MỘT
VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO
Nền
tảng của Phật Giáo là Tứ Diệu Ðế - gồm có sự khổ
(lý do tồn tại của Phật Giáo); nguồn gốc của sự khổ
là do lòng Ái Dục; sự diệt trừ sự khổ, gọi là Niết
Bàn, Nibbana (cứu cánh của Phật Giáo) (22) và con đường Trung
Ðạo (dẫn đến chấm dứt sự khổ).
Thế
nào là chân lý cao siêu về sự khổ?
“Sanh
là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sống gần
người mình không ưa thích là khổ, sống xa người mình thương
yêu là khổ, không được điều mình mong ước là khổ, và
khổ vì thân tứ đại ngũ ấm”.
Chân
lý cao siêu về nguồn gốc của sự khổ là gì?
“Ðó
là ái dục, đã dẫn chúng ta đến sự luân hồi sanh tử triền
miên, đi theo với lòng tham muốn, lúc sinh nơi này, khi sinh
chỗ kia; đó là lòng tham đắm các thú vui nhục dục, tham
đắm cuộc sống hiện hữu, và tham đắm vào sự hư vô”.
Chân
lý cao siêu về sự diệt khổ là gì?
“Ðó
là sự không còn sót lại, chấm dứt hoàn toàn lòng ái dục;
sự từ bỏ , buông thả, lẩn trốn, và giải thoát khỏi ái
dục”.
Chân
lý cao siêu, về con đường dẫn đến sự diệt khổ là gì?
“Ðó
là Bát Chánh Ðạo, gồm có chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
và chánh định”.
Dù
chư Phật có ra đời hay không, bốn Thánh Ðế này vẫn tồn
tại trong vũ trụ. Ðức Phật chỉ chứng ngộ những chân
lý mà chúng ẩn tàng trong vực thẳm vô minh của thời gian.
Nói
một cách khoa học, có thể gọi Giáo Pháp (Dhamma) là luật
nhân và quả. Luật này bao gồm toàn bộ giáo lý của đức
Phật.
Ba
chân lý đầu tiên trình bày triết lý của Phật Giáo, chân
lý thứ tư diễn đạt về đạo đức của Phật Giáo, mà
nó được xây dựng trên nền triết lý đó. Tất cả Bốn
Thánh Ðế đều tùy thuộc ở chính cái thân chúng ta. Ðức
Phật dạy: “Trong cái xác thân dài một sải này, cùng với
tri giác và tư tưởng, Như Lai tuyên bố về thế gian, nguồn
gốc của thế gian, sự chấm dứt thế gian, và con đường
dẫn đến sự chấm dứt thế gian”. Ở đây, danh từ “thế
gian” nhằm chỉ cho sự khổ.
Phật
Giáo xây dựng trên nền tảng của sự khổ. Nhưng không pphải
do đó mà bảo rằng Phật giáo là bi quan. Ðạo Phật không
chủ trương hoàn toàn bi quan hay lạc quan; mà trái lại, Phật
Giáo thuyết minh chân lý trung đạo, nằm giữa hai thái độ
ấy. Người ta có thể bảo rằng đức Phật là bi quan nếu
Ngài chỉ dạy về chân lý của sự khổ, mà không đưa ra
những pháp môn để giúp con người chấm dứt được nỗi
đau khổ đó. Ðức Phật chứng ngộ đặc tính phổ biến
của sự khổ, và đã kê ra toa thuốc trị bá chứng cho bệnh
khổ toàn diện của nhân loại. Theo đức Phật, hạnh phúc
tối thắng là Niết Bàn, đó là sự chấm dứt hoàn toàn mọi
nỗi khổ đau.
Trong
cuốn Bách Khoa Tự Ðiển (Encyclopaedia Britannnica), tác giả
khi giải thích về chủ thuyết bi qian đã viết: “Chủ nghĩa
bi quan trình bày một thái độ tuyệt vọng đối với cuộc
sống, một ý niệm tổng quát và mơ hồ cho rằng đời sống
con người tràn ngập nỗi khổ đau và tội lỗi. Giáo lý nguyên
thỉ của đức Phật, thực ra cũng lạc quan như bất cứ chủ
thuyết lạc quan nào của Tây Phương. Cho rằng Phật Giáo bi
quan là nhằm chỉ đặc biệt áp dụng nó theo nguyên tắc của
người Tây Phương mà theo đó hạnh phúc là điều không thể
có ngoài tự ngã. Người Phật tử chân chính mong ước với
lòng nhiệt thành, tìm đạt tới một nền hạnh phúc trường
cửu”.
Thông
thường sự hưởng thụ các thú vui dục tình là nguồn hạnh
phúc duy nhất và tột cùng nhất của người thế tục. Hẳn
nhiên có điều hạnh phúc tạm bợ trong sự trước tiên thụ
hưởng, rồi đam mê và hồi tưởng các thú vui vật chất
thoáng qua đó; nhưng chúng chỉ là giả dối và nhất thời.
Theo đức Phật, không đam mê ái dục là hạnh phúc cao quý
nhất.
Ðức
Phật không khuyên các đệ tử của Ngài thường xuyên nghĩ
đến sự khổ, và hướng đến một cuộc sống bất hạnh
khổ đau. Ngài dạy họ nên luôn vui tươi và hạnh phúc, vì
tâm Hỉ (Piti) hay “vui vẻ” là một trong những đức tính
của sự Giác Ngộ.
Chân
hạnh phúc được tìm thấy ở trong tâm mình và không nên
quan niệm hạnh phúc là ở nơi sự giàu sang, con cái, danh vọng
và chiếm hữu. Nếu những tài sản đó được xử dụng sai
lầm, tạo nên bằng sự cưỡng đoạt và bất chánh; tiêu
xài phung phí, hay nhìn xem với sự tham đắm; chúng sẽ trở
thành nguồn gốc của mọi khổ đau, phiền não cho sở hữu
chủ.
Thay
vì cố gắng hợp lý hóa sự khổ, Phật Giáo xem sự khổ
như điều dĩ nhiên, và tìm nguyên nhân để diệt trừ nó.
Sự khổ đau tồn tại nơi nào có lòng tham. Nó chỉ có thể
đoạn diệt bằng cách thực hành theo Bát Chánh Ðạo, và đạt
đến hạnh phúc cao siêu của Niết Bàn.
Bốn
chân lý này có thể chứng thực bằng kinh nghiệm. Cho nên,
giáo pháp của đức Phật không đặt nền tảng trên sự sợ
hãi của điều gì không biết; nhưng nó được xây dựng trên
căn bản của những sự kiện mà chúng ta có thể khảo sát
và chứng minh bằng kinh nghiệm. Bởi vậy, Phật Giáo là thuần
lý và thực nghiệm.
Một
hệ thống thuần lý và thực nghiệm như thế, không thể nào
chứa đựng giáo lý bí truyền hay thần bí. Do đó, Phật Giáo
không chấp nhận đức tin mù quáng. Ở đâu không có sự tin
tưởng mù quáng, nơi đó không thể có sự cưỡng bức, ngược
đãi hay cuồng tín. Khi đề cập đến giá trị của Phật
Giáo, có thể nói rằng trải qua (hơn) 2,500 năm phát triển
hòa bình, chưa một giọt máu nào đã chảy nhân danh đức
Phật; không một vị vua hùng mạnh nào đã vung lưỡi gươm
uy quyền của mình để truyền bá Phật Giáo; và cũng chưa
có một sự cải giáo nào đã thực hiện bằng vũ lực, hay
bằng phương pháp cưỡng bách nào khác. Tuy nhiên, đức Phật
là nhà truyền giáo hòa bình đầu tiên và vĩ đại nhất trên
thế gian.
Aldous
Huxley (23) đã viết: “Trong các tôn giáo lớn trên thế
giới, duy nhất chỉ có Phật Giáo đã truyền đạo mà không
có sự ngược đãi, kiểm duyệt hay điều tra”.
Lord
Russell (24) ghi nhận: “Trong các tôn giáo lớn của lịch
sử, tôi thích Phật Giáo, đặc biệt ở hình thức nguyên
thỉ, bởi vì nó có rất ít sự ngược đãi”.
Dưới
danh nghĩa của Phật Giáo, không có nơi thờ phượng nào đã
bị nhuốm đỏ bởi máu vô tội của Hypatia (25) và cũng không
có một triết gia nào như Bruno (26) đã bị thiêu sống.
Phật
Giáo chú trọng trí thức hơn tình cảm. Phật Giáo chú tâm
đến nhân cách của hàng tín đồ hơn là sức mạnh về số
lượng.
Ngày
kia, Siha (27), một tín đồ của Nigantha Nataputta (28) đến gần
đức Phật và sung sướng nghe những lời giảng pháp của
đức Thế Tôn. Ông liền bày tỏ ý muốn trở thành đệ tử
của Ngài. Nhưng đức Phật đã khuyên ông ta như sau:
- “Này vị cư sĩ, thực ra, ông nên suy nghĩ kỹ lại. Một
người xuất chúng như ông tốt hơn, ông nên suy nghĩ cẩn
thận trước khi hành động việc gì”.
Trưởng
giả Siha, khi nghe những lời dạy bất ngờ này của đức
Phật, ông rất đỗi vui mừng, và thưa: “Bạch đức Thế
Tôn, nếu con xin làm đệ tử của một giáo chủ khác, các
tín đồ của vị ấy sẽ kiệu con đi khắp đường phố và
tuyên bố rằng nhà triệu phú này đã từ bỏ đạo giáo trước
kia của mình, để đi theo tôn giáo của họ. Nhưng bạch đức
Thế Tôn, Ngài thì khuyên con nên về suy nghĩ lại. Nghe lời
giáo huấn này, con lại càng tôn kính Ngài hơn. Lần thứ nhì,
kính bạch đức Như Lai, con xin được quy y Phật, Pháp, và
Tăng”.
Phật
Giáo thấm nhuần tinh thần tự do tìm hiểu và quãng đại
khoan dung. Ðó là giáo pháp của tinh thần rộng mở và tâm
hồn thiện cảm; một giáo lý chiếu sáng và sưởi ấm toàn
thể vũ trụ bằng cả ánh đưốc trí tuệ và lòng từ bi;
và chiếu rực hào quang của mình trên khắp tất cả chúng
sanh đang tranh đấu lặn hụp trong biển luân hồi sanh tử.
Ðức
Phật rất khoan hồng, Ngài không bao giờ dùng uy quyền để
ban hành những giới điều răn cấm cho hàng đệ tử của
Ngài. Thay vì dùng thể sai khiến, đức Phật dạy: - “Con
nên làm điều này, con không nên làm điều kia”. Ngài
không truyền lịnh mà chỉ khuyên bảo. Lòng từ bi này của
đức Phật đã bao trùm khắp mọi người nam nữ và tất cả
chúng sanh.
Ðức
Phật là người đầu tiên đã cố gắng hủy bỏ chế độ
mua bán người nô lệ, và mạnh mẽ phản đối hệ thống
giai cấp suy đồi, mà nó đã bắt rễ sâu xa trong lòng xã
hội Ấn Ðộ. Ðức Phật dạy không phải do sự sanh trưởng,
con người trở nên kẻ hạ tiện hay cao quý, mà chính do hành
động của họ. Theo Phật Giáo, đẳng cấp hay chủng tộc
không phải là điều kiện tiên quyết để cho việc một người
có thể trở thành Phật tử hay được thu nhận và Giáo Hội.
Dân đánh cá, người hốt rác, gái giang hồ, cùng với các
chiến sĩ và đạo sĩ Bà La Môn (Brahmins) đều được tự
do chấp nhận vào Giáo Hội; bình đằng hưởng mọi đặc
quyền, địa vị và phẩm trật.
Chẳng
hạn, Ngài Upali - Ưu Bà Ly (29) là thợ cạo, đã được tuyển
chọn, trong số nhiều thánh tăng khác, làm vị trưởng lão,
tụng đọc lại các luật giới (Vinaya) của Phật. Ngài Sunita
(30), một công nhân quét đường rụt rè, người chứng đắc
quả A La Hán, đã được đức Phật thu nhận vào Giáo Đoàn.
Ông Angulimala (31), tên cướp hung bạo đã chịu hàng phục
đi theo đức Phật. Ông Alavaka (32) tàn ác, đã quy y đức Thế
Tôn và trở thành một bậc Thánh. Cô gái giang hồ Ambapali
(33) được thu nhận vào Giáo Hội, và đã đắc quả A La Hán.
Những trường hợp như thế, có thể tìm thấy rất nhiều
trong Tam Tạng kinh điển; chứng tỏ rằng cánh cửa của Phật
Giáo rộng mở cho tất cả mọi người, không phân biệt giai
cấp, màu da hay chức vị.
Ðức
Phật cũng đã nâng cao địa vị của hàng nữ giới bị khinh
miệt, và không chỉ giúp họ tiến lên đóng vai trò quan trọng
trong xã hội, mà Ngài đã thành lập một Giáo Hội đầu tiên
dành cho hàng phụ nữ xuất gia, với đầy đủ các giới luật.
Ðức
Phật không khinh rẻ nữ giới, mà chỉ ghi nhận bản chất
yếu đuối của họ. Ngài công nhận thiện tâm nơi cả hai
giới nam nữ, và đức Phật đặt họ vào đúng vị trí của
mỗi giới trong giáo pháp của Ngài. Nam hay nữ không phải
là chướng ngại cho việc chứng đắc Thánh quả.
Từ ngữ Pali “Matugama” đôi khi được dùng để chỉ cho
nữ giới, có nghĩa là người mẹ, hay xã hội của những
bà mẹ.
Làm
mẹ, người phụ nữ đã chiếm một địa vị danh dự trong
Phật Giáo. Cả đến người vợ cũng được xem như “người
bạn tốt nhất” của chồng.
Thật
là một sự phê bình vội vã và thiên vị, khi người ta than
trách Phật Giáo không thân thiện với nữ giới. Mặc dù đầu
tiên, vì những lý do thích đáng, đức Phật đã từ chối
không chấp nhận cho phụ nữ vào Giáo Hội (xuất gia); nhưng
về sau, Ngài đã tùy thuận theo lời thỉnh cầu của bà di
mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Ðề - Pajapati Gotami (34), và thành lập Giáo
Hội Tỳ Kheo Ni (Bhikkhuni). Như các đức A La Hán Xá Lợi Phất
(Sariputta) và Mục Kiền Liên (Moggallana) là hai đại đệ tử
của Giáo Hội chư Tăng, đức Phật đã đề cử hai vị A
La Hán Khema (35) và Uppalavanna (36) làm thủ chúng của Giáo Hội
Tỳ Kheo Ni. Nhiều vị nữ đệ tử khác, cũng được đức
Phật liệt vào hàng ưu tú và nhiệt thành của Ngài.
Một
hôm nọ, đức Phật đã khuyên vua nước Kiều Tát La - Kosala
(37) người cảm thấy không vui khi nghe tin hoàng hậu vừa hạ
sanh công chúa:
“Tâu
Ðại Vương, một bé gái, có khi còn tốt hơn là sinh một
cháu trai”.
Nhiều
phụ nữ, vốn bị lãng quên, đã tỏ ra xuất chúng trong mọi
phương diện, và đạt được sự giải thoát, nhờ thực hành
theo giáo pháp và gia nhập Giáo Hội (Tỳ Kheo Ni). Trong Giáo
Hội mới này, về sau, chứng tỏ đã mang lại nguồn hạnh
phúc lớn lao cho nhiều phụ nữ, hoàng hậu, công chúa, tiểu
thơ trong hàng quý tộc; các bà quả phụ, những bà mẹ cô
đơn, các phụ nữ khốn cùng, cho đến hạng gái giang hồ
đáng thương - tất cả, không phân biệt đẳng cấp hay chức
vị, đều cùng nhau gặp gỡ, vui hưởng hoàn toàn nguồn hạnh
phúc và an lạc; cũng như được hấp thụ không khí tự do,
mà đã không tìm thấy nơi những người sống giam hãm ở
các lầu son và điện ngọc.
Chính
đức Phật cũng ngăn cấm sự giết hại các thú vật, và
khuyên những đệ tử nên trải lòng từ (Metta) đến mọi
chúng sanh - ngay cả đối với những sinh vật bé nhỏ nhất
(côn trùng) đang bò dưới chân. Không ai có quyền hay lý do
gì để sát hại mạng sống của kẻ khác, bởi vì sự sống
là quý báu đối với tất cả mọi người.
Một
người Phật tử chân chánh nên thực hành tâm từ đối với
mọi chúng sanh, và tự mình đồng hóa với tất cả, không
phân biệt giai cấp, chủng tộc hay giống phái (nam nữ).
Chính
lòng từ này của Phật Giáo đã phá bỏ mọi hàng rào ngăn
cách giữa người và người. Không có lý do gì khiến mình
phải sống xa kẻ khác, chỉ vì họ không cùng tín ngưỡng
hay khác quốc gia. Trên bia ký (Edict) đầy lòng khoan dung cao
cả, đặt nền tảng ở các kinh Culla-Vyuha và Maha-Vyuha, vua
A-Dục - Asoka (38) đã bảo: “Chỉ có sự hòa hợp là tốt
đẹp nhất; như vậy, có nghĩa là mọi người nên vui lòng
lắng tai nghe giáo lý của những kẻ khác giảng truyền”.
Phật
Giáo không giới hạn trong bất cứ một quốc gia hay dân tộc
đặc biệt nào. Mà đạo Phật là của toàn thể (mọi người).
Phật Giáo không phải là quốc gia chủ nghĩa, hay nói khác,
là một hình thức của hệ thống giai cấp, được thiết
lập trên một nền tảng rộng rãi hơn. Phật Giáo, nếu được
phép gọi như vậy, là một siêu chủ nghĩa quốc gia.
Ðối
với người Phật tử, không có người thân kẻ sơ, không
có người thù nghịch hay xa lạ, không có ai phản bội hay
không thể tiếp xúc với họ; vì lòng từ bi bao la với sự
thông cảm hiểu biết, đã được xây dựng trên tình huynh
đệ giữa tất cả mọi chúng sanh. Người Phật tử chân chính
là một công dân của thế giới. Họ xem toàn thế giới như
quê hương, và tất cả là thân bằng quyến thuộc của họ.
Cho
nên, duy nhất có Phật Giáo mới gồm đủ các đức tánh khoan
dung, không xâm lược, thuần lý, thực nghiệm, công hiệu và
đại đồng. Phật Giáo là một ảnh hưởng cao quý nhất trong
mọi ảnh hưởng thống hợp, và là một năng lực độc nhất
có thể nâng cao thế giới (con người).
Trên
đây là một vài đặc điểm của Phật Giáo, và trong những
giáo lý căn bản của Phật Giáo, chúng ta có thể nói là -
thuyết Nghiệp Báo (Kamma) hay Luật Ðạo Lý Nhân Quả, Giáo
Lý Luân Hồi, Vô Ngã (Anatta) và Niết Bàn (Nibbana).
SOME
SALIENT FEATURES OF BUDDHISM
The
foundations of Buddhism are the four Noble Truths - namely, Suffering (the
raison d'être of Buddhism), its cause, i.e. Craving, its end i.e. Nibbana,
(the Summum Bonum of Buddhism), and the Middle Way.
What
is the Noble Truth of Suffering?
"Birth
is suffering, old age is suffering, disease is suffering, death is suffering,
to be united with the unpleasant is suffering, to be separated from the
pleasant is suffering, not to receive what one craves for is suffering,
and the five Aggregates of Attachment are suffering".
What
is the Noble Truth of the Cause of Suffering?
"It
is the craving which leads from rebirth to rebirth accompanied by lust
of passion, which delights now here now there; it is the craving for sensual
pleasures (Kamatanha), for existence (Bhavatanha) and for annihilation
(Vibhavatanha)”.
What
is the Noble Truth of the Annihilation of Suffering?
"It
is the remainderlessness, total annihilation of this very craving, the
forsaking of it, the breaking loose, fleeing, deliverance from it"
What
is the Noble Truth of the Path leading to the Annihilation of Suffering?
"It
is the Noble Eightfold Path which consists of right understanding, right
thoughts, right speech, right action, right livelihood, right endeavor,
right mindfulness, and right concentration".
Whether
the Buddhas arise or not these four Truths exist in the universe. The Buddhas
only reveal these Truths which lay hidden in the dark abyss of time.
Scientifically
interpreted, the Dhamma may be called the law of cause and effect. These
two embrace the entire body of the Buddha's Teachings.
The
first three represent the philosophy of Buddhism; the fourth represents
the ethics of Buddhism, based on that philosophy. All these four truths
are dependent on this body itself. The Buddhas states: “In this
very one-fathom long body along with perceptions and thoughts do I proclaim
the world, the origin of the world, the end of the world and the path
leading to the end of the world." Here the term world is applied to suffering.
Buddhism
rests on the pivot of sorrow. But it does not thereby follow that Buddhism
is pessimistic. It is neither totally pessimistic nor totally optimistic,
but, on the contrary, it teaches a truth that lies midway between them.
One would be justified in calling the Buddha a pessimist if He had only
enunciated the Truth of suffering without suggesting a means to put an
end to it. The Buddha perceived the universality of sorrow and did prescribe
a panacea for this universal sickness of humanity. The highest conceivable
happiness, according to the Buddha, is Nibbana, which is the total extinction
of suffering.
The
author of the article on Pessimism in the Encyclopedia Britannica writes:
"Pessimism denotes an attitude of hopelessness towards life, a vague general
opinion that pain and evil predominate in human affairs. The original doctrine
of the Buddha is in fact as optimistic as any optimism of the West. To
call it pessimism is merely to apply to it a Characteristically Western
principle to which happiness is impossible without personality. The true
Buddhist looks forward with enthusiasm to absorption into eternal bliss".
Ordinarily
the enjoyment of sensual pleasures is the highest and only happiness of
the average man. There is no doubt a kind of momentary happiness in the
anticipation, gratification and retrospection of such fleeting material
pleasures, but they are illusive and temporary. According to the Buddha
non-attachment is a greater bliss.
The
Buddha does not expect His followers to be constantly pondering on suffering
and lead a miserable unhappy life. He exhorts them to be always happy and
cheerful, for zest (Piti) is one of the factors of Enlightenment.
Real
happiness is found within, and is not to be defined in terms of wealth,
children, honours or invasions. If such possessions are misdirected,
forcibly or unjustly obtained, mis-appropriated or even viewed with attachment,
they will be a source of pain and sorrow to the possessors.
Instead
of trying to rationalise suffering, Buddhism takes suffering for granted
and seeks the cause to eradicate it. Suffering exists as long as there
is craving. It can only be annihilated by trading the Noble Eightfold Path
and attaining the supreme bliss of Nibbana.
These
four Truths can be verified by experience. Hence the "Buddha Dhamma" is
not based on the fear of the unknown, but is founded on the bedrock of
facts which can be tested by ourselves and verified by experience. Buddhism
is, therefore, rational and intensely practical.
Such
a rational and practical system cannot contain mysteries or esoteric doctrines.
Blind faith, therefore, is foreign to Buddhism. Where there is no blind
faith there cannot be any coercion or persecution or fanaticism. To the
unique credit of Buddhism it must be said that throughout its peaceful
march of 2500 years no drop of blood was shed in the name of the Buddha,
no mighty monarch wielded his powerful sword to propagate the Dhamma, and
no conversion was made either by force or by repulsive methods. Yet, the
Buddha was the first and the greatest missionary that lived on earth.
Aldous
Huxley writes: - "Alone of all the great world religions Buddhism made
its way without persecution, censorship or inquisition".
Lord
Russel remarks: - "Of the great religions of history, I prefer Buddhism,
especially in its earliest form; because it has had the smallest element
of persecution".
In
the name of Buddhism no altar was reddened with the blood of a Hyparia,
no Bruno was burnt alive.
Buddhism
appeals more to the intellect than to the emotion. It is concerned more
with the character of the devotees than with their numerical strength.
On
on occasion Si ha, a follower of Nigantha Nataputta, approached the
Buddha and was so pleased with the Buddha's exposition of the Dhamma that
he instantly expressed his desire to become a follower of the Buddha. But
the Buddha cautioned him, saying: - "Of a verity, O householder, make a
thorough investigation. It is well for a distinguished man like you to
(first) make a thorough investigation".
Siha,
who was overjoyed at this unexpected remark of the Buddha, said: “Lord,
had I been a follower of another religion, its adherents would have taken
me round the streets in a procession proclaiming that such and such a millionaire
had renounced his former faith and embraced theirs. But, Lord, Your Reverence
advises me to investigate further. The more pleased am I with this remark
of yours. For the second time, Lord, I seek refuge in the Buddha, Dhamma
and the Sangha".
Buddhism
is saturated with this spirit of free inquiry and complete tolerance. It
is the teaching of the open mind and the sympathetic heart, which, lighting
and warming the whole universe with its twin rays of wisdom and compassion,
sheds its genial glow on every being struggling in the ocean of birth and
death.
The
Buddha was so tolerant that He did not even exercise His power to give
commandments to His lay followers. Instead of using the imperative, He
said: - “It behoves you to do this”. It behoves you not to do
this". He commands not but does exhort. This tolerance the Buddha extended
to men, women and all living beings.
It
was the Buddha who first attempted to abolish slavery and vehemently protested
against the degrading caste - system which was firmly rooted in the soil
of India. In the Word of the Buddha it is not by mere birth one becomes
an outcast or a noble, but by one's actions. Caste or colour does not preclude
one from becoming a Buddhist or from entering the Order. Fishermen, scavengers,
courtesans, together with warriors and Brahmins, were freely admitted to
the Order and enjoyed equal privileges and were also given positions of
rank.
Upali,
the barber for instance, was made in preference to all others the chief
in matters pertaining to Vinaya discipline. The timid Sunita, the scavenger,
who attained Arahaship was admitted by the Buddha Himself into the Order.
Angulimala, the robber and criminal, was converted to a compassionate saint.
The fierce Alavaka sought refuge in the Buddha and became a saint. The
courtesan Ambapali entered the Order and attained Arahatship. Such instances
could easily be multiplied from the Tipitaka to show that the portals of
Buddhism were wide open to all, irrespective of caste, colour or rank.
It
was also the Buddha who raised the status of downtrodden women and not
only brought them to a realization of their importance to society but also
founded the first celibate religious order for women with rules and regulations.
The
Buddha did not humiliate womem but only regarded them as feeble by nature.
He saw the innate good of both men and women and assigned to them their
due places on His teaching. Sex is no barrier to attaining Sainthood.
Sometimes
the Pali term used to denote women is "Matugama" which means mother-folk
or society of mothers.
As
a mother, woman holds an honourable place in Buddhism. Even the wife is
regarded as the "the best friend" (parama sakha) of the husband.
Hasty
critics are only making ex parte statements when they reproach Buddhism
with being inimical to women. Although at first the Buddha refused to admit
women into the Order on reasonable grounds, yet later He yielded to the
entreaties of His foster-mother, Pajapati Gotami, and founded the Bhikkhuni
Order. Just as the Arahats Sariputta and Moggallana were made the two chief
disciples in the Order of monks, even so He appointed Arahats Khema and
Uppalavanna as the two chief female disciples. Many other female disciples
too were named by the Buddha Himself as His distinguished and pious followers.
On
one occasion the Buddha said to King K¡sala who was displeased on hearing
that a daughter was born to him: -
“A
woman child, O Lord of men, may prove even a better offspring than a male".
Many
women, who otherwise would have fallen into oblivion, distinguished themselves
in various ways, and gained their emancipation by following the Dhamma
and entering the Order. In this new Order, which later proved to be a great
blessing to many women, queens, princesses, daughters of noble families,
widows, bereaved mothers, destitute women, pitiable courtesans - all, despite
their caste or rank, met on a common platform, enjoyed perfect consolation
and peace, and breathed that free atmosphere which is denied to those cloistered
in cottages and palatial mansions.
It
was also the Buddha who banned the sacrifice of poor beasts and admonished
His followers to extend their loving kindness (Metta) to all living beings
- even to the tiniest creature that crawls at ones feet. No man has the
power or the right to destroy the life of another as life is precious to
all.
A genuine
Buddhist would exercise this loving-kindness towards every living being
and identify himself with all, making no distinction whatsoever with regard
to caste, colour or sex.
It
is this Buddhist Metta that attempts to break all the barriers which separate
one from another. There is no reason to keep aloof from others merely because
they belong to another persuasion or another nationality. In that noble
Toleration Edict which is based on Culla-Vyãha and MahaVyãha Suttas,
Asoka says: “Concourse alone is best, that is, all should harken willingly
to the doctrine professed by others".
Buddhism
is not confined to any country or any particular nation. It is universal.
It is not nationalism which, in other words, is another form of caste system
founded on a wider basis. Buddhism, if it be permitted to say so, is supernationalism.
To
a Buddhist there is no far or near, no enemy or foreigner, no renegade
or untouchable, since universal love realised through understanding has
established the brotherhood of all living beings. A real Buddhist is a
citizen of the world. He regards the whole world as his motherland and
all as his brothers and sisters.
Buddhism,
is, therefore, unique, mainly owing to its tolerance, non-aggressiveness,
rationality, practicability, efficacy and universality. It is the noblest
of all unifying influences and the only lever that can uplift the world.
These
are some of the salient features of Buddhism, and amongst some of the fundamental
doctrines may be said - Kamma or the Law of Moral Causation, the Doctrine
of Rebirth, Anatta and Nibbana.