làm cho tận lòng
trung. Đây là điều kiện căn bản để vun bồi phẩm đức
của mình. Tha thứ với kẻ khác nghĩa là bỏ qua những điều
sai trái của kẻ khác. Ai làm sai mình hãy biết tha thứ, khoan
dung họ. Nếu biết trung thành để giữ mình, thì nhân cách
của bạn sẽ thanh cao. Nếu biết tha thứ đối với người
khác, thì bạn sẽ làm lợi kẻ khác, mà chẳng đi tìm lỗi
lầm sai trái của họ. Đây là giáo nghĩa của đạo Nho, nó
nào có tách rời cái tâm này. Nếu bạn xem hai chữ trung thứ,
sẽ thấy nó bao gồm chữ tâm đó.
Đạo
Lão dạy về cảm ứng. Thế nào là cảm? Cảm tức là thông
đạt. Sao gọi là ứng? Chẳng có điều cầu mong gì mà chẳng
thành, gọi là ứng. Ai cầu gì cũng sẽ được toại nguyện.
Rằng: hễ cảm thì thông, cầu gì cũng ứng. Thế nào là cảm
ứng? Ví như dòng điện: Hễ điện nối tới đâu thì đèn
sáng tới đấy. Đó là nghĩa của câu: Hễ cảm thì thông,
cầu gì cũng ứng. Cũng vậy, lòng bạn nghĩ gì, kẻ khác cũng
có thể thông hiểu được, đó là vì có dòng điện cảm
ứng giữa tâm bạn với tâm người. Do đó, khi cầu chuyện
gì với lòng chí thành khẩn thiết, thì bạn sẽ cảm, sẽ
thông: Thông đạt, tiếp giao tới thần minh. Bởi vì đạo
Lão nói cảm ứng nên Lão Quân mới có một bài viết về
cảm ứng bắt đầu như sau:
Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu.
Nghĩa
là:
Họa, phước chẳng có chỗ nhất định,
Chỉ do mình chiêu cảm mà tới.
Đây
tức là giải về cảm ứng. Bởi vì tai họa chẳng có cửa
ngõ, mà hạnh phúc cũng chẳng có cửa vào. Nếu bạn làm thiện
thì phước tới, làm ác thì họa tới. Do đó họa phước
chẳng có nhất định, chỉ do mình chiêu cảm mà chúng tới.
Thiện ác chi báo như ảnh tùy hình.
Nghĩa
là:
Quả báo lành, dữ, như bóng theo hình.
Quả
báo lành hay dữ cũng hệt như cái bóng lúc nào cũng theo thân
hình ta. Mình đi tới đâu, bóng đi tới đó. Quả lành cũng
là bóng mà quả dữ cũng là bóng, chúng luôn đeo đuổi theo
thân ta. Bởi vậy thiên địa có thần minh coi xét việc sai
trái.
Thiên
địa cũng có thần năm, thần tháng, thần ngày, thần giờ,
gọi là tứ trực công tào. Các vị ấy yên lặng xem xét mọi
chuyện. Cho nên nói: Trời đất có thần xét việc sai trái,
tùy theo lỗi nặng nhẹ của người mà thần giảm thiểu phước
phần kẻ ấy, khi phước phần giảm thiểu thì kẻ ấy sinh
ra nghèo cùng, khốn đốn. Giảm thiểu phước phần tức là
giảm thiểu thọ mạng. Tức là kẻ ấy đáng lẽ sống lâu,
bây giờ phải đoản mạng.
Theo
như cách tính này thì giảm thiểu tính theo đơn vị 12 năm,
hay một kỷ. Khi mạng sống giảm bớt thì với nó là sự
nghèo nàn, khốn đốn. Lúc đó thì đủ thứ tai nạn, họa
hoạn, bệnh tật, thị phi, đều tới cả. Đó cũng chính là
sự cảm ứng. Rằng: Hễ cảm thì thông, cầu gì cũng ứng.
Tức là giáo nghĩa mà đạo Lão dạy.
Đạo
Phật chủ trương từ bi. Từ là gì? Có câu rằng: Vô duyên
đại từ. Nghĩa là thái độ hiền hòa, hiền từ đối với
kẻ ta chẳng có duyên. Bạn đối với kẻ ấy hiền từ, tốt
đẹp bất kể là y có đối xử tốt với bạn hay không. Kẻ
ấy chẳng có duyên với bạn? Thì mình mới dùng lòng từ
hòa với họ chớ. Đó là lòng đại từ đối với kẻ chẳng
có duyên. Làm sao để có lòng đại bi? Lòng đại bi là lòng
đồng tình, xem cái khổ của kẻ khác như là khổ mình chịu,
như khổ nơi thân mình vậy. Cho nên mới nói: Đồng thể đại
bi.
Mình
phải thực hành từ bi hỉ xả, bởi vì lòng hiền từ có
thể đem lại sự an lạc, lòng đại bi có thể xóa tan sự
đau khổ, vì khiến ta thông cảm nổi khổ của kẻ khác. Đó
cũng chính là thương người như thương mình vậy. Trong pháp
xuất thế thì tình thương chẳng hề còn ý tưởng nhiễm
ô nữa. Vì vậy mình phải thông hiểu ý nghĩa và phạm vi
của chữ tình thương. Tình yêu giữa nam nữ là thứ tình
si mê, trong khi đó tình thương xuất thế mới đúng là thứ
tình bao la thương khắp chúng sinh.
Tu
đạo, chúng ta chớ nên tu đi tu lại mà vẫn cứ luẩn quẩn
trong vòng danh lợi, vẫn còn phân chia nhân ngã, bàn luận thị
phi, hoặc mưu cầu quyền lực - bởi như thế là hoàn toàn
sai lầm!
Đón
mừng năm mới, chúng ta hãy lập thệ nguyện rộng lớn - cương
quyết “sửa sai, hướng thiện". Muốn sửa đổi tâm tánh
để trở thành con người mới, chúng ta phải làm thế nào?
Chúng ta cần phải:
Chư
ác mạc tác,
Chúng
thiện phụng hành,
Tự
tịnh kỳ ý,
Thị
chư Phật giáo.
(Chớ
làm các việc ác,
Chăm
làm những điều lành,
Tự
thanh lọc tâm ý,
Ấy
là lời Phật dạy!)
"Tự
tịnh kỳ ý" có nghĩa là trừ bỏ các thói hư tật xấu, các
khuyết điểm "nội tại" của quý vị. Nếu không trừ bỏ
chúng thì quý vị sẽ lại tranh, lại tham, lại cầu, lại
ích kỷ, lại tự lợi, và lại nói dối nữa! Đặc biệt
là về thói nói dối - quý vị có thể phạm lỗi nói dối
qua từng hành động, từng cử chỉ trong nếp sinh hoạt hằng
ngày của mình. Chẳng hạn quý vị phạm một lỗi lầm nào
đó, nhưng thay vì tự nhận lỗi thì quý vị lại đổ lỗi
cho người khác - vu oan kẻ khác tức là nói dối vậy!
Không
thành thật, cứ muốn chiếm lợi thế, muốn lợi lộc cho
riêng mình - đó đều là những hành vi nhơ bẩn. Do đó, nếu
quý vị không có những hành vi nhơ bẩn, thiếu tư cách, tất
quý vị sẽ không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ,
không tự lợi, và cũng không nói dối.
Thưa
quý thính giả,
Trên
đây là lời khai thị của hòa thượng Tuyên Hóa, một bậc
chân tu trong thời hiện đại. Chúng tôi ước mong quý thính
giả lãnh hội thời pháp của ngài trong tinh thần hoan hỉ
tươi vui, như nụ cười của Bồ Tát Di Lặc chúc phúc cho
chúng ta suốt năm Bính Tuất.
Ban
Biên Tập
Bài
này đã được phát thanh trên làn sóng AM
1480 (KVNR) tại Nam California
ngày 28-1-2006 và ngày 29-01-2006 trên làn sóng AM1520
(KYND) &
AM 880 (KJOJ) tại
Texas