PHẬT
GIÁO PHẢI CHĂNG
LÀ
MỘT TRIẾT HỌC
Giáo
pháp bao gồm một hệ thống triết lý, đạo đức và không
chủ trương xâm lăng thuyết giảng bởi đức Phật, không
bắt buộc các tín đồ tin theo mù quáng, không rao truyền giáo
điều võ đoán, không khuyến khích lễ bái và nghi thức mê
tín dị đoan; nhưng trình bày một pháp môn vi diệu nhằm hướng
dẫn người tín đồ qua ý tưởng trong sạch, với cuộc sống
thanh tịnh để đạt tới trí tuệ cao siêu, và giải thoát
khỏi mọi điều xấu ác, gọi là Phật Pháp, hay thông thường
được hiểu là Phật Giáo.
Ðức
Phật đại từ bi đã diệt độ, nhưng giáo pháp cao siêu mà
Ngài giảng truyền rốt ráo cho nhân loại, vẫn còn tồn tại
trong sự thuần khiết của thời xưa.
Mặc
dù đức Bổn Sư đã không để lại sự ghi chép những giáo
lý của Ngài, các vị đệ tử ưu tú của đức Phật đã
duy trì chúng bằng trí nhớ và truyền khẫu giáo pháp đó
từ đời này qua đời khác.
Ngay
sau khi đức Thế Tôn khuất bóng, 500 vị A La Hán (6) chính
yếu thông bác giáo lý (Dhamma), và Giới Luật (Vinaya), đã
tổ chức một đại hội kiết tập để trùng tuyên (đọc
lại) Thánh Giáo do chính đức Phật thuyết giảng. Ðại đức
A Nan Ðà (7), người đặc biệt nghe nhớ những bài pháp, đã
tụng Kinh Tạng, còn Ngài Ưu Ba Ly (8) tụng Luật Tạng.
Ba
Tạng giáo điển đã được kiết tập và chỉnh tu trong hình
thức hiện nay của nó do bởi các bậc A La Hán thời xưa.
Vào
thời trị vì của nhà vua Tích Lan thuần thành Vattagamani Abhaya
(9) vào năm 83 trước tây lịch, Tam Tạng Kinh, lần đầu tiên
trong lịch sử Phật Giáo đã được biên chép trên lá bối
tại Tích Lan.
Ba
tạng kinh đồ sộ này, bao gồm tinh hoa giáo lý của đức
Phật, ước phỏng bằng mười một lần quyển Thánh Kinh.
Sự khác biệt nổi bật giữa Tam Tạng Kinh và cuốn Thánh
Kinh nằm ở chỗ ba tạng kinh không phải được hình thành
dần dần như quyển Thánh Kinh.
Theo
sự giải thích của từ nguyên, Tam Tạng Kinh gồm có ba cái
giỏ. Ấy là Giỏ đựng Luật (Vinaya Pitaka), Giỏ đựng Kinh
(Sutta Pitaka), và Giỏ đựng Vi Diệu Pháp (Luận - Abhidhamma
Pitaka).
Luật
Tạng được xem như nơi nương tựa vững chắc của đoàn
thể Tăng Già (10) lịch sử xa xưa nhất; đề cập chính yếu
đến các giới luật và nghi lễ mà đức Phật đã thuyết
dạy, tùy trường hợp xảy ra, cho kỹ luật tương lai của
Giáo Đoàn, chư Tỳ Kheo (11) và Tỳ Kheo Ni (12). Nó diễn tả
chi tiết tiến trình phát triển của Phật Giáo. Tóm lược
về đời sống và thánh chức của đức Phật cũng được
ghi chép trong đó. Một cách gián tiếp, Luật Tạng bao gồm
các tài liệu quan trọng và giá trị về cổ sử, phong tục,
nghệ thuật và khoa học của Ấn độ v.v...
Luật
Tạng này gồm có năm quyển:
1.
Pháp Ba La Di - Trọng tội (Phân Biệt Kinh)
2.
Pháp Ba Dật Ðề - Khinh tội (Phân Biệt Kinh)
3.
Ðại Phẩm (Kiền Ðộ Bộ)
4.
Tiểu Phẩm (Kiền Ðộ Bộ)
5.
Phụ Tùy - Luật giới tóm lược.
Kinh
Tạng bao gồm chủ yếu các bài Pháp do chính đức Phật nói
ra trong nhiều trường hợp khác nhau. Một vài bài kinh do các
vị đệ tử xuất chúng của đức Phật thuyết giảng như
các Ngài Xá Lợi Phất (13), A Nan Ðà, Mục Kiền Liên (14) v.v...,
cũng được bao gồm trong Tạng Kinh. Nó giống như môt cuốn
sách thuốc; vì các bài Kinh chứa đựng trong đó, do đức
Phật giảng phù hợp với những hoàn cảnh sai biệt và căn
cơ của nhiều người khác nhau. Có những lời dạy xem hình
như mâu thuẫn, nhưng đừng nên hiểu lầm như vậy; vì tùy
lúc, chúng được đức Phật thuyết ra nhằm thích ứng cho
mọi trường hợp riêng biệt: chẳng hạn, tuy cùng một câu
hỏi đó, nhưng đức Phật làm thinh khi người vấn đạo chỉ
muốn biết vì tánh tò mò; hoặc Ngài giảng dạy đầy đủ
chi tiết khi nhận thấy họ là đệ tử thực tâm muốn tìm
hiểu chân lý. Phần lớn những bài Pháp đều chủ yếu mang
phúc lợi đến cho các vị Tỳ Kheo đề cập tới đời sống
thánh thiện của họ cũng như trình bày về giáo lý. Cũng
có một số bài Kinh khác chỉ dẫn cho người tín đồ tại
gia trong cả hai mặt phát triển về vật chất và luân lý
(đạo đức).
Tạng
Kinh này gồm có năm bộ:
1.
Trường Bộ Kinh: ghi chép những bài pháp dài.
2.
Trung Bộ Kinh: ghi chép những bài pháp dài bậc trung.
3. Tương Ưng Bộ Kinh: ghi chép những bài pháp tương ưng
nhau.
4.
Tăng Nhất Bộ Kinh: ghi chép những bài pháp sắp đặt theo
số thứ tự.
5.
Tiểu Bộ Kinh: ghi chép những bài kệ ngắn.
Tiểu
Bộ Kinh chia làm mười lăm tập:
1.
Tiểu Tụng: những bài kinh ngắn.
2.
Kinh Pháp Cú: những câu nói về Chánh Pháp.
3.
Tự Thuyết: những bài tán ca.
4.
Như Thị Ngữ: những bài kinh mở đầu bằng câu: “Như vậy,
đức Phật thuyết”.
5.
Kinh Tập: những bài pháp sưu tập.
6.
Thiên Cung Sự: câu chuyện về những cõi Trời.
7.
Ngạ Quỷ Sự: câu chuyện về cảnh giới ngạ quỷ.
8.
Trưởng Lão Ni Kệ: kệ nói về chư Tăng.
9.
Trưởng Lão Ni Kệ: kệ nói về các Ni Sư.
10.
Bổn Sanh Kinh: chuyện tiền thân của đức Phật.
11.
Nghĩa Thích: những bài bình giải.
12.
Vô Ngại Giải Ðạo: tập luận lý phân tích.
13.
Thí Dụ: đời sống các vị A La Hán.
14.
Phật Chủng Tính Kinh: lịch sử đức Phật.
15.
Sở Hạnh Tạng: những mẫu chuyện đức hạnh (của Bồ
Tát).
Luận
Tạng được xem như quan trọng và vi diệu nhất trong ba Tạng,
vì nó hàm chứa triết lý cao siêu của đức Phật, trái hẳn
với những bài pháp sáng tỏ và giản dị hơn trong Kinh Tạng.
Kinh
Tạng bao gồm những giáo lý phổ thông, trong khi Luận Tạng
chứa đựng tối thắng pháp.
Ðối
với hàng trí thức, Luận Tạng như cuốn Kinh hướng dẫn
thiết yếu; với người cần mở mang tâm trí, là một liều
thuốc tinh thần; và với những học giả nghiên cứu, nó là
thức ăn cho tư tưởng. Tâm vương được định rõ. Tư tưởng
được phân tích và sắp xếp đại để theo quan điểm luân
lý. Những trạng thái của tâm được liệt kê. Sự cấu tạo
của mỗi loại tâm đươc trình bày từng chi tiết, tư tưởng
phát khởi lên thế nào đều được diễn tả tỉ mỉ. Những
vấn đề mặc dù quan hệ đến con người, nhưng không giúp
ích gì cho sự giải thoát, đều được gác hẳn qua một bên.
Sắc
(vật chất) được tóm lược bàn đến; đơn vị căn bản
của vật chất; những đặc tính, nguồn gốc của vật chất,
sự tương quan giữa tâm (tinh thần) và vật chất, cũng được
giải thích.
Luận
Tạng nhằm khảo sát tâm và vật chất (danh sắc); hai yếu
tố cấu tạo nên cái gọi là con người để giúp nhận thức
sự vật đúng như thật, và một triết lý được phát triển
trên những quy tắc đó. Dựa trên giáo lý ấy, một hệ thống
đạo đức được trình bày để dẫn đến sự thành đạt
mục đích sau cùng là Niết Bàn (Nibbana).
Luận
Tạng gồm có bảy bộ:
1.
Pháp Tạng Luận: phân tích các Pháp (Dhamma).
2.
Phân Biệt Luận: phân biệt các pháp.
3.
Luận Sự: những điểm tranh luận.
4.
Nhân Thi Triết Luận: định danh những cá tính.
5.
Giới Thuyết Luận: luận giải về các nguyên tố.
6.
Song Luận: tập sách luận theo lối từng cặp.
7.
Phát Thú Luận: sách luận về tương quan nhân quả.
Người
ta tìm thấy trong Ba Tạng Kinh, sữa nước cho trẻ thơ và chất
thịt cho người lớn; vì đức Phật thuyết dạy giáo lý của
Ngài cho tất cả quần chúng lẫn giới trí thức. Giáo pháp
cao siêu được tôn trí trong các thánh điển này, đề cập
đến chân lý và những sự thật. Nó không phải là những
lý thuyết và triết học mà chúng có thể được chấp nhận
như chân lý thâm diệu chỉ tồn tại trong ngày hôm nay và
sẽ bị loại bỏ ở ngày mai. Ðức Phật không dạy chúng
ta triết thuyết gì mới mẻ xa lạ; Ngài cũng không phiêu lưu
sáng tạo bất cứ một nền khoa học vật chất mới nào.
Ðức Phật giải thích những điều ở bên trong và bên ngoài
chúng ta, liên quan đến sự giải thoát của chúng ta, và sau
cùng chỉ dẫn một con đường giải thoát độc nhất. Tuy
nhiên, cùng lúc, Ngài đã đi trước nhiều triết gia và các
nhà khoa học hiện đại.
Schopenhauer
(15), trong tác phẩm “Thế giới như là một ý chí và Tư
tưởng” (World as Will and Idea) trình bày chân lý của sự khổ
và nguồn gốc của nó theo lối Tây phương. Spinoza (16), mặc
dù chấp nhận có một thực thể trường tồn, nhưng ông khẳng
định rằng tất cả cuộc sống hiện hữu là vô thường.
Theo triết gia này, muốn chấm dứt khổ đau phải “tìm ra
một đối tượng kiến thức không tạm bợ, không phù du,
mà phải vĩnh viễn, trường tồn, không thay đổi”. Berkeley
(17), bảo rằng cái gọi là nguyên tử bất khả phân là một
giả tưởng siêu hình. Home (18), sau khi chuyên chú phân tích
phần tâm linh (con người) đã kết luận cho rằng tâm thức
đó chỉ là những trạng thái tinh thần luôn luôn biến đổi.
Bergson (19), chủ trương thuyết vô thường. Giáo sư James (20),
đề cập đến tâm thức như một dòng nước.
Hơn
2.500 năm trước đức Phật đã dạy những giáo lý về Vô
Thường, Khổ Ðau và Vô Ngã, trong khi Ngài đang lưu trú tại
thung lũng của dòng sông Hằng.
Chúng
ta nên hiểu rằng đức Phật không thuyết dạy hết tất cả
những điều Ngài biết. Ngày kia, khi đức Phật đi ngang qua
khu rừng nọ, Ngài bốc lên một nắm lá và bảo: “Này các
Tỳ kheo, những điều mà Như Lai dạy các con, có thể sánh
với nắm lá trong tay này; còn những điều Như Lai hiểu biết
mà không dạy giống như tổng số các lá cây trong rừng”.
Ðức
Phật chỉ dạy những điều Ngài xét thấy thực sự cần
thiết giúp cho con người trở nên thanh tịnh, và Ngài không
phân biệt giữa những giáo lý bí mật hay công khai (phổ biến).
Ðức Phật đặc biệt giữ im lặng đối với những câu hỏi
không liên quan gì đến sứ mạng thiêng liêng của Ngài.
Phật giáo rõ ràng phù hợp với khoa học, nhưng cả hai nên
được xem như những lý thuyết song hành; khi khoa học đề
cập chính yếu đến chân lý của vật chất, còn Phật Giáo
lại nhằm hướng tìm chân lý của tâm linh và đạo đức.
Chủ đề của mỗi lý thuyết đều khác nhau.
Giáo
Pháp mà đức Phật dạy không chỉ được duy trì trong kinh
sách, cũng không phải là học thuyết được nghiên cứu từ
quan điểm văn chương hay sử học. Trái lại, nó cần được
học hỏi và thực hành trong đời sống hằng ngày của con
người, bởi vì không thực hành, chúng ta không thể nhận
thức được chân lý. Phật Pháp cần được nghiên cứu và
hơn nữa, phải nên thực hành, và trên tất cả, là để chứng
ngộ; sự giác ngộ tức thời là mục đích tối hậu. Vì
vậy, giáo pháp như chiếc bè nhằm mục tiêu duy nhất đưa
chúng ta thoát khỏi biển sanh tử luân hồi.
Cho
nên, Phật giáo không thể hoàn toàn được xem như một triết
học, vì nó không phải chỉ là: “lòng ham chuộng, sự thúc
đẩy đi tìm trí tuệ”. Phật Giáo có thể gần với triết
học, nhưng Phật Giáo hàm súc hơn nhiều.
Triết
học liên quan chính yếu đến sự hiểu biết và không chú
trọng đến phần thực hành; trong khi đó Phật Giáo đặc
biệt quan tâm đến sự thực hành và chứng ngộ.
THE
DHAMMA
IS
IT A PHILOSOPHY?
The
non-aggressive, moral and philosophical system expounded by the Buddha,
which demands no blind faith from its adherents, expounds no dogmatic creeds,
encourages no superstitious rites and ceremonies, but advocates a golden
mean that guides a disciple through pure living and pure thinking to the
gain of supreme wisdom and deliverance from all evil, is called the Dhamma
and is popularly known as Buddhism.
The
all-merciful Buddha has passed away, but the sublime Dhamma which he unreservedly
bequeathed to humanity, still exists in its pristine purity.
Although
the Master has left no written records of His Teachings, His distinguished
disciples preserved them by committing to memory and transmitting them
orally from generation to generation.
Immediately
after His demise 500 chief Arahats (the Worthy Ones) versed in the Dhamma
(Teaching)and Vinaya (Discipline, held a convocation to rehearse the Doctrine
as was originally taught by the Buddha. Venerable Ananda Thera, who enjoyed
the special privilege of hearing all the discourses, recited the Dhamma,
while the Venerable Upali recited the Vinaya.
The
Tipitaka was compiled and arranged in its present form by those Arahats
of old.
During
the reign of the pious Sinhala King Vattagamani Abhaya, about 83 B.C.,
the Tipitaka was, for the first time in the history of Buddhism, committed
to writing on ola leaves in Ceylon.
This
voluminous Tipitaka, which contains the essence of the Buddha's Teaching,
is estimated to be about eleven times the size of the Bible. A striking
contrast between the Tipitaka and the Bible is that the former is not a
gradual development like the latter.
As
the word itself implies the Tipitaka consists of three baskets. They are
the Basket of Disciple (Vinaya Pitaka), the Basket of Discourses (Sutta
Pitaka), and the Basket of Ultimate Doctrine (Abhidhamma Pitaka).
The
Vinaya Pitaka which is regarded as the sheet anchor of the oldest historic
celibate order - the Sangha - mainly deals with rules and regulations which
the Buddha promulgated, as occasion arose, for the future discipline of
the Order of monks (Bhikkhus) and nuns (Bhikkhunis). It describes in detail
the gradual development of the Sasana (Dispensation). An account of the
life and ministry of the Buddha is also given. Indirectly it reveals some
important and interesting information about ancient history, Indian customs,
arts, science, etc.
This
Pitaka consists of the five following books: -
1.Parajika
Pali - Major Offences (Vibhanga)
2.Pacittiya
Pali - Minor Offences (Vibhanga)
3.Mahavagga
Pali - Greater Section (Khandaka)
4.
Cullavagga Pali - Shorter Section (Khandaka)
5.
Parivara Pali - Epitome of the Vinaya
The
Sutta Pitaka consists chiefly of discourses, delivered by the Buddha Himself
on various occasions. There are also a few discourses delivered by some
of His distinguished disciples such as the Venerable Sariputta, Ananda,
Moggallana, etc...included in it. It is like a book of prescriptions, as
the sermons embodied therein were expounded to suit the different occasions
and the temperaments of various persons. There may be seemingly contradictory
statements, but they should not be misconstrued as they were opportunely
uttered by the Buddha to suit a particular purpose: for instance, to the
self-same question He would maintain silence (when the inquirer is merely
foolishly inquisitive), or give a detailed reply when He knew the inquirer
to be an earnest seeker. Most of the sermons were intended mainly for the
benefit of Bhikkhus and they deal with the Holy life and with the exposition
of the doctrine. There are also several other discourses which deal with
both the material and moral progress of His lay followers.
This
Pitaka is divided into five Nikayas or collections, viz: -
1.Digha
Nikaya (Collection of Long Discourses),
2.
Majjhima Nikaya (Collection of Middle-length Discourses),
3.
Sanyutta Nikaya (Collection of Kindred Sayings),
4.
Anguttara Nikaya (Collection of Discourses arranged in accordance
with numbers),
5.
Khuddhaka Nikaya (Smaller Collection).
The
fifth is subdivided into fifteen books:
1.Khuddaka
Patha (Shorter Texts),
2.
Dhammapada (Way of Truth),
3.
Udana (Paeans of Joy),
4.
Iti Vuttaka ("Thus said" Discourses),
5.
Sutta Nipata (Collected Discourses),
6.
Vimana Vatthu (Stories of Celestial Mansions),
7.
Peta Vatthu (Stories of Petas),
8.
Theragatha (Psalms of the Brethren),
9.
Therigatha (Psalms of the Sisters),
10.
Jataka (Birth Stories),
11.
Niddesa (Expositions),
12.
Patisambhida (Analytical Knowledge),
13.
Apadana (Lives of Arahats),
14.
Buddhavamsa (The History of the Buddha),
15.
Cariya Pitaka (Modes of Conduct).
The
Abhidhamma Pitaka is the most important and the most interesting of the
three, containing as it does the profound philosophy of the Buddha's Teaching
in contrast to the illuminating and simpler discourses in the Sutta Pitaka.
In
the Sutta Pitaka is found the conventional teaching (vohara desana) while
in the Abhidhamma Pitaka is found the ultimate teaching (paramattha-desana).
To
the wise, Abhidhamma is an indispensable guide; to the spiritually evolved,
an intellectual treat; and to research scholars, food for thought. Consciousness
is defined. Thoughts are analysed and classified chiefly from an ethical
standpoint. Mental states are enumerated. The composition of each type
of consciousness is set forth in detail. How thoughts arise, is minutely
described. Irrelevant problems that interest mankind but having no relation
to one's purification, are deliberately set aside.
Matter
is summarily discussed; fundamental units of matter, properities of matter,
sources of matter, relationship between mind and matter, are explained.
The
Abhidhamma investigates mind and matter, the two composite factors of the
so-called being, to help the understanding of things as they truly are,
and a philosophy has been developed on those lines. Based on that philosophy,
an ethical system has been evolved, to realize the ultimate goal, Nibbana.
The
Abhidhamma Pitaka consists of seven books: -
1.
Dhamma Sangani (Classification of Dhammas),
2.
Vibhanga (The Book of Divisions),
3.
Katha Vatthu (Points of Controversy),
4.
Puggala Pannatti (Description of Individuals),
5.
Dhatu Katha (Discussion with reference to elements)
6.
Yamaka (The Book of Pairs)
7.
Patthana (The Book of Relations)
In
the Tipitaka on finds milk for the babe and meat for the strong, for the
Buddha taught His doctrine both to the masses and to the intelligentsia.
The sublime Dhamma enshrined in these sacred texts, deals with truths and
facts, and is not concerned with theories and philosophies which may be
accepted as profound truths today only to be thrown overboard tomorrow.
The Buddha has presented us with no new astounding philosophical theoies,
nor did He venture to create any new material science. He explained to
us what is within and without, so far as it concerns our emancipation,
and ultimately expounded a path of deliverance, which is unique. Incidentally,
He has, however, forestalled many a modern scientist and philosopher.
Schopenhauer
in his "World as Will and Idea" has presented the truth of suffering and
its cause in a Western garb. Spinoza, though he denies not the existence
of a permanent reality, asserts that all permanent existence is transitory.
In his opinion sorrow is conquered "By finding an object of knowledge which
is not transient, not ephemeral, but is immutable, permanent, everlasting".
Berkely proved that the so-called indivisible atom is a metaphysical fiction.
Hume, after a relentless analysis of the mind, concluded that consciousness
consists of fleeting mental states. Bergson advocates the doctrine of change.
Prof. James refers to a stream of consciousness.
The
Buddha expounded these doctrines of transiency, (Anicca) Sorrow (Dukkha),
and No-Soul (Anatta) some 2500 years ago while He was sojourning in the
valley of the Ganges.
It
should be understood that the Buddha did not preach all that He knew. On
one occasion while the Buddha was passing through a forest He took a handful
of leaves and said: "O Bhikkhus, what I have taught is comparable to the
leaves in my hand. What I have not taught is comparable to the amount of
leaves in the forest".
He
taught what He deemed was absolutely essential for one's purification making
no distinction between an esoteric and exoteric doctrine. He was characteristically
silent on questions irrelevant to His noble mission.
Buddhism
no doubt accords with science, but both should be treated as parallel teachings,
since one deals mainly with material truths while the other confines itself
to moral and spiritual truths. The subject matter of each is different.
The
Dhamma He taught is not merely to be preserved in books, nor is it a subject
to be studied from a historical or literary standpoint. On the contrary
it is to be learnt and put into practice in the course of one's daily life,
for without practice one cannot appreciate the truth. The Dhamma is to
be studied, and more to be practised, and above all to be realized: immediate
realization is its ultimate goal. As such the Dhamma is compared to a raft
which is meant for the sole purpose of escaping from the ocean of birth
and death (Samsara).
Buddhism,
therefore, cannot strictly be called a mere philosophy because it is not
merely the "love of, inducing the search after, wisdom". Buddhism may approximate
a philosophy, but it is very much more comprehensive.
Philosophy
deals mainly with knowledge and is not concerned with practice; whereas
Buddhism lays special emphasis on practice and realization.