ÐỨC
PHẬT
Vào
ngày trăng tròn tháng năm năm 623 trước Tây lịch, một hoàng
tử thuộc bộ tộc Thích Ca (1) của Ấn Ðô, tên là Tất Ðạt
Ða (Siddhattha) họ Cồ Ðàm (Gotama) đã ra đời tại một vùng
ở xứ Nepal (2), là đấng được xem như bậc Thầy của tôn
giáo vĩ đại nhất trên thế giới. Ðược nuôi dưỡng trong
cảnh xa hoa và hấp thụ một nền giáo dục xứng đáng với
một vị hoàng tử, như mọi người, thái tử đã lập gia
đình và có một con.
Bản
tính ưa trầm tư và lòng từ bi bao la của thái tử, đã không
cho phép thái tử hưởng thụ những thú vui vật chất nhất
thời ở cung điện hoàng gia. Thái tử không hề biết buồn
khổ, nhưng người cảm thấy xót thương sâu xa cho sự khổ
đau của nhân loại. Mặc dù sống trong cảnh giàu sang phú
quí, nhưng thái tử đã ý thức được tính phổ cập của
sự khổ đau. Cung điện với mọi thú vui thế gian không còn
là nơi thích đáng cho vị hoàng tử đầy lòng từ bi sống
nữa. Thời gian thuận tiện đã đến để thái tử xuất gia.
Nhận thức được sự hư ảo (phù hoa) của những thú vui
khoái lạc, vào năm 29 tuổi, thái tử từ bỏ mọi dục lạc
trần gian, để đắp lên mình mảnh y vàng giản dị của nhà
tu khổ hạnh, một mình, không một đồng dính túi, lang thang
đây đó để đi tìm Chân Lý và sự An Lạc.
Ðó
là một cuộc từ bỏ lịch sử vô tiền khoáng hậu, vì thái
tử đã đi tu không phải lúc tuổi về già, mà là đang độ
thanh xuân; không phải trong cảnh nghèo khổ mà là giàu sang.
Như thời xưa người ta tin tưởng rằng không có sự giải
thoát nào có thể đạt tới, trừ phi con người sống một
đời sống hết sức khắc khổ, thái tử cũng đã áp dụng
liên tục mọi hình thức tu hành cực kỳ khổ hạnh. Thái
tử đã thực hiện một nỗ lực phi thường trong suốt sáu
năm trường
Thân
hình thái tử gầy ốm đến chỉ còn một bộ xương. Thái
tử càng hành hạ xác thân bao nhiêu thì mục tiêu (giải thoát)
càng xa người ấy bấy nhiêu. Những sự khổ hạnh cực nhọc
và không kết quả mà thái tử thực hành liên tục đã tỏ
ra hoàn toàn vô ích. Thái tử bây giờ nhận thức được trọn
vẹn qua kinh nghiệm bản thân, về sự quá vô ích của hành
động ép xác, đã làm gầy yếu thân thể và gây nên sự
sút kém tinh thần.
Do
lợi ích (có được) từ kinh nghiệm vô giá này của mình,
thái tử cuối cùng đã quyết định theo con đường độc
lập, tránh cả hai cực đoan của sự quá dục lạc và quá
ép xác. Ðiều trước làm trì chậm sự tiến bộ tinh thần
và điều sau làm giảm sút trí tuệ của hành giả. Con đường
mới Ngài tự mình tìm ra là Trung Ðạo mà sau này đã trở
thành một trong những đặc tính nổi bật ở giáo lý của
Ngài.
Một
buổi mai an lành, trong lúc Ngài đang chú tâm thiền định,
không được sự giúp đỡ và chỉ dẫn của bất cứ siêu
lực nào; duy nhất chỉ dựa vào nỗ lực và trí tuệ của
mình, Ngài đã đoạn diệt tất cả phiền não, thân tâm thanh
tịnh, quan sát sự vật đúng như thật, và chứng đạo Giác
Ngộ (thành Phật), vào lúc tròn 35 tuổi. Lúc mới sinh ra, Ngài
không phải là một vị Phật, nhưng Ngài đã thành Phật do
nỗ lực tu tập của chính Ngài. Như sự hiện thân hoàn toàn
của những đức hạnh mà đức Phật đã thuyết dạy, vốn
sẵn có trí tuệ sâu xa, cùng với lòng từ bi bao la, Ngài đã
dùng quãng đời quý báu còn lại của mình, để phục vụ
cho nhân loại, cả bằng (hành động) gương mẫu cũng như
lời giáo huấn, không bị chi phối bởi lý do cá nhân nào
khác.
Sau
45 năm trường thành công giáo hóa, đức Phật, như tất cả
mọi người,không chống lại được luật vô thường tàn
ác, và cuối cùng (trước khi) nhập diệt vào năm 80 tuổi,
Ngài đã khuyên hàng đệ tử hãy nhận đem giáo pháp của
Ngài làm thầy.
Ðức
Phật là một người như chúng ta, Ngài sinh ra là một người,
sống như một người, và đã từ giã cõi đời như một người.
Mặc dù là con người, Ngài đã trở thành một nhân vật siêu
phàm,
nhưng Ngài không bao giờ tự nhận cho mình là Thần linh. Ðức
Phật đã nhấn mạnh vào điểm quan trọng này, và đã không
lưu lại một điều gì để bất cứ ai có thể nhầm lẫn
nghĩ rằng Ngài là một Thần linh bất tử. May mắn là không
có sự thần thánh hóa trong trường hợp của đức Phật.
Tuy nhiên, tưởng nên ghi nhận rằng không có một vị giáo
chủ nào “thật là vô thần như đức Phật, nhưng cũng không
có ai có đặc tính thần linh như Ngài”.
Ðức
Phật không phải là hóa thân của vị thần Vishnu (3) của
Ấn Ðộ giáo, như một số người tin tưởng, Ngài cũng chẳng
phải là đấng Cứu Thế mà (có thể) tự ý cứu rỗi những
kẻ khác bằng sự giải thoát của cá nhân Ngài. Ðức Phật
khuyên dạy các đệ tử của Ngài hãy nương tựa vào chính
họ để tìm giải thoát, vì cả hai sự thanh tịnh hay nhiễm
ô (phiền não) đều tùy thuộc ở chính mình. Ðể làm sáng
tỏ sự tương quan giữa Ngài với các đệ tử cũng như nhấn
mạnh đến điều trọng yếu của đức tính tự tin và nỗ
lực cá nhân, đức Phật đã dạy một cách rõ ràng là:
“Các con nên tự mình cố gắng, còn các đức Như Lai (Tathagatas)
chỉ là những bậc Thầy”. Ðức Phật chỉ rõ con đường
và dành cho chúng ta tự ý đi theo con đường đó để đạt
tới sự thanh tịnh (giải thoát).
“Nương
vào kẻ khác để tìm sự giải thoát là tiêu cực, nhưng dựa
vào chính mình là tích cực”. Trông cậy vào người khác
có nghĩa là đầu hàng trước nỗ lực của chính mình.
Nhằm
khuyên các đệ tử của Ngài nên biết tự chủ, đức Phật
đã dạy trong kinh Bát Niết Bàn (Parinibbana Sutta) như sau: “Hãy
làm những hòn đảo cho chính các ngươi, hay làm nột nơi ẩn
náu cho chính các ngươi, đừng tìm chốn nương tựa nào ở
kẻ khác”. Những lời dạy ý nghĩa này là một sự đề
cao con người. Ðiều ấy cho thấy sự tự cố gắng để thành
đạt mục đích của mình là cần yếu như thế nào, cũng
như nông nổi và vô ích ra sao khi (chúng ta) tìm sự giải thoát
qua các đấng cứu rỗi có từ tâm; cùng mong cầu hạnh phúc
hão huyền ở kiếp sau qua sự chuộc tội của các thần linh
tưởng tượng, hoặc do sự lặng lẽ cầu nguyện và những
cuộc tế lễ vô nghĩa.
Hơn
nữa, đức Phật không giành độc quyền Giác Ngộ (Buddhahood),
mà thật vậy, đó không phải là đặc quyền của bất cứ
nhân vật đặc biệt nào. Ngài đã đạt tới cái quả vị
khả hữu cao nhất của sự toàn thiện mà bất cứ người
nào cũng có thể ước mong, và không có tâm ích kỷ của một
bậc thầy, Ngài đã chỉ bày con đường đạo chân chính để
dẫn đưa (chúng ta) tới đích. Theo giáo lý của đức Phật,
ai cũng có thể mong cầu cái quả vị tối thắng của sự
toàn thiện đó, nếu họ thực hiện được một sự cố gắng
cần thiết. Ðức Phật không lên án mọi người bằng cách
xem họ như những kẻ tội lỗi xấu xa; nhưng trái lại, Ngài
đã cho họ niềm vui, khi dạy rằng bản tâm họ vốn là thanh
tịnh. Theo quan niệm của đức Phật,thế giới (con người)
không độc ác, nhưng thế giới ấy đã bị lầm lạc bởi
vô minh. Thay vì làm chán nản các đệ tử của Ngài, và dành
riêng địa vị cao quý ấy cho chính mình, đức Phật đã khuyến
khích
và
khuyên họ noi gương Ngài, vì sự Giác Ngộ tiềm ẩn nơi mọi
người. Nói cách khác, tất cả chúng sanh đều có khả
năng thành Phật.
Người
có tâm nguyện trở thành Phật gọi là Bồ Tát (Bodhisatta)
mà theo nghĩa đen, là chúng sanh đã giác ngộ. Lý tưởng Bồ
Tát là tiến trình của một cuộc sống cao đẹp và tinh khiết
nhất mà nó được hiến dâng cho thế giới vị kỷ này, đại
diện cho điều siêu việt hơn cuộc sống lợi tha và thanh
tịnh.
Từ
một con người Ngài đã thành Phật và thuyết giảng cho thế
giới biết về những tiềm năng phi thường cùng mọi tài
năng sáng tạo của con người. Thay vì đặt trên con người
một Thượng Ðế toàn năng vô hình là đấng chuyên quyền
kiểm soát số phận của nhân loại và bảo họ nên khép nép
rụt rè trước thần quyền tối thượng, đức Phật đã nâng
cao phẩm giá của loài người Chính đức Phật dạy rằng
con người có thể thành đạt sự giải thoát và thanh tịnh
do nỗ lực (tu tập) của chính mình mà không cần dựa vào
một đấng Thần Linh bên ngoài cũng như, khỏi phải nhờ đến
các tu sĩ. Chính đức Phật đã giảng truyền cho thế giới
ích kỷ (chúng ta) cái lý tưởng cao siêu của sự cứu giúp
lợi tha. Ngài đã chống lại tệ đoan phân chia giai cấp suy
đồi (ở Ấn Ðộ) và khuyên dạy về sự bình đẳng giữa
người và người, cũng như cho con người những cơ hội bình
đẳng tự giúp mình làm tăng phẩm giá trong mọi tầng lớp
xã hội.
Ðức
Phật tuyên bố rằng cánh cửa thành công và thạnh vượng
phải rộng mở cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh
của cuộc sống, dù cao thấp, hiền lương hay tội lỗi,
nếu họ quyết tâm cải thiện nếp sống, cầu mong đạt tới
sự toàn thiện.
Không
phân biệt giai cấp, màu da hay chức vị, đức Phật đã thành
lập cho cả hai giới nam lẫn nữ một Giáo Hội dân chủ gồm
những người không có gia đình (xuất gia). Ðức Phật không
cưởng bách tín đồ phải làm nô lệ vào giáo lý của Ngài
hay cho chính Ngài, mà đức Phật đã ban cho họ có quyền tự
do tư tưởng hoàn toàn.
Bằng
lời nói an ủi, đức Phật khuyên giải gia đình có người
mất, Ngài chăm sóc bệnh nhân bị bỏ rơi. Ngài giúp đỡ
kẻ nghèo không ai ngó tới. Ngài nâng cao đời sống của những
tên lường đảo, cải hoán cuộc đời tội lỗi của các
phạm nhân. Ngài khuyến khích người yếu đuối, làm đoàn
tụ kẻ chia ly, giáo hóa cho người vô minh, soi sáng kẻ mê
muội, hướng dẫn người dốt nát, nâng đỡ người thấp
hèn, và tăng cao phẩm giá người cao quý.
Người
giàu lẫn người nghèo, người hiền lương cũng như tội lỗi
thảy đều kính yêu Ngài. Những nhà vua độc tài cũng như
chánh trực, các hoàng tử và quý tộc tiếng tăm lẫn vô danh,
những nhà triệu phú hào hiệp cũng như keo kiết, những học
giả kiêu căng lẫn khiêm tốn, những kẻ ăn xin khốn cùng,
hạng phu quét đường bị áp chế, những tên sát nhân hung
bạo lẫn gái giang hồ bị khinh miệt - tất cả đều hưởng
lợi lạc qua những lời dạy đầy trí tuệ và từ bi của
Ngài.
Gương
lành cao quý của đức Phật là nguồn gợi cảm cho tất cả
mọi người. Nét mặt trầm tĩnh và từ bi của Ngài là một
cảnh tượng bình an đối trước những cái nhìn đầy thành
kính. Bức thông điệp Hòa Bình và Từ Bi của đức Phật
đã được mọi người đón nhận với niềm hoan hỉ vô biên
và là nguồn lợi lạc miên trường cho những ai có duyên may
được nghe và thực hành theo giáo lý đó.
Bất
cứ nơi nào giáo pháp của Ngài được thấm nhuần, nó lưu
lại một ảnh hưởng lâu dài trong tâm tính của mỗi dân
tộc. Sự phát triển về văn hóa của mọi quốc gia Phật
Giáo là chính nhờ ở giáo lý cao siêu của đức Phật. Thật
vậy, tất cả những nước theo Phật Giáo như Tích Lan, Miến
Ðiện, Thái Lan, Cam-pu-Chia, Việt Nam, Lào, Nepal, Tây Tạng,
Trung Hoa, Mông Cổ, Ðại Hàn, Nhật Bản v.v... đều được
trưởng thành trên nền tảng của Phật Giáo. Mặc dù hơn
2500 năm đã trôi qua kể từ ngày nhập diệt của đấng Thế
Tôn vĩ đại nhất này, nhưng nhân cách độc đáo của Ngài
vẫn còn gây ảnh hưởng lớn lao đối với tất cả những
ai đến muốn để tìm hiểu về Ngài.
Ý
chí sắt đá, trí tuệ cao siêu, tình thương bao la, lòng từ
bi vô hạn, sự cứu giúp vị tha, hành động xuất gia lịch
sử, sự hoàn toàn thanh tịnh và thu hút của nhân cách, những
phương pháp đạo đức mà Ngài áp dụng để truyền bá giáo
lý, và sự thành công tối hậu của Ngài - tất cả những
yếu tố ấy đã khiến cho một phần năm nhân loại của thế
giới ngày nay tôn thờ Ngài như vị giáo chủ siêu việt nhất
của họ.
Ðể
tỏ lòng tôn kính chân thành đối với đức Phật, Sri Sri
Radhakrishnan (4) viết: “Nơi đức Phật Cồ Ðàm (Gautama) chúng
ta nhận thấy một bậc thầy trí tuệ của người Ðông Phương,
Ngài không đứng sau bất cứ nhân vật nào về mặt gây ảnh
hưởng trong tư tưởng và đời sống của nhân loại. Mọi
người đều sùng kính, tôn Ngài như vị sáng lập một tôn
giáo cổ truyền, không kém thâm sâu huyền diệu hơn bất cứ
đạo giáo nào khác. Ðức Phật thuộc về lịch sử của tư
tưởng thế giới, và là di sản chung của tất cả những
người đạo đức, bởi vì, xét về mặt trí thức toàn vẹn,
phẩm hạnh trang nghiêm, và giác ngộ tinh thần, Ngài chắc
chắn là một trong những nhân vật vĩ đại nhất của lịch
sử”.
Trong
quyển “Ba Nhân vật Vĩ đại nhất của Lịch Sử” (The Three
Greatest Men in History), nhà học giả H.G. Wells (5) ghi nhận như
sau: “Nơi đức Phật, các bạn thấy rõ ràng Ngài là một
nhân vật giản dị, chân thành, một mình tự lực phấn đấu
cho ánh sáng - một nhân vật sống, chứ không phải là thần
thoại. Ngài đã truyền lại cho nhân loại một bức thông
điệp đầy tánh cách phổ biến. Nhiều tư tưởng hiện đại
cao đẹp nhất của chúng ta đều phù hợp gần gũi với giáo
lý ấy. Ðức Phật dạy rằng mọi khổ đau phiền não đều
do lòng vị kỷ gây ra. Con người trước khi có thể trở nên
thanh tịnh, nó phải chấm dứt cuộc sống theo những giác
quan hoặc cho riêng chính mình. Rồi nó mới trở thành một
bậc đại nhân. Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau,
500 năm trước Chúa Giê-Su, đã dạy con người đức tính vị
tha. Trong vài phương diện, đức Phật gần gũi hơn với chúng
ta và đáp ứng được nhu cầu của chúng ta. Ðức Phật cũng
tỏ ra sáng suốt hơn Chúa Giê-Su, trong sự quan tâm phục vụ
cho con người chúng ta, và ít mơ hồ hơn đối với vấn đề
trường tồn bất tử của kiếp nhân sinh”.
Thánh
Hilaire ghi nhận: “Ðức Phật đã thuyết giảng cái gương
mẫu toàn hảo của mọi điều đạo đức... và trong đời
sống của Ngài không thấy có một vết nhơ nào”. Còn ông
Fausboll tán dương Ngài như sau: “Càng hiểu biết Ngài, tôi
càng kính mến Ngài”.
Một
người tín đồ khiêm tốn của đức Phật sẽ nói: “Càng
hiểu biết Ngài, tôi càng quý mến Ngài. Càng quý mến Ngài,
tôi càng hiểu biết Ngài”.
THE
BUDDHA
On
the full moon day of May, in the year 623 B.C. there was born in the district
of Nepal an Indian Sakya Prince named Siddhattha Gotama, who was destined
to be the greatest religious teacher in the world. Brought up in the lap
of luxury, receiving an education befitting a prince, human as he was,
he married and had a son.
His
contemplative nature and boundless compassion did not permit him to enjoy
the fleeting material pleasures of a Royal household. He knew no woe, but
he felt a deep pity for sorrowing humanity. Amidst comfort and prosperity,
he realized the universality of sorrow. The palace, with all its worldly
amusements, was no longer a congenial place for the compassionate prince.
The time was ripe for him to depart. Realizing the vanity of sensual enjoyments,
in his twenty-ninth year, he renounced all worldly pleasures and donning
the simple yellow garb of an ascetic, alone, penniless, wandered forth
in search of Truth and Peace.
It
was an unprecedented historic renunciation; for he renounced not in his
old age but in the prime of manhood, not in poverty but in plenty. As it
was the belief in the ancient days that no deliverance could be gained
unless one leads a life of strict asceticism, he strenuously practised
all forms of severe austerities He made a superhuman effort for six long
years.
His
body was reduced to almost a skeleton. The more he tormented his body,
the farther his goal receded from him. The painful, unsuccessful austerities
which he strenuously practised proved absolutely futile. He was now fully
convinced, through personal experience, of the utter futility of self-mortification
which weakened his body and resulted in lassitude of spirit.
Benefiting
by this invaluable experience of his, he finally decided to follow an independent
course, avoiding the two extremes of self-indulgence and self-mortification.
The former retards one's spiritual progress, and the latter weakens one's
intellect. The new way which he himself discovered was the Middle Path,
Majjhimà Patipadà, which subsequently became one of the salient characteristics
of his teaching.
One
happy morning, while He was deeply absorbed in meditation, unaided and
unguided by any supernatural power and solely relying on His efforts and
wisdom, He eradicated all defilements, purified Himself, and, realizing
things as they truly are, attained Enlightenment (Buddha hood) at the ripe
age of 35. He was not born a Buddha but He became a Buddha by His own striving.
As the perfect embodiment of all the virtues He preached, endowed with
deep wisdom commensurate with His boundless compassion, He devoted the
remainder of His precious life to serve humanity both by example and precept
dominated by no personal motive whatever.
After
a very successful ministry of 45 long years the Buddha, as every other
human being, succumbed to the inexorable law of change, and finally passed
away in His 80th year, exhorting His disciples to regard His doctrine as
their teacher.
The
Buddha was a human being. As a man He was born, as a man He lived, and
as a man His life came to an end. Though a human being, He became an extraordinary
man (Acchariya Manussa), but He never arrogated to Himself divinity. The
Buddha laid stress on this important point and left no room whatever for
anyone to fall into the error of thinking that He was an immortal divine
being. Fortunately there is no deification in the case of the Buddha. It
should, however, be remarked that there was no Teacher "ever so godless
as the Buddha, yet none so god-like".
The
Buddha is neither an incarnation of the Hindu God Vishnu, as is believed
by some, nor is He a savior who freely saves others by His personal salvation.
The Buddha exhorts His disciples to depend on themselves for their deliverance,
for both purity and defilement depend on oneself. Clarifying His relationship
with His followers and emphasizing the importance of self-reliance and
individual striving, the Buddha plainly states: "You should exert yourselves,
the Tathagatas are only teachers”. The Buddha’s point out the path,
and it is left for us to follow that path to obtain our purification.
"To
depend on others for salvation is negative, but to depend on oneself is
positive". Dependence on others means a surrender of one's effort.
In
exhorting His disciples to be self-dependent the Buddha says in the Parinibbana
Sutta: "Be ye islands unto ourselves, be ye a refuge unto yourselves, seek
not for refuge in others". These significant words are self-elevating.
They reveal how vital is self-exertion to accomplish one's object and,
how superficial and futile is to seek redemption through benignant saviors
and to crave for illusory happiness in an after-life through the propitiation
of imaginary gods or by irresponsive prayers and meaningless sacrifices.
Furthermore,
the Buddha does not claim the monopoly of Buddhahood which, as a matter
of fact, is not the prerogative of any specially graced person. He reached
the highest possible state of perfection any person could aspire to and
without the close-fist of a teacher. He revealed the only straight path
that leads thereto. According to the Teachings of the Buddha anybody may
aspire to that supreme state of perfection if he makes the necessary exertion.
The Buddha does not condemn men by calling wretched sinners, but, on the
contrary, He gladdens them by saying that they are pure in heart at conception.
In His opinion the world is not wicked, but is deluded by ignorance. Instead
of disheartening His followers and reserving that exalted state only to
Himself, He encourages and induces them to emulate Him, for Buddha hood
is latent in all. In one sense all are potential Buddha’s.
One
who aspires to become a Buddha is called a Bodhisattva, which, literally,
means a wisdom being. This Bodhisattva ideal is the most beautiful and
the most refined course of life that has ever been presented to this egocentric
world. for what is nobler than a life of service and purity.
As
a Man He attained Buddhahood and proclaimed to the world the latent inconceivable
possibilities and the creative power of man. Instead of placing an unseen
Almighty God over man who arbitrarily controls the destinies of mankind,
and making him subservient to a supreme power, He raised the worth of mankind.
It was He who taught that man could gain his deliverance and purification
by his own exertion without depending on an external God or mediating priests.
It was He who taught the egocentric world the noble ideal of selfless service.
It was He who revolted against the degrading caste system and taught equality
of mankind and gave equal opportunities for all to distinguish themselves
in every walk of life.
He
declared that the gates of success and prosperity were open to all in every
condition of life, high or low, saint or criminal, who would care to turn
a new leaf and aspire to perfection.
Irrespective
of caste, color or rank He established for both deserving men and women
a democratically constituted celibate Order. He did not force His followers
to be slaves either to His Teachings or to Himself but granted complete
freedom of thought
He
comforted the bereaved by His consoling words. He ministered to the sick
that was deserted. He helped the poor that were neglected. He ennobled
the lives of the deluded, purified the corrupted lives of criminals. He
encouraged the feeble, united the divided, enlightened the ignorant, clarified
the mystic, guided the benighted, elevated the base, dignified the noble.
Both
rich and poor, saints and criminals loved Him alike. Despotic and righteous
kings, famous and obscure princes and nobles, generous and stingy millionaires,
haughty and humble scholars, destitute paupers, downtrodden
scavengers, wicked murderers, despised courtesans - all benefited by His
words of wisdom and compassion.
His
noble example was a source of inspiration to all. His serene and peaceful
countenance was a soothing sight to the pious eyes. His message of Peace
and Tolerance was welcomed by all with indescribable joy and was of eternal
benefit to every one who had the fortune to hear and practice it.
Wherever
His teaching penetrated it left an indelible impression upon the character
of the respective peoples. The cultural advancement of all the Buddhist
nations were mainly due to His sublime Teachings. In fact all Buddhist
countries like Ceylon, Burma, Thailand, Cambodia, Vietnam, Laos, Nepal,
Tibet, China, Mongolia, Korea, Japan, etc. grew up in the cradle of Buddhism.
Though more than 2500 years have elapsed since the passing away of this
greatest Teacher, yet His unique personality exerts a great influence on
all who come to know Him.
His
iron-will, profound wisdom, universal love, boundless compassion, selfless
service, historic renunciation, perfect purity, magnetic personality, exemplary
methods employed to propagate the Teachings, and His final success - all
these factors have compelled about one-fifth of the population of the world
today to hail the Buddha as their supreme religious Teacher.
Paying
a glowing tribute to the Buddha, Sri Radhakrishnan states: "In Gautama
the Buddha we have a mastermind from the East second to none so far as
the influence on the thought and life of the human race is concerned, and,
sacred to all as the founder of a religious tradition whose hold is hardly
less wide and deep than any other. He belongs to the history of the world's
thought, to the general inheritance of all Cultivated men, for, judged
by intellectual integrity, moral earnestness, and spiritual insight, He
is undoubtedly one of the greatest figures in history".
In
The Three Greatest Men in History H.G. Wells writes: "In the Buddha you
see clearly a man, simple, devout, lonely, battling for light – a vivid
human personality, not a myth. He too gave a message to mankind universal
in character. Many of our best modern ideas are in closest harmony with
it. All the miseries and discontents are due, he taught, to selfishness.
Before a man can become serene he must cease to live for his senses or
himself. Then he merges into a great being. Buddha in different language
called men to self-forgetfulness 500 years before Christ. In some ways
he is nearer to our needs and us. He was more lucid upon our individual
importance and service than Christ and less ambiguous upon the question
of personal immortality".
St.
Hilaire remarks "The perfect model of all the virtues He preaches... His
life has not a stain upon it". Fausboll says - "The more I know Him,
the more I love Him".
A humble
follower of his would say - "The more I know Him, the more I love Him;
the more I love Him, the more I know Him".