Do
đó, trong thời đại ngày nay, hầu hết những tôn giáo khác
thì mới và trẻ khi được so sánh với tôn giáo đáng kính
này, một tôn giáo chứa đựng trong nó sự vô tận của niềm
hy vọng toàn cầu, sự bất tử của tình thương không bờ
bến, một yếu tố bất hoại của niềm tin về sự tuyệt
mỹ, và sự quả quyết tự hào nhất về quyền tự do giải
thoát nhân loại.
Đây
hoa nở rộ trên cây nhân loại
Đã
bừng nở qua vô số năm
Làm
thế giới chan hòa hương thơm trí tuệ
Và
mật ngọt tình thương.
Sir
Edwin Arnold (1832-1904), Nhà thơ, nhà báo người Anh, và tác giả
cuốn "Ánh sáng Á châu"
Những
lời dạy của thái tử người Ấn Độ thực sự không có
gì lay chuyển trước những phát minh hiện đại của khoa học…
Ngôn từ sẽ không làm cho tôi hiểu nếu tôi cố gắng bày
tỏ sự cần thiết mà tôi nghĩ tri thức của niềm tin và
triết lý cao siêu của tôn giáo này làm cho sinh động thêm
chủ nghĩa vật chất của Tây phương… Đó là, trong bất
kỳ tình huống nào, một chân lý đã làm ảnh hưởng không
chỉ đối với những tư tưởng gia vĩ đại và hùng vĩ nhất
của Hy Lạp và La Mã mà còn làm những cơ sở khởi đầu
cho nền tảng của tư tưởng Cơ đốc giáo-mà Phật giáo đã
ra đời trước tôn giáo này khoảng 500 đến 600 năm. Tôn giáo
này có thể tuyên bố kết bạn tốt đẹp cùng nguồn gốc
với những tôn giáo lớn, mà không có sự hành quyết và ép
buộc những người thuộc tôn giáo khác Phật giáo, và
những lý do này có thể chứng kiến dễ dàng trong chính giáo
lý của tôn giáo này.
L.
Adam Beck, một nhà lữ hành và một học giả người Hoa Kỳ.
Đối
với tín đồ Cơ đốc giáo, thì tình yêu là đức tính tối
thượng; nhưng đối với tín đồ Phật giáo, thì lại là
trí tuệ bởi vì họ cho rằng vô minh là nguồn gốc của tất
cả những tội lỗi. Đồng thời, tình yêu cũng được xếp
lên hàng cao….Khoan dung và lòng từ, cả hai được căn cứ
tên cơ sở trí tuệ Phật giáo, có lẽ là nguyên nhân chính
giải thích tại sao con đường Trung đạo của đức Phật
Cồ Đàm đã truyền bá từ thế hệ này sang thế hệ khác
hơn 2500 năm qua.
Sir
Charles Bell KCIE, CMG (1870-1945), nhà ngoại giao và nhà biên soạn
từ điển người Anh.
Thông
điệp của đức Phật về chân lý, hòa bình, từ bi và khoan
dung rất là thích hợp đối với xã hội ngày nay cũng như
nhiều thế kỷ trước đây. Thời gian trôi qua đã làm cho
những ánh sáng càng tỏa sáng hơn. Sự lan tràn của chủ nghĩa
vật chất và sự theo đuổi những thành đạt của cá nhân
bất chấp mọi giá đã làm xói mòn những sợi dây thắt chặt
tình huynh đệ và tính cộng đồng. Trong những tình huống
này, điều cần thiết và quan trọng đối với chúng ta là
nhớ lại và truyền bá thông điệp về từ bi và trí tuệ
của đức Phật để mà hận thù có thể được thay thế
bằng tình thương, xung đột bằng hòa bình an lạc, và sự
đối đầu bằng hợp tác lẫn nhau.
Tiến
sĩ Amadou-Mahta M'Bow-Chủ tịch tổ chức UNESCO.
Chỉ
có một trong tất cả các tôn giáo lớn làm cho tôi hấp dẫn
đó là Phật giáo; và đó là, như sự hiểu biết của tôi
về tôn giáo này, đúng hơn là một hệ thống triết học
của thế giới, và một triết lý sống đối với những người
ưu tú được hình thành ở nơi tôn giáo này, chứ không phải
là một tôn giáo xét theo ý nghĩa thông thường của ngôn từ.
CD
Broad (1887-1971), triết gia người Anh.
Cuộc
cách mạng gần đây của con người có lẽ bắt đầu với
sự tiến bộ cao của chân tay, và sự lựa chọn một bộ
não, đặc biệt thông thạo thao tác của đôi bàn tay. Chúng
ta cảm thấy vui mừng về điều đó trong những hành động
của mình, với kết quả là đối với giới nghệ thuật,
bàn tay là một biểu tượng chính yếu; chẳng hạn bàn tay
của đức Phật, ban tặng cho con người món quà của lòng
nhân đạo trong một tư thế tịch lặng, món quà của sự
vô uý.
J.
Bronowski (1908-1974), một tác giả và triết gia, khoa học
gia người Hoa Kỳ.
Cho
dù người phương Tây lần đầu đến với giáo lý đạo Phật
mà họ vốn dĩ quen với khoa học hiện đại, hay những thuật
ngữ chuyên môn của đạo Cơ đốc giáo, anh ta nên luôn luôn
ghi nhớ trong tâm mình rằng đức Phật không quan tâm sự hiện
hữu hay không hiện hữu của một đấng quyền năng tối cao,
hoặc là những mệnh đề triết học trừu tượng khác. Điều
Ngài quan tâm duy nhất là “con đường”, con đường thực
tế, qua đó con người có thể chấm dứt những khổ đau của
mình trong kiếp này và mai sau.
Marie
b. Byles (1900-1979), một tác giả và nhà leo núi người Úc.
Thông
điệp của đức Phật về từ bi và sự tận tâm, nhiệt tình
trong công việc phục vụ cho nhân loại càng thích hợp hơn
trong xã hội ngày nay hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân
loại. Hòa bình, sự hiểu biết và một cách nhìn vượt khỏi
những hạn chế thuần tuý trong phạm vi quốc gia thì càng
cấp bách hơn đối với thời đại bất an, thiên về vũ khí
hạt nhân.
Javier
Perez De Cuellar, nhà ngoại giao của Peru, và Tổng Thư ký của
Liên Hợp Quốc.
Người
ta không thể từ chối rằng vẻ đẹp thực sự của Đông
phương trong nhiều thành ngữ mà giới Phật tử sử dụng;
và rằng có cơ sở thực sự cho sự nhiệt tình khiến họ
phát sinh. Chưa bao giờ trong lịch sử của thế giới một
kế hoạch như thế lại được vạch ra, quá tự do thoát khỏi
những tác nhân của một đấng siêu nhiên, quá độc lập,
thậm chí rất đối kháng với niềm tin về một linh hồn,
niềm tin vào một Thượng đế, và hy vọng một kiếp sống
tương lai.
Cho
dù những điều này là đúng hay sai, đó là một điểm chuyển
đổi trong lịch sử tôn giáo của con người khi mà một nhà
cải cách, hoàn toàn đầy đủ nhiệt tâm nhất vì những mục
tiêu luân lý đạo đức và được đào tạo trong tất cả
nền văn hóa tri thức trong thời đại của vị ấy, đã đưa
ra một cách thận trọng, cân nhắc, và với một tri thức
có những quan điểm chống lại học thuyết của sự cứu
rỗi được tìm thấy ở đây, ngay trong kiếp sống này, trong
một trái tim tâm hồn thay đổi bên trong.
Dù
là Phật tử hay không phải, tôi đã xem xét mỗi một hệ
thống của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới, và
tôi không tìm thấy tôn giáo nào có thể vượt qua cái đẹp
và tính toàn diện của giáo lý Bát thánh đạo và Tứ thánh
đế của đức Phật. Tôi bằng lòng xây dựng cuộc đời
mình theo con đường đó.
Giáo
sư T.W. Rhys Davids (1843-1922), nhà biên tập từ điển Đông
phương và người đầu tiên nắm chức Chủ nhiệm khoa Tôn
giáo so sánh của Trường đại học Anh quốc.
Cũng
như những bậc thầy khác cùng thời đại Ngài, đức Phật
giảng dạy thông qua những cuộc hội thoại, bài diễn thuyết,
và những hình ảnh ẩn dụ. Bởi vì Ngài chẳng bao giờ nảy
ra suy nghĩ, so với đấng Christ hoặc là Socrates, đem học thuyết
của Ngài viết thành văn bản, Ngài đã tóm tắt những lời
thuyết giảng ấy thành những bộ kinh nhằm mục đích nhắc
nhở cho chúng ta ghi nhớ những gì Ngài dạy. Như đã được
chư vị đệ tử Ngài bảo tồn cho chúng ta ngày nay, những
bài kinh này vô tình vẽ cho chúng ta một nhân vật đặc trưng
nhất trong lịch sử Ấn Độ: một con người với ý chí và
nghị lực mạnh mẽ, quyền uy và tự hào, danh tiếng, nhưng
có một nhân cách nhã nhặn tế nhị và ngôn từ hiền hòa
từ ái, và một lòng từ tâm vô biên. Ngài tuyên bố sự giác
ngộ giải thoát nhưng không có một sự khêu gợi; Ngài không
bao giờ giả vờ rằng một vị thiên thần đang nói chuyện
với Ngài. Trong tranh luận, Ngài kiên nhẫn và trung dung hơn
bất kỳ những vị đạo sư khác của nhân loại.
Giống
như Đức Khổng Phu Tử và Christ, Ngài mong muốn chuyển hóa
ác thành thiện, tình thương thay hận thù; và Ngài hoàn toàn
im lặng trước những sự hiểu lầm và nhục mạ của kẻ
khác… Không giống như hầu hết các bậc Thánh khác, đức
Phật có một óc hài hước, và biết rằng hiện tượng siêu
hình học mà không có hành động là sự kêu căng.
Will
Durant (1885-1981), một sử gia người Mỹ và người đoạt giải
thưởng Pulitzer.
Nhưng
sự cuốn hút của Eliot đến với Phật giáo không chỉ đơn
giản là lý do của hệ thống triết lý của tôn giáo này.
Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn của tham, sân, si; sự
đoạn diệt hoàn toàn tham ái, tự do giải thoát khỏi sự
chấp thủ…. Sự chuyên chế của đạo Phật thì rất nghiêm
khắc như những gì mà anh ta tìm thấy trong Maurras, và mặc
dù có lẽ anh ta bị cuốn hút bởi Phật giáo cũng vì nhiều
lý do tương tự, tôn giáo phương Đông có những sự gắn
bó lãng mạn cho những ai muốn tách khỏi những sự ràng buộc
của gia đình.
Peter
Ackrayd bình về nhà thơ người Anh-T.S.Eliot (1888-1965).
Trong
những tôn giáo vĩ đại nhất trong lịch sử, tôi thích Phật
giáo hơn, đặc biệt là Phật giáo Nguyên thuỷ, bởi vì tôn
giáo này không có những yếu tố ngược đãi, khủng bố.
Phật giáo là một sự kết hợp giữa nền triết lý tư biện
và khoa học. Phật giáo tán thành những phương pháp khoa học
và tiếp tục theo đuổi mục đích đó và có thể được
gọi là một tôn giáo lý trí. Trong tôn giáo này chúng ta tìm
thấy câu trả lời cho những câu hỏi như: "Danh và sắc là
gì? Cái nào quan trọng hơn cái nào? Thế giới và vũ trụ
có chuyển động đến một mục tiêu nào đó hay không? Địa
vị của con người là gì ? Liệu có một đời sống thánh
thiện hay không?" Phật giáo dìu dắt đến những nơi mà khoa
học không thể đưa đến bởi vì những giới hạn trong việc
sử dụng những công cụ của khoa học. Những đòi hỏi đó
chính là yếu tố tâm.
Chính bản thân tôi không thể cảm thấy rằng hoặc là trong
vấn đề của trí tuệ hoặc là trong vấn đề của đức
hạnh mà Chúa là người đại diện cao nhất trong lĩnh vực
này cũng như một số người được biết trong lịch sử.
Tôi nghĩ rằng tôi nên đặt đức Phật và Socrates lên trên
Chúa đối với những sự tôn kính này.
Bertrand
Rusell (1872- 1970), nhà toán học, triết gia, học giả và nhà
phê bình xã hội người Anh.
Con
người đã từ bỏ sự vô minh vọng tưởng về một đấng
Thượng đế như là một người cha giúp đỡ- nhưng anh ta
cũng từ bỏ những mục đích chân thật của tất cả những
tôn giáo lớn mang tính nhân bản: vượt qua những sự giới
hạn của một cái tự ngã ích kỷ, đạt được tình thương,
mục đích và sự khiêm nhường và tôn trọng sự sống để
mà mục đích của cuộc đời được sống, và con người
trở lại với những tiềm năng ẩn chứa bên trong anh ta.
Đây
là những mục đích của các tôn giáo lớn phương Tây, cũng
như đây là những mục tiêu của các tôn giáo lớn phương
Đông. Tuy nhiên, phương Đông thì không bị đè nặng bởi
ý niệm về một đấng Thượng đế siêu nghiệm-một đấng
cứu thế mà các tôn giáo nhất thần thường cho là tài sản
của riêng họ.
Đạo
giáo và Phật giáo xét về mặt hợp lý và thiết thực thì
siêu việt hơn những tôn giáo phương Tây. Hai tôn giáo này
có thể xem xét con người một cách thiết thực và có mục
đích, không một ai ngoại trừ bậc giác ngộ có thể dẫn
dắt con người và có thể được dẫn dắt chỉ đường bởi
vì mỗi người đều có trong mình khả năng giác ngộ và được
giác ngộ.
Đây
là lý do quý hiếm giải thích tại sao tư tưởng Đong phương,
Đạo giáo, Phật giáo và thiền Phật giáo đảm nhiệm một
vai trò quan trọng như thế trong xã hội phương Tây hiện nay.
Thiền Phật giáo giúp cho con người tìm ra những giải đáp
cho vấn đề hiện hữu của anh ta….
Nghịch
lý thay, tư tưởng tôn giáo Đong phương hóa ra thích hợp hơn
đối với tư tưởng duy lý phương Tây hơn là chính bản thân
tư tưởng tôn giáo Tây Phương.
Erich
Fromm (1900-1980), một triết gia xã hội và nhà phân tích tâm
lý người Mỹ.
Có
thể có một ý nghĩa lớn lao trong sự kiện rằng triết gia
Pythagoras tại Hy Lạp và đức Phật tại Phương Đông đều
xuất hiện cùng lúc vào thế kỷ thứ 6 B.C. Cả hai Ngài đều
là những nhà tư tưởng và hoạt động mạnh bạo và sâu
sắc…
R.Buckminster
Fuller (1895-1984), một nhà phát minh, triết gia và kỹ sư người
Mỹ.
Là
một người nghiên cứu về tôn giáo tỷ giáo, tôi tin tưởng
đạo Phật là đạo hoàn toàn nhất mà thế giới đã có.
Học thuyết tiến hóa và luân hồi cao đẹp hơn bất cứ niềm
tin nào khác. Không phải lịch sử tôn giáo cũng không phải
là sự nghiên cứu triết học mà chính nghề nghiệp chuyên
môn của tôi như là một bác sĩ đã đưa tôi lần đầu tiên
đến thế giới tư tưởng Phật giáo. Công việc của tôi
là chữa trị những khổ đau về mặt tâm thần và chính điều
này đã đưa đẩy tôi làm quen với quan điểm và phương pháp
của Bậc thầy vĩ đại của nhân loại, mà đề tài chính
yếu là sự khổ đau triền miên, già, bệnh và chết.
Bác
sĩ Carl C. Jung (1875-1961), tâm lý gia người Thụy Sĩ và người
sáng lập trường chuyên về nghành tâm lý.
Lời
giảng dạy căn bản của Ngài Cồ Đàm, nghiên cứu từ cội
gốc ngày nay đã trở nên rõ ràng và dễ hiểu và hoàn toàn
phù hợp với những tư tưởng tân tiến. Nó vượt khỏi tất
cả những sự tranh chấp, và là sự thành tựu của một trong
những nguồn trí tuệ thể nhập tuyệt vời mà thế giới
đã từng biết đến.
Hơn
hết mọi ảnh hưởng trong biên niên sử nhân loại, đạo
Phật đã đóng góp nhiều hơn cho những sự tiến bộ của
nền văn minh thế giới và nền văn hóa của nhân loại…
H.G.
Wells (1866-1946).
Ta
nhập thế bằng tình yêu bát ngát, dù cuộc đời vẫn quằn
quại thương đau. Bất cứ ai nếu chăm chú đọc một vài
bài thuyết pháp của đức Phật cũng sẽ nhận thấy sự nhịp
nhàng, sự yên tĩnh của tâm hồn, sự cao đẹp vui tươi, sự
quyết tâm không mảy may lay chuyển, lòng yêu thương dạt dào
và sự kiên trì không bờ bến.
Nội
dung trí tuệ những lời dạy của Ngài chỉ là một phần
sự nghiệp của Ngài, và nửa còn lại là cuộc đời của
Ngài, đời sống thực mà Ngài đã sống, một sự tu tập,
sự tự tu tập tâm linh cao nhất mà Ngài đã hoàn tất
và đem ra giảng dạy ở nơi đây. Đức Phật đã hoàn tất
sự tu tập tâm linh cho chính mình và chư đệ tử của Ngài.
Ngài đã đề xuất một mục đích và đã đạt được những
kết quả mà các nhà hành động chân chính nổi danh của phương
Tây đã phải ngã mũ kính phục.
Herman
Hesse (1877-1962), người đoạt giải thưởng Nobel văn chương.
Chẳng
hạn nếu chúng ta thắc mắc liệu vị trí của âm điện tử
đứng yên, chúng ta phải trả lời là không; nếu chúng ta
hỏi liệu vị trí của âm điện tử có thay đổi cùng với
thời gian hay không, chúng ta phải trả lời là không; nếu
chúng ta hỏi rằng liệu âm điện tử có yên nghỉ hay không,
chúng ta phải trả lời là không; nếu hỏi âm điện tử có
di động hay không, chúng ta phải trả lời là không. đức
Phật cũng trả lời như vậy khi được hỏi về những
điều kiện về tự ngã của con người sau khi chết, nhưng
chúng không phải là những câu trả lời tương tự đối với
truyền thống của nền khoa học thế kỷ 17 và 18.
Robert
Oppenheimer, nhà vật lý học, cha đẻ của trái bom nguyên tử
đầu tiên của Hoa Kỳ.
Chủ
nghĩa bi quan yếm thế bày tỏ thái độ tuyệt vọng đối
với đời sống, một ý niệm tổng quát và mơ hồ rằng đời
sống đầy dẫy khổ đau và tội lỗi. Trong thực tế, giáo
lý nguyên thủy của đức Phật cũng lạc quan như bất luận
chủ nghĩa lạc quan nào khác ở phương Tây. Chủ trương rằng
Phật giáo là "bi quan" là chỉ áp dụng suông vào Phật giáo
nguyên tắc đặc cách của người phương Tây, theo đó không
thể có hạnh phúc nếu không có tự ngã. Người Phật tử
chân chánh nhìn tương lai với tinh thần nhiệt thành hướng
về hạnh phúc trường cửu.
Encyclopaedia of Britannica.
Tính
chất ôn hòa của dân tộc Ấn biểu hiện trọn vẹn giáo
lý của đức Phật. Phật giáo truyền bá tinh thần bất bạo
động, tức là lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sanh.
Đối với người cư sĩ Phật tử, chế tạo và buôn bán súng
đạn, chất độc, chất say, giết hại cầm thú đều là những
giới không nên phạm.
Aldous
Huxley.
Chắc
chắn có những lý do để chủ trương rằng cái "Tôi" ngày
hôm nay và cái "Tôi" ngày hôm qua là một, và để lấy một
thí dụ hiển nhiên hơn nữa, nếu cùng một lúc, tôi thấy
một người và nghe người ấy nói thì rõ ràng là cái "Tôi"
nghe và cái "Tôi" thấy là một.
Bertrand
Russell-Religion and Science.
Thật
không phải quá đáng khi quả quyết rằng nhờ sự trung gian
của người Ba Tư mà những người Hy Lạp hiếu kỳ đồng
thời với đức Phật..đã thâu nhập những kiến thức ít
nhiều chính xác về thời kỳ văn hóa cực thịnh của phương
Đông.
Greek
Thinkers- sử gia Garbe.
Những
ai được ở trong một gia tộc hoặc trong một làng nằm theo
lưu vực sông Hằng (Ganges) thật là hữu phước, vì nơi đây
dân chúng sống trong tinh thần bác ái, an lành, trong tinh thần
công lý cao thượng, nơi đây dân chúng được hít thở một
thứ không khí nhẹ nhàng, do những lời giản dị chất phác
tạo nên… Ta cũng có thể nói rằng những ai sống trong
một gia đình hoặc một làng nằm trong lưu vực sông Thames
ngày nay cũng không kém phần hữu phước, vì nơi đây giáo
lý từ bi giữa người và người của đức Phật đã thấm
nhuần đời sống gia đình và xã hội và đã làm cho nền
luân lý vững chắc. Giáo lý đó vẫn còn rõ ràng, đầy đủ
và thích hợp với người Anh hiện nay, cũng như từ bao giờ,
đã thích hợp với người Ấn.
Giáo
sư Rhys Davids.
Đức
Phật là sự hiện thân của tất cả những đức hạnh mà
Ngài thuyết giảng. Trong suốt cuộc hành trình 45 năm đầy
thành công và đáng ghi nhớ của Ngài, Ngài đã chuyển dịch
tất cả những ngôn từ của mình thành hành động; và không
có chỗ nào mà Ngài không nói hết những khiếm khuyết của
con người hoặc là những sự đam mê hạ liệt thấp hèn.
Nền tảng luân lý đạo đức chủ yếu của đức Phật là
hoàn hảo nhất mà thế giới đã từng biết đến.
Giáo
sư Max Muller, Học giả người Đức.
Paul
kết hợp tình yêu với lòng tin và hy vọng, và quan điểm
của ông ta về tình yêu liên quan đến niềm tin và hy vọng:
" Tình yêu, ông ta nói, là tin tưởng tất cả mọi thứ và
hy vọng mọi thứ." Theo tôi, tình yêu không có nghĩa là
tin tưởng vào tất cả và hy vọng tất cả. Tình yêu sống
soát khi sự vỡ mộng, thất vọng bắt đầu và tiếp tục
ở sự thất vọng, buồn rầu. Tình yêu không phải là thứ
tình thương ngưng hoạt động khi không có niềm tin và hy vọng.
Miễn là khi nào còn niềm tin và hy vọng hỗ trợ tình yêu
thì đó chỉ là một thứ tình yêu trẻ con. Rằng tình yêu
là hạnh phúc dễ chịu là một chuyện hoang đường mang tính
chất thời trang. Đức Phật biết rằng tình yêu mang lại
"sự tổn thương và khổ đau, buồn rầu, thất vọng, áo não";
và Ngài khuyên thái độ ly tham, không chấp thủ. Tình yêu
mà tôi xem như là một đức hạnh thì không phải là một
thứ tình yêu mù quáng về người mình yêu hoặc là người
mình tin cậy, một tình yêu đầy hy vọng của Paul, nhưng tình
yêu mà biết những gì đức Phật đã biết và vẫn yêu, với
đôi mắt mở rộng.
Giáo
sư Walter Kaufmann, triết gia người Mỹ.
Anh
ta đọc nhiều sách và hiểu sâu sắc về kinh điển Phật
giáo, phiên dịch kinh điển sang Pháp ngữ, và thậm chí viết
tiểu sử của đức Phật. Nhưng căn nguyên sâu xa khiến cho
anh ta quan tâm thích thú đạo Phật là sự kiện mà anh ta cảm
thấy Phật giáo đã mang lại cho anh ta sự củng cố trực
tiếp về tư tưởng triết học để giải tỏa những sự
thất vọng trong cuộc sống của anh ta…Jack tuân giữ giới
thứ nhất trong đạo Phật hơn tất cả những thứ khác và
phát biểu rằng: "Tất cả đời là khổ đau".
Ann
Charters.
Nếu
tôi biết rằng đức Phật sẽ thuyết giảng ở đây vào ngày
mai, thì trên thế gian này không có một thứ gì có thể ngăn
cản việc tôi đi đến nghe Ngài thuyết giảng. Và tôi sẽ
theo Ngài cho đến cùng.
J.Krishnamurti,
triết gia người Ấn (1895-1986). Krishnamurti
Người
Ấn, người Aztec, và người Mê-hi-cô xưa! Tất cả đều làm
cho tôi thích thú và đã làm cho tôi thích thú trong nhiều năm
qua, có một sưc quyến rũ, và một phép thần diệu đối với
tôi. Không phải là đức Phật. Đức Phật là một con người
quá hoàn hảo và sung mãn đối với tôi.
D.
H. Lawrence (1885-1930), tiểu thuyết gia người Anh.
Ngày
nay khoa học đang thử thách sự hạn chế của bộ não con
người, một bộ não bao gồm khoảng 10.000 triệu tế bào được
kích thích xung điện đã được trù tính với những bản
năng của lịch sử lâu dài của chúng ta và dễ tiếp thu những
ý kiến mới dù đúng hay sai. Tổng số những tế bào này
cung cấp cho chúng ta biết được cá tính luôn thay đổi của
chúng ta và sự loại bỏ từng phần bằng cách giải phẩu
hay thay đổi nhịp bằng sự điều trị bất ngờ thay đổi
nhân cách của chúng ta…
Bạn
thấy rõ ràng đức Phật là một con người giản đơn, tận
tuỵ, đơn chiếc, phấn đấu để đạt được ánh sáng trí
tuệ, một cá nhân mang bản chất con người sinh động, chứ
không phải là một huyền thoại. Trong số các truyền thuyết
thần kỳ tôi cũng cảm thấy có một con người, đó là đức
Phật. Ngài đã gởi bức thông điệp tiêu biểu cho tính cách
của tôn giáo mình cho toàn thể nhân loại trên khắp toàn
cầu. Nhiều tư tưởng hiện đại tuyệt vời nhất của chúng
ta ngày nay rất hài hòa với giáo lý của Ngài. Ngài dạy tất
cả những khổ đau và sự bất mãn trong cuộc sống là do
ích kỷ. Ích kỷ có 3 hình thức. Một là sự tham muốn nhằm
thoả mãn những cảm giác của cá nhân; hai là sự khát ái,
hay muốn bất tử; ba là tham vọng được thành công về của
cải vật chất và thế gian trần tục. Trước khi một con
người muốn trở nên thanh tịnh, anh ta phải từ bỏ lối
sống cho những nhu cầu dục vọng của chính mình. Sau đó,
anh ta mới có thể trở thành một bậc vĩ nhân. đức Phật,
ra đời trước Đấng Christ, đã dùng nhiều hình thức ngôn
ngữ khác nhau để kêu gọi con người hãy sống với đức
tính vị tha. Xét về một số phương diện, Ngài rất gần
gũi với chúng ta và những nhu cầu của chúng ta. Ngài rất
minh bạch hơn Chúa đối với tinh thần phục vụ con người,
và không mơ hồ về vấn đề bất tử của cá nhân.
H.G.
Wells
Nếu
chúng ta ao ước muốn nhìn thấy con người thánh thiện nhất
của nhân loại, hãy nhìn vị hoàng đế trong y phục của một
người hành khất; chính là Người mà sự thánh thiện của
Ngài vĩ đại nhất so với tất cả nhân loại.
Abdul
Atahiya thi nhân Hồi giáo.
Nếu
bất kỳ vấn đề nào phải được xem xét, thì vấn đề
ấy phải được xem xét một cách hài hòa an lạc và dân chủ
như phương pháp mà đức Phật đã dạy.
Nehru
Sự
khác biệt giữa đức Phật và một chúng sanh tầm thường
thì giống như sự khác biệt giữa một người bình thường
và người điên khùng mất trí.
Một
nhà văn.
Đức
Phật có thể được dễ dàng để chọn lựa như là một
nhân vật được đại đa số nhân loại tôn kính nhất.
Giáo
sư Saunders, Tổng thư ký văn hóa Y.M.C.A, Ấn Độ, Miến điện
và Tích Lan.
Đức
Phật vĩ đại hơn tất cả các học thuyết và tín điều
khác, và thông điệp vĩnh cửu của Ngài đã làm cho nhân loại
rung động qua nhiều thời đại. Có lẽ không thời điểm
nào trong lịch sử quá khứ nhân loại mà thông điệp về
hòa bình của Ngài lại cần thiết hơn cho nhân loại đang
khổ đau và điên cuồng như thế giới hiện nay.
Nehru
Khi
chúng ta đọc những bài pháp của đức Phật, chúng ta bị
cảm kích bởi tinh thần lý trí khoa học của Ngài. Con đường
đạo đức luân lý của Ngài, ngay trong những bước đầu
tiên là những quan điểm đúng đắn, một cái nhìn lý trí.
Ngài nỗ lực nhằm xua tan tất cả những màng nhện giăng
mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân
loại.
Tiến
sĩ S. Radhakrishnan, đức Phật Cồ Đàm
Đặc
điểm nổi bật đáng chú ý nhất của đức Phật là sự
kết hợp độc nhất vô nhị giữa một tinh thần khoa học
trầm tĩnh và sự thông cảm thâm uyên đầm ấm và từ tâm.
Thế giới ngày nay ngày càng hướng về đức Phật nhiều
hơn vì chỉ có Ngài là người đại diện cho lương tâm của
nhân loại.
Moni
Bagghee, "đức Phật Của Chúng Ta".
Đức
Phật là người tiên phong như là một người thương yêu nhân
loại và là một triết gia siêu phàm kết hợp trong mình một
cá tính dũng cảm và sáng chói. Ngài có những điều để
nói mà không một ai khó lòng mà quên được là sau hơn 2500
năm hăng say, vội vã và thuyết giảng về nền tảng của
tri thức. Vĩ đại hơn là trí tuệ của Ngài là một tấm
gương mà NGài đã đưa ra làm chứng.
Moni
Bagghee, đức Phật của chúng ta.
Đức
Phật như là một bậc lương y. Cũng như bác sĩ phải biết
chẩn đoán nhiều căn bệnh khác nhau, nguyên nhân của bệnh,
thuốc giải độc và phương pháp chữa trị, và có thể áp
dụng thuốc thích hợp; đức Phật cũng vậy, NGài dạy cho
chúng ta Bốn chân lý thánh thiện (Tứ Thánh Đế) chỉ ra sự
hiện hữu của khổ đau, nguyên nhân của khổ, sự đoạn
diệt và con đường đưa đến sự diệt tận của khổ đau.
Tiến
sĩ Edward Conze, "Phật giáo"
Đức
Phật không phải là tài sản của riêng cho giới Phật tử.
Ngài là tài sản của toàn thể nhân loại. Giáo pháp của
NGài dành cho tất cả mọi người. Mọi tôn giáo, được ra
đời sau đức Phật, đã mượn nhiều ý tưởng hay đẹp từ
đức Phật.
Một
học giả Hồi Giáo.
Đức
Phật là một người cha nhìn thấy đàn con của mình đang
nô đùa, vui chơi trong ngọn lửa thế gian đầy nguy hiểm và
Ngài dùng mọi phương tiện thiện xảo để cứu các con mình
ra khỏi nhà lửa đang cháy này và đưa chúng đến nơi an lạc
của Niết-bàn.
Giáo
sư Lakshimi Narasu, "Tinh Hoa Của Phật giáo"
Càng
ngày tôi càng cảm thấy rằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni gần
gũi nhất về đặc tính và thực nghiệm của Ngài. Ngài là
con đường, là chân lý, và là lẽ sống.
Giám
mục Milman.
Đó
chính là lúc tôi đang sinh sống tại Oxford vào những năm đầu
năm 1970 tôi bắt đầu quan tâm thích thú Phật giáo. Cuộc
đời của tôi thì đầy dẫy những bối rối và căng thẳng,
và tôi tìm thấy triết lý đạo Phật một phương pháp tư
duy mà có thể làm say đắm tôi bởi sự thanh tịnh vắng lặng
và lối phân tích triệt để những tham dục, sự từ
bỏ tất cả những sức mạnh của một thế giới cảm xúc
hư ảo mà tôi đang sống, và một sự hứa hẹn của một
sự thành thật mạnh mẽ không mang bản chất tình cảm.
Andrew
Harvey tác giả người Anh và nhà thơ của trường đại học
Fellow of all Souls Oxford.
Tôi
rời Ấn Độ và trở về Colombo, nơi tôi làm một người
khách của một gia đình sinh viên Sinhalese mà tôi gặp
anh ta tại Perth. Họ đều là Phật tử, nhà của họ xung quanh
một ngôi đền, và không khí ngôi nhà rất là yên tĩnh và
ôn hòa. Tôi đàm luận rất nhiều về Phật pháp với họ
và họ đưa tôi đi đến một ngôi đền nằm trên những ngọn
đồi tại Kandy, nơi mà tôi gặp những tu sĩ và tôi đối
thoại rất nhiều về vị trụ trì già của ngôi chùa, vị
trụ trì này đã giải thích cho tôi rất nhiều về đạo Phật.
Tôi cảm thấy vô cùng thích thú về tôn giáo này.
Một
nhà lữ hành người Âu châu
Phật
giáo là một hệ thống không biết đến theo ý niệm cuả
Tây phương; từ chối một sự hiện hữu của một linh hồn
ở nơi con người; coi đức tin vào sự bất tử là một sự
sai lầm; từ chối bất cứ kết quả nào của sự cầu nguyện
và hy sinh dâng hiến thần linh. Đạo Phật còn là một hệ
thống khuyên con người không nên trông cậy vào đâu nhưng
chỉ bằng nỗ lực của chính bản thân để đạt được
sự giải thoát, cứu rỗi cho chính mình; một hệ thống mà
sự thanh tịnh bản lai của nó không biết gì về những hạnh
nguyện của sự phục tùng và chưa bao giờ tìm sự cứu giúp
của một cánh tay thế tục nào, nhưng đã truyền bá khắp
nhân loại.
Trong
thế giới đầy bão tố và xung đột, hận thù và bạo động,
thông điệp của đức Phật toả sáng như một vầng thái
dương rực rỡ. Có lẽ không một thời điểm nào trong lịch
sử nhân loại mà thông điệp của Ngài lại cần hơn cho thế
giới của những quả bon nguyên tử và khinh khí. Hơn hai nghìn
năm qua đã làm tăng thêm sức sống và sự thật của thông
điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt
đó và cố gắng uốn nắng tư duy và hành động của chúng
ta dựa trên ánh sáng của chân lý đó. Chúng ta có thể bình
thản đối diện với những sự kinh hoàng của thời đại
bom nguyên tử và giúp một phần nhỏ trong việc thúc đẩy
con người tư duy và hành động đúng đắn.
Nehru
Đây
là một hệ thống giáo lý mà chúng ta có thể thực hành theo
một cách tự tin. Liệu nơi nào trong thế giới các tôn giáo,
hệ thống thờ cúng tôn giáo và các tín ngưỡng, chúng ta
có thể tìm thấy một bậc đạo sư thông thái như thế? Trong
chuỗi những vì sao sáng tỏ, Ngài là vì tinh tú khổng lồ
của những vì sao sáng nhất, vĩ đại nhất. Không có gì là
ngạc nhiên mấy khi mà các nhà khoa học, triết gia, và những
con người có học thức cao đã khẳng quyết rằng: "Ngài là
con Người vĩ đại nhất chưa từng có trong lịch sử nhân
loại". Vầng hào quang toả sáng của bậc thầy vĩ đại này
rọi sáng khắp thế gian đau khổ và tối tăm, giống như ngọn
hải đăng dẫn đường và toả sáng cho nhân loại.
Một
nhà văn Âu châu.
Những
giáo lý như : Lịch thiệp, thanh tịnh, từ bi và sự giải
thoát khỏi những tham ái ích kỷ là những lời dạy căn bản
của đạo Phật- một tôn giáo vĩ đại của Phương Đông.
E.A.
Burtt, "đức Phật Từ Bi"
Phật
pháp giống như một cái cầu được khéo xây bằng những
mảnh thép uyển chuyển, linh động, gió và nước khó làm
cho nó huỷ hoại được. Nó tự thích nghi với những hoàn
cảnh thay đổi, nhưng đồng thời nó cũng đã củng cố một
cách chắc chắn những nền tảng và mở ra một con đường
an toàn đưa đến sự Bất Tử, Niết-bàn.
Phra
Khantipalo, "Khoan Dung"
Phương
Đông huyền bí, quê hương màu mỡ của các tôn giáo, chắc
chắn đã cung cấp cho chúng ta một sự phát hiện chân thật
ở nơi đạo Phật, bởi vì đạo Phật giúp cho chúng ta biết
được vẻ đẹp của luân lý đạo đức và sự thanh tịnh
vốn tiềm ẩn sâu xa trong bản chất của con người mà không
cần một đấng thần linh nào khác hơn là một đấng thần
linh trú ẩn trong tâm của con người để thức tỉnh họ sống
một cuộc sống huy hoàng.
Charles
T. Gorham
Phật
giáo là một tôn giáo rất thiết thực bởi vì Phật giáo
quan điểm về cuộc đời và thế giới một cách thực tế.
Phật giáo không lôi kéo chúng ta đến thiên đàng của những
người vô trí một cách sai lầm. Phật giáo cũng không đe
doạ và làm cho chúng ta khổ sở bằng tất cả những nỗi
ám ảnh sợ hãi tưởng tượng và cảm giác tội lỗi. Tôn
giáo này kêu gọi chúng ta một cách chính xác và khách quan
những gì chúng ta đang là và những gì thế giới xung quanh
chúng ta, và chỉ cho chúng ta con đường đưa đến tự do giải
thoát hoàn toàn, sự an lạc, hạnh phúc.
Thượng
toạ Tiến sĩ W.Rahula.
Sứ
mệnh của đức Phật vô cùng độc đáo tiêu biểu cho tính
cách của Phật giáo. Và vì thế, sứ mệnh này đứng biệt
lập hẳn với các tôn giáo khác trên thế giới. Sứ mệnh
của Ngài là mang lại những loài chim lý tưởng bay trên không
gian nhưng gần mặt đất hơn, bởi vì thức ăn của chúng
thuộc về trái đất.
Hazzat
Inayat Khan, "Thông điệp của Sufi"
Phật
giáo đã cung ứng cho bước tiến của nền văn minh thế giới
và văn hóa thật sự, nhiều hơn bất luận ảnh hưởng nào
khác trong ký sự của nhân loại.
Sử
gia H.G.Wells
Văn
minh Phật giáo vươn mình lên vững vàng trước khi tất cả
mọi người đến nằm trong ảnh hưởng của nó, một kiểu
mẫu của con người xứng đáng được kính trọng phải như
vậy, một nhân vật lý tưởng đáng nêu gương lành cho hàng
vua chúa cũng như hạng cùng đinh…sản xuất tài sản để
sử dụng trong công tác xã hội thay vì lợi ích cá nhân, đo
lường cá nhân bằng giá trị đạo đức và trí tuệ, không
phải bằng quyền lực kinh tế, và sự lớn mạnh của quốc
gia bằng tình trạng thanh bình thạnh vượng của dân trong
nước chứ không phải thăng bằng chỉ số chi thâu thương
mãi. Đó là vài giá trị được cụ thể hóa trong lý tưởng
của người Phật tử.
Tiến
sĩ Richard A. Gard
Duy
nhất trong tất cả các tôn giáo lớn thế giới, Phật giáo
tiến hành trên con đường của mình mà không gây sát hại,
hành hạ, cấm đoán, kiểm duyệt hoặc tìm tòi soi bói.
Aldous
Huxley
Tôn
giáo của những tâm hồn cao cả và toàn vẹn nhất có thể
tồn tại chung mà hoàn toàn không có niềm tin khải thị nào,
trong ý nghĩa chân thật nhất của danh từ không có niềm tin
nơi tinh chất cốt yếu của đạo giáo thần khải, nơi có
một thần linh vô ngã. Trong danh từ thần linh vô ngã, tôi
bao gồm tất cả những ý niệm về cái gọi là thần linh
siêu nhân, cùng một bản chất tinh thần và đạo đức như
một người nhưng ở tầng lớp cao hơn, hoặc một năng lực
đạo đức siêu phàm.
Julian
Huxley, Relegion without Revelation
Bằng
đức hy sinh rộng lớn mênh mông của Ngài, bằng hạnh từ
khước vĩ đại của Ngài, và bằng phẩm hạnh thanh tịnh
vô nhiễm của đời Ngài, Ngài đã ghi tạc lên trên Aán độ
giáo những dấu vết không bao giờ phai mờ, và đối với
bậc thầy vĩ đại ấy, Aán độ giáo còn mang một mối nợ
phải được tri ân muôn đời.
Mahatma
Gandhi
Tôi
không biết cái chi trên thế gian này vĩ đại hơn hình ảnh
của đức Phật. Đó là sự hiện thân tuyệt hảo của tâm
linh trong lĩnh vực hữu hình.
Bá
tước Kayserling " The Travel Diary of a philosopher".
Đức
Phật lúc nào cũng là nguồn gợi cảm dồi dào cho tôi… chính
phẩm cách cá nhân của Ngài đã lôi cuốn tôi.
Nehru
Phật
giáo truyền dạy một lối sống, không phải bằng cách thống
trị mà bằng nguyên tắc, một lối sống tốt đẹp, và đó
là một tôn giáo khoan dung độ lượng. Đây là hệ thống
từ thiện nhất dưới mặt trời. Không bao giờ và không nơi
nào có máu đổ trong sự nghiệp truyền bá. Không bao giờ
có sự hành hạ ngược đãi những ai không cùng theo một tín
ngưỡng- một bài học mà người Cơ đốc giáo vẫn còn phải
học. đức Phật dạy cho con người làm cho thế giới ngày
càng tốt đẹp hơn và hiện tại thánh thiện.
Joseph
Wain
Ta
có thể nhận thấy trong giáo huấn của đức Phật những
điểm giống nhau giữa Phật giáo và dân chủ. Ngài khuyên
dạy lòng khoan dung đại lượng, ý niệm khơi dậy những cuộc
thảo luận, quyền tự do lựa chọn rộng rãi, bình đẳng
bất bạo động, vô thường-mỗi ý niệm ấy đều đi ngược
dòng những tập tục thông thường vào thời của Ngài. Đó
là những khái niệm cách mạng mà đức Phật đưa vào từ
2500 năm trước đây. Đó là những cải tiến tri thức trọng
đại.. nhưng tất cả đều có tính cách dân chủ, trong nội
dung cũng như tác ý.
Giáo sư Ralps Buultjens " Buddhism and Democracy"
Con
đường của Phật giáo là con đường trung đạo giữa hai
cực đoan. Đây không phải là một sự thoả hiệp yếu đuối,
nhưng là một sự vừa phải hợp lý tránh sự cuồng tín và
sự lười biếng giãi đãi, và tiến lên một cách đều đều
và có quyết tâm mà không có sự chần chừ đem lại sự phản
ứng riêng, mà luôn tiến không ngừng bước. Đức Phật gọi
nó là Con Đường Tám Ngành (Bát thánh đạo) đưa đến Niết-bàn,
và con đường này có thể được xem như là một cuộc hành
trình tu tập tâm linh thánh thiện cao quý nhất, song được
biểu hiện ở một hình thức giản đơn.
Phật
giáo cũng không bi quan hay yếm thế. Phật giáo là một hệ
thống tư duy, một tôn giáo, một khoa học tâm linh, và một
triết lý sống hợp lý, thiết thực và bao hàm tất cả. Hơn
2500 năm, Phật giáo đã làm thoả mãn những nhu cầu tâm linh
của hơn 1/3 nhân loại. Đạo Phật mời gọi những ai đi tìm
chân lý bởi vì Phật giáo là một tôn giáo không có giáo
điều, làm thoả mãn nhu cầu của lý trí cũng như con tim,
nhấn mạnh tinh thần tự tin, tự lập đi kèm với sự khoan
dung đối với quan điểm của những người khác, bao hàm cả
khoa học, tôn giáo, triết học, tâm lý học, huyền thoại,
đạo đức luân lý và nghệ thuật. Đạo phật còn chỉ ra
duy con người là đấng sáng tạo của kiếp sống hiện tại
của mình và là người thiết kế độc nhất toàn bộ sinh
mệnh của anh ta.
Christmas
Humphreys (1901-1983), thẩm phán nổi tiếng người Anh.
Tôi
càng tu tập thiền chỉ, tôi càng trở nên có ấn tượng với
phương pháp này như là một hệ thống huấn luyện tâm. Nó
phù hợp với thái độ của tâm của người phương Tây chúng
ta khi nghiên cứu khoa học: không thành kiến, không thiên vị,
khách quan và phân tích. Nó dựa trên kinh nghiệm cá nhân và
trực tiếp chứ không dựa vào ý kiến hay quan điểm của
một ai khác. Nó vô cùng đơn giản và tận dụng vừa phải
sự chú ý một cách cơ bản đơn giản như một cái nhìn được
duy trì nhưng trong một sự chọn lựa cẩn thận và hệ thống
giới luật nghiêm khắc. Do đó, nó khám phá ra tất cả những
sự phán quyết hấp tấp, thiếu chính xác, tất cả những
điều nói về nó, tất cả những tranh luận, thảo luận,
và một sự lãng phí thời gian như chúng ta thường đam mê
trong thế giới Tây Phương của chúng ta. Trên thực tế, nó
giải thoát chúng ta ra khỏi cuộc sống theo đường mòn và
sự trói buộc của chính mình, những thành kiến của chúng
ta, những lời sáo, sự vô minh và sự bảo thủ cố chấp
của chúng ta, nhằm mục đích tạo cho chúng ta sự tự do nhìn
thế giới và chứng minh thế giới chân thật.
Tiến
sĩ Graham Howe MB.BS. DPM, nhà vật lý học nổi tiếng người
Anh.
Quả
thật chỉ có ánh sáng từ phương Đông, từ những triết
lý sống động, hài hòa và nhất là những huấn thị
sâu sắc và giáo lý độc nhất vô nhị của đức Phật sẽ
là sự dàn trải và khoả lấp những lỗ hổng, cũng như sự
giải trừ các khủng hoảng cho đời sống hiện đại của
Tây phương-một đời sống mang danh là tiến hóa nhưng thực
chất đang rơi vào tha hóa.
Matthieu
Ricard, nhà khoa học về sinh học phân tử người Pháp.
Thực
thể hay chân ngã là sự khẳng định bao la, không có tính
phủ định, sự cân bằng hóa giải hết mọi thứ quan hệ
dính mắc ràng buộc..chân tâm không bị ràng buộc bởi tất
cả mọi giới hạn. Trong con người nó luôn luôn được xác
định như sự lạc quan, tích cực ngược lại với sự bi
quan tiêu cực…..Phật giáo là một triết thuyết siêu nghiệm,
mọi hành vi tạo tác dù thiện hay ác đều tạo ra quả và
không vượt khỏi luật nhân quả.
Người
tốùt lành hay thiện tri thức, ngoài việc thấy biết về
thiên quốc còn thấy được những điều tốt lành trên mặt
đất, thấy được những công cụ cao quý của những tâm
hồn cao quý. Khi chúng ta thấy các đường xe hoả, các nhà
máy và các ngân hàng, chúng ta thương hại cho sự nghèo khổ
của những người Phật tử mơ mộng. Thực sự, tinh thần
Phật giáo cũng tạo ra một lực lượng sáng tạo tương tự,
nhưng nó đem lại sự bình yên và hạnh phúc thực sự cho
toàn thể vũ trụ thay vì sự thụ hưởng trần tục qua việc
ăn ngon mặc đẹp và những ly rượu đắt tiền, nhưng phải
trả giá bằng những khổ đau, bằng chiến tranh bóc lột,
bất công và bằng sa đoạ.
Ralph
Waldo Emerson, nhà văn người Mỹ.
Những
lời Phật nói là chân lý tối thượng mà người nghe có thể
đạt đến chỗ đoạn diệt hoàn toàn mọi khổ đau; có thể
đi đến con đường tốt nhất để đạt được chân tính
(Phật tính) và có thể thành Phật. Con đường tốt nhất
để đạt được Phật tính là con đường thiền định.
Tôi
biết một số người nghĩ xấu về tôi khi họ nghe tôi nói
về đức Phật, vì họ kính yêu Chúa hơn Phật của tôi; nhưng
tôi cam đoan rằng tôi vẫn vui lòng vì lòng kính yêu là nguyên
tắc chính của lonhg mộ đạo.
Henry
David Thoreau, nhà văn người Mỹ
Tôn
giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo của toàn cầu, vượt
lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo
ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên,
đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh
nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất
thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng đầy đủ
các điều kiện đó.
Nếu
có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa
học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần
xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những
khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần từ bỏ
những quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì
Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khỏi khoa
học.
Albert
Einstein, nhà vật lý học hiện đại.
Phật
giáo là một tôn giáo cao cả nhất, và là một trong những
tia sáng vĩ đại nhất không chỉ riêng cho Châu á mà cho khắp
toàn cầu.
Schopenhauer,
triết gia người Đức
Trong
đạo Phật, không có thần thánh nào có khả năng giải thoát
con người. Chỉ có chính con người có khả năng đó, hiện
tại và ngay ở đây.
Sử
gia Jean Marc.
Khoa
học và đạo Phật có một nền tảng chung về tương quan,
tương duyên, và khái niệm vô thường. Mọi hiện tượng đều
được coi như một mấu trong mạng lưới của quan hệ nhân
quả; vì thế nên nó không có bản chất riêng biệt. Cách
nhìn ấy ngược lại với những cách nhìn của những tôn
giáo lớn, tin nơi đấng Thần linh. Các tôn giáo này khẳng
định sự tồn tại của những thực thể bất di, bất dịch,
vượt ngoài quy luật nhân quả, như có Thượng đế, có Chúa,
có linh hồn.
Francisco
Varela, nhà sinh học thần kinh, Giám đốc nghiên cứu của Trung
tâm Nghiên cứu Khoa học toàn quốc, Pháp.
Đức
Phật với trí tuệ vĩ đại đã chống lại các tập tục
mê tín, các lễ nghi phiền toái, các Thầy tu Bà-la-môn thủ
đoạn và những đặc quyền đặc lợi dành cho giai cấp này.
Ngài đã lên án những quan niệm thần học và siêu hình học,
các bùa phép, sự thiên khải và sự siêu nhiên phản khoa học.
Ngài chú trọng đến logic, lý trí và thực nghiệm. Ngài nhấn
mạnh đến các phương diện đạo đức và phương pháp của
NGài là sự phân tích mang tính tâm lý học…
Jawaharlal
Nehru.
Tất
cả mọi người sống ở Á châu đều có thể hãnh diện về
một tôn giáo không những có trước tôn giáo Tây phương cả
hơn 500 năm mà còn có thể bành trướng và duy trì mà không
cần dùng đến bạo lực, và không hề bị hen ố bởi những
cuộc chiến tranh tôn giáo và Thánh chiến.
Tiến
sĩ Edward Conze-Buddhism.
Tất
cả các tôn giáo Á Đông đều phải biết ơn Phật giáo về
giáo lý đạo đức nhất mà giá trị của tôn giáo này còn
hữu hiệu cho đến ngay bây giờ mà tột đỉnh của giáo lý
này là lòng từ bi đối với mọi chúng sanh, giáo lý của
đấng Toàn Giác.
William
Hunter- A Brief History of The Indian People.
Phật
giáo thực sự là làn gió xuân thổi từ đầu này tới đầu
kia của căn vườn Á châu và làm nở ra, không những chỉ
có những bông sen ở Ấn Độ, mà còn làm nở những bông
hoa hồng ở Ba Tư, hoa đền đài ở Tích Lan, hoa cúc ở Trung
Hoa, hoa Anh đào ở Nhật Bản v.v…Toàn bộ văn hóa Á châu
là văn hóa Phật giáo. Không có nơi nào ngoài Đông phương
mà tư tưởng Phật giáo lại có thể thống nhất. Mỗi quốc
gia đều có cách riêng để chấp nhận tư tưởng Phật giáo
theo nhu cầu địa phương, nhưng khi khối Đông phương phải
đối đầu với khối Tây Phương thì tư tưởng Phật giáo
là lực nối kết những quốc gia này lại với nhau.
Ơû
đây chúng ta nhấn mạnh sự kiện là, nếu lịch sử Phật
giáo có cho thế gới bài học nào, thì đó là trong sự truyền
bá đạo Phật từ thung lũng sông Hằng đến Tích Lan ở miền
nam, cho tới Cao Nguyên Trung Á ở phía bắc, rồi tới các hải
đảo Nhật Bản ở phía đông, Phật giáo, văn hóa, văn minh
và giáo dục là những bạn đồng hành không thể tách rời
nhau được.
Giáo
sư Bapat- 2500 Years of Buddhism.
Toàn
thể vũ trụ là một bãi chiến trường bao la hùng vĩ. Nơi
nơi đều diễn ra sự tranh đấu. Sự hiện hữu chỉ là một
sự tranh đấu vô hiệu chống lại những mầm mống của các
loại bệnh khủng khiếp, giữa các phân tử với các phân
tử, các nguyên tử với các nguyên tử, các điện tử với
các điện tử. Tâm vẫn là một cảnh chiến trận. Sắc, thinh,
hương, vị, v.v…là những hậu quả của sự phản công và
sự tham gia của các năng lực bên ngoài. Chính sự hiện hữu
của chiến tranh chứng minh rằng trên thế giới không có một
quốc gia hoàn toàn hòa bình và có một trạng thái hoàn toàn
an lạc, hòa bình. Đó là những gì chúng ta gọi là Thế giới
Niết-bàn.
Thượng
Toạ Narada Thera- The Bodhisatva Ideal.
Đức
Phật không hận thù giận dữ với thế gian. Ngài xem thế
gian là vô thường và khổ đau hơn là đồi bại, tội lỗi,
thế gian là vô minh hơn là phiến loạn. Ngài không hề bày
tỏ thái độ buồn phiền về những người không nghe theo
NGài và cũng không bày tỏ sự khó chịu.
Giáo
sư Elliot- Buddhism and Hinduism.
Lần
đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đức Phật đã khuyên
nhủ, tha thiết yêu cầu, và kêu gọi nhân loại không nên
làm sát hại sanh mạng, không nên dâng hiến sự cầu nguyện
hoặc là ca tụng hay hy sinh sanh mạng dâng hiến cúng tế chư
thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong những lời yêu
cầu của NGài, bậc giác ngộ đã quyết liệt tuyên bố rằng
các vị thần linh cũng là những vị hết sức cần sự cứu
rỗi cho chính các vị.
Giáo
sư Rhys Davids.
Ý
niệm về tội lỗi của Phật giáo có phần hơi khác về ý
niệm của thiên chúa giáo. Theo người Phật tử, tội lỗi
chỉ là do vô minh hay không hiểu mà gây ra. Con người tội
lỗi tồi bại là một con người vô minh. Anh ta không cần
sự trừng phạt và sự lên án mà cần được sự chỉ giáo
hướng dẫn. Anh ta không được xem như là một kẻ vi phạm
những mệnh lệnh của Thượng đế hoặc là như là một kẻ
phải cầu xin lòng bi mẫn và sự tha thứ của Thượng đế.
Điều cần thiết hơn đối với những người bạn phạm tội
như anh ta hãy cho anh ta biết được lẽ phải của con người.
Người Phật tử không tin người phạm tội có thể thoát
được những hậu quả đã gây ra bằng những nỗ lực cầu
nguyện để thương lượng với Thượng đế.
John
Walters- Mind Unshaken.
Phật
giáo và Kỳ na giáo chắc chắn không phải là Ấn giáo hoặc
là ngay cả giáo lý vệ đà. Nhưng cả hai tôn giáo này đều
phát sinh tại Ấn độ và là những bộ phận không thể thiếu
được trong đời sống của người dân Ấn, nền văn hóa
và triết học Ấn. Tín đồ phật giáo hay tín đồ Kỳ na
giáo tại Ấn hoàn toàn là sản phẩm của tư duy và văn
hóa Ấn, song đó không phải là tín ngưỡng của Ấn giáo.
Đó là một sự nhầm lẫn khi đồng hóa nền văn hóa Ấn
Độ với nền văn hóa Ấn giáo.
Nehru
-Dicovery Of India.
Với
ý kiến cân nhắc thận trọng, tôi cho rằng phần căn bản
thiết yếu nhất của nền giáo lý đức Phật hình thành nên
một phần không thể thiếu được của Ấn giáo. Hiện nay
người Ấn độ giáo tại Ấn Độ không thể hồi tưởng
lại những dấu vết của họ và đi đằng sau bước chân
của những sự cải cách vĩ đại mà đức Phật Cồ- đàm
đã làm ảnh hưởng đến Ấn giáo. Bằng sự hy sinh lớn lao,
bằng sự xuất thế vĩ đại của Ngài, và sự thanh tịnh
hoàn toàn của cuộc đời Ngài, Ngài đã để lại một ấn
tượng không thể nào tẩy xoá được cho Ấn giáo, và Ấn
giáo suốt đời nhớ ơn công lao vĩ đại của bậc thầy vĩ
đại đó.
Thánh
Mahatma Gandhi, Maha Bodhi.
Không
có một tôn giáo nào tại Ấn Độ thời tiền Phật giáo có
thể được cho là tôn giáo thiết lập nên một hệ thống
luân lý đạo đức và tôn giáo mang giá trị phổ quát và
bắt buộc cho toàn thể nhân loại.
Tiến
sĩ S.N Dasgupta.
Đức
Phật không chỉ nhận ra sự thực tối hậu mà Ngài còn trình
bày một cách rõ ràng tri thức thâm uyên của Ngài vượt
khỏi những phạm trù của lĩnh vực tri thức của nhân loại
và các thần linh thoát khỏi những sự nguỵ trang huyền thoại
và lớp vỏ hoang đường. Ơû đây, tuy nhiên, tri thức
của NGài được trình bày theo một hình thức thuyết phục
và vững chắc để cho con người có thể theo NGài mà hành
trì những lời dạy ấy một cách tích cực và tự tin. Vì
chính lý do này, đức Phật không yêu cầu bất kỳ một niềm
tin nào, nhưng hứa hẹn một tri thức.
George
Grimm, The Doctrine of The Buddha.
Lần
đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đức Phật tuyên bố
một sự cứu rỗi mà mỗi người có thể tự mình đạt được
và bằng chính bản thân mình ngay trong kiếp sống hiện tại
mà không cần đến sự giúp đỡ tối thiểu của một Đấng
Thiêng Liêng nào hay các vị thần linh. Ngài hoàn toàn nhấn
mạnh về giáo lý tự tin, tự thanh tịnh, thanh nhã, giác ngộ,
an lạc, và tình thương phổ quát. Ngài cũng nhấn mạnh sự
cần thiết của tri thức, bởi vì không có trí tuệ thì trí
tuệ siêu việt không thể đạt được ngay trên cuộc đời
này.
Giáo
sư Elliot, Buddhism and Hinduism.
Không
phải chính đức Phật đã giải thoát con người, nhưng Ngài
dạy họ tự giải thoát cho chính mình. Họ chấp nhận về
giáo lý chân thật của NGài không phải chỉ vì giáo lý đó
là của NGài, nhưng vì sự thuyết phục các nhân NGài, được
thức tỉnh bởi những lời dạy của Ngài, phát sinh từ ánh
sáng trí tuệ của chính họ.
Tiến
sĩ Oldenburg, một học giả người Đức.
Khoa
học không thể đưa ra lòng tự tin trong trường hợp này.
Nhưng Phật giáo có thể đương đầu với những thách thức
của nguyên tử bởi vì tri thức siêu thế của Phật giáo
xuất phát từ điểm mà khoa học kết thúc. Và điều này
rõ ràng đối với những ai nghiên cứu đạo Phật. Bởi vì,
thông qua thiền định Phật giáo, những yếu tố cấu thành
bổ khuyết cho vấn đề đã được chứng minh và cảm nhận
được, và sự khổ đau, buồn rầu hoặc "Dukkha" của sự
hiện hữu và diệt tận (Lý duyên khởi) đã tạo ra chính
nó với những gì chúng ta gọi là một "tự ngã" hay "linh hồn"-
sự vô minh về Sakkhayaditthi như đã được đề cập trong
giáo lý của đức Phật.
Egerton C. Baptist, -Supreme Science of the Buddha.
Phật
giáo giúp cho con người tự đứng vững trên đôi bàn chân
của chính mình và đánh thức sự tự tin và tự nỗ lực
trong mỗi người.
Hòa thượng Narada Thera-Buddhism in a Nutshell.
Con
người vĩ đại hơn những sức mạnh mù quáng của thiên nhiên
bởi vì ngay cả anh ta bị che phủ bởi chúng anh ta vẫn duy
trì được sự vượt trội hơn về đức hạnh của sự hiểu
biết của anh ta về những hiện tượng ấy. Lại nữa, Phật
giáo còn chuyển tải chân lý đi xa hơn nữa: Phật giáo chỉ
ra rằng bằng những phương tiện của sự hiểu biết, con
người cũng có thể điều khiển những hoàn cảnh, kiểm soát
những vấn đề. Con người có thể thoát ra khỏi sự che mờ
của những hiện tượng sức mạnh ấy, và vận dụng nghững
quy luật của tự nhiên để tự mình vươn lên.
Pascal
Luật
theo ý nghĩa khoa học là một sản phẩm thiết yếu của tâm
trí con người và không có một ý nghĩa gì khi tách ra con người.
Lại càng có ý nghĩa hơn khi tuyên bố rằng con người tạo
ra những quy luật của tự nhiên hơn là lập luận ngược
lại rằng tự nhiên tạo ra cho con người những quy luật.
Giáo
sư Karl Pearson.
Con
người ngày nay là kết quả của sự lặp lại hàng triệu
lần những tư duy và hành động của anh ta trong vô lượng
kiếp. Con người không phải là một thứ sản phẩm được
làm sẵn; anh ta trở thành và đang trở thành. Nhân cách anh
ta do sự lựa chọn của chính anh ta đinh đoạt, những tư
duy và hành động mà anh ta chọn lấy cho riêng mình bằng thói
quen hình thành nên con người thực tại của anh ta.
Thượng
tọa Piyadassi.
Phật
giáo là một tôn giáo hoạt động vì tinh thần dân chủ, đề
cao tính dân chủ trong tôn giáo, tính dân chủ trong xã hội,
và tính dân chủ trong lĩnh vực chính trị.
Tiến
sĩ Ambedkar.
Trên
thế giới này, đức Phật đã trình bày những chân lý về
những giá trị vĩnh cửu và sự tiến bộ về mặt luân lý
đạo đức không chỉ cho riêng một lãnh thổ Ấn Độ mà
là cho toàn thể nhân loại. Đức Phật là một trong những
nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài chưa từng được chứng kiến
trên thế gian này.
Albert
Schweitzer, triết gia phương Tây.
Phật
giáo đã đóng góp nhiều cho sự tiến bộ của những nền
văn minh thế giới và nền văn hóa chính đáng hơn là những
sự ảnh hưởng khác trong những biên niên sử của nhân loại.
H.G.
Wells.
Không
một trang sử Phật giáo nào đã từng bị nhạt màu đi bởi
ánh sáng của những ngọn lửa của toà án dị giáo, hoặc
là bị làm đen tối bởi làn khói của những người ủng
hộ dị giáo hoặc là các thành thị của những người dân
theo tà đạo nóng bỏng, hay bị nhuộm đỏ bởi máu của những
tội nhân vô tội vì sự hận thù tôn giáo. Đạo Phật chỉ
nắm và sử dụng một thanh gươm duy nhất - thanh gươm của
trí tuệ, và chỉ nhận ra một kẻ thù duy nhất- đó là vô
minh. Đó là một bằng chứng trong lịch sử, và người ta
không thể chối cãi được.
Giáo
sư Bapat, 2500 years of Buddhism.
Đó
là một sự huy hoàng của Phật giáo mà nó đã tạo ra sự
giác ngộ về mặt tâm linh như là một điều kiện cần thiết
cho sự cứu rỗi, giải thoát. Trong Phật giáo, sự giác ngộ
về mặt luân lý đạo đức và tâm linh là hai nhân tố không
thể chia cách nhau được. Trong khi luân lý đạo đức hình
thành nên cơ sở cho một đời sống cao thượng hơn, tri thức
và trí tuệ làm hoàn hảo đời sống đó. Không có một sự
hiểu biết hoàn toàn về quy luật duyên khởi và chuyển hóa,
thì không một ai có thể được cho là sống có đạo đức
thực sự nếu anh ta không có một trí tuệ nội quán và tri
thức cần thiết. Xét về phương diện này, Phật giáo khác
so với tất cả những tôn giáo khác. Tất cả các tôn giáo
thuộc nhất Thần giáo khởi đầu với một vài giả định
nào đó, và khi những giả định này tương phản với sự
phát triển của tri thức, thì sự buồn rầu, khổ đau càng
tăng trưởng. Nhưng Phật giáo không bắt đầu bằng những
giả định. Phật giáo đứng trên tảng đá vững chắc của
những sự kiện, và cho nên không bao giờ lánh xa ánh sáng
của tri thức.
Giáo
sư Lakhsmi Narasu, The Essence of Buddhism.
Đức
Phật Cồ Đàm bác bỏ ngay cả cái bóng dáng của sự hiện
hữu thường hằng bằng một sức mạnh siêu hình hữu ích
lớn lao cho những người nghiên cứu triết học, vì xét thấy
điều đó chỉ cung cấp một nửa nhu cầu cho các lời
tranh luận nổi tiếng thuộc chủ nghĩa lý tưởng của Giám
Mục Berkeley. Thật là một dấu hiệu đáng kể về sự suy
đoán tế nhị của Người Ấn rằng đức Phật phải được
nhìn nhận sâu sắc hơn các nhà theo chủ nghĩa lý tưởng hiện
đại. Ngày nay trên khắp thế giới tất cả nhân loại đều
có khuynh hướng tư duy giác ngộ không thiên về tư duy thần
học, mà thiên về tư duy triết học và tâm lý học. Học
thuyết nhị nguyên thần học đang bị trôi dạt vào sự hiểm
nguy. Những nguyên lý cơ bản của tiến hóa và nhất nguyên
luận đang được các nhà tư tưởng thế giới chấp nhận.
Giáo
sư Huxley, Evolution and Ethics.
Tại
Ấn Độ 25 thế ký trước đây, người ta đã chứng kiến
một cuộc cách mạng về tâm linh và tôn giáo cuối cùng đã
lật đổ được chủ nghĩa độc thần và giới tu sĩ ích
kỷ, và thiết lập nên một tôn giáo tổng hợp, một hệ
thống trí tuệ và tư tưởng có thể được gọi là Dhamma
(Giáo Pháp)- một Triết Học Tôn Giáo.
Anagarika
Dharmapala, The World's Debt to Buddha.
Phật
giáo là một sự chuẩn bị cho cuộc sống theo một cách mà
có thể mang lại những lợi ích cao nhất cho cuộc đời. Phật
giáo là một tôn giáo của trí tuệ mà ở đó tri thức và
khả năng lý trí hoàn toàn chiếm ưu thế. đức Phật không
thuyết giảng để mà giáo hóa nhân loại về tôn giáo của
mình mà để làm cho hàng thính giả nghe và giác ngộ giáo
lý của Ngài.
Một
nhà văn Tây phương.
Phật
giáo luôn luôn là một vấn đề của thấy và biết, chứ
không phải là vấn đề của tin tưởng và cầu nguyện. Giáo
Pháp của đức Phật được đánh giá như là một hệ thống
giáo lý mời bạn đến để mà thấy, chứ không phải đến
để mà tin.
Thượng
tọa tiến sĩ W.Rahula, What the Buddha Taught.
Phật
giáo sẽ trường tồn cho đến khi nào mặt trời và mặt trăng
không còn hiện hữu nữa, và cho đến khi nào nhân loại không
còn tồn tại trên thế gian này nữa, bởi vì Phật giáo là
một tôn giáo của con người cũng như của chung cho tất cả
nhân loại.
Bandaranaike,
cựu Thủ tướng Tích Lan.
Người
Phật tử không phải là một kẻ nô lệ cho kinh sách hoặc
cho bất cứ người nào. Anh ta cũng không dâng hiến sự tự
do tư tưởng của mình bằng cách trở thành đệ tử của
đức Phật. Anh ta có thể hành động theo ý chí chí tự do
của mình và phát triển tri thức của anh ta đến mức độ
có thể tự mình chứng thành quả vị Phật bởi vì tất cả
mọi người đều có thể thành Phật.
Thượng
toạ Narada Maha Thera, What is Buddhism.
Đạo
Phật dạy một cách sống không phải là theo luật lệ mà
là theo nguyên lý, một lối sống cao đẹp; và kết quả là,
Phật giáo là một tôn giáo của từ bi khoan dung. Phật giáo
là một hệ thống nhân từ nhất trên thế gian này.
Giáo
sĩ Joseph Wain.
Đọc
một ít kiến thức về Phật giáo là nhận thức rằng hơn
2500 năm trước đây, đạo Phật biết nhiều hơn về
vấn đề tâm lý hiện đại của chúng ta hơn là nhân loại
đã biết đến. Những tín đồ đạo Phật đã nghiên cứu
những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra những giải
Pháp cho vấn đề.
Tiến
sĩ Graham Howe.
Hiện
nay, chúng ta nghe thấy nhiều về sức mạnh của tư duy, song
Phật giáo là một hệ thống huấn luyện tâm hoàn hảo nhất
và hiệu quả nhất đã được trình bày trước thế giới.
Dudley
Wright.
Đức
Phật đã tạo ra một tân thế hệ nhân loại, một thế hệ
của những anh hùng luân lý đạo đức, một thế hệ giải
phóng những người công nhân lao động, một thế hệ của
các vị Phật.
Manmatha
Nath Sastri.
Phật
giáo là một tôn giáo sứ mệnh đầu tiên trong lịch sử nhân
loại với một thông điệp toàn cầu về sự cứu rỗi, giải
thoát cho tất cả nhân loại. Sau khi giác ngộ vô thượng Chánh
Giác, đức Phật đã phái 62 vị đệ tử đầu tiên đi vào
đời truyền bá giáo pháp của NGài theo nhiều hướng khác
nhau, yêu cầu các vị này hãy truyền bá chánh Pháp vì lợi
ích và hạnh phúc cho quấn sanh.
Ở
đây, điều cần thiết là lưu ý đến một đặc trưng độc
nhất cảu tôn giáo của đức Phật, chính là đó là một
tôn giáo của bất kỳ một vị đạo sư nào, mà kết quả
là một nền triết học nhất quán cho chúng ta biết về những
chân lý tối hậu của sự hiện hữu và thực tại. Tôn giáo
của đức Phật là một triết lý sống do sự chấp nhận
một quan điểm sống được cho là thực tại. Triết lý của
đức Phật không phải là không đề cập đến bản chất
của tri thức.
Tiến
sĩ K.N. Jayatilleke, Buddhism and Peace.
Chỉ
nói về Phật giáo thôi, người ta có thể khẳng định đó
là một tôn giáo không có sự cuồng tín. Mục đích của Phật
giáo là nhằm tạo ra một sự chuyển hóa từ bên trong của
mỗi cá nhân bằng cách tự chinh phục và chiến thắng mình,
cho dù những sức mạnh của tiền bạc vật chất hay sự thuyết
phục để ảnh hưởng đến sự chuyển hóa đi nữa. đức
Phật chỉ chỉ ra con đường duy nhất đưa đến sự giải
thoát, và con đường đó được để lại cho mỗi cá nhân
để tự mình quyết định nếu mình muốn đi theo con đường
đó.
Giáo
sư Lakshmi Narasu, Essence of Buddhism.
Đạo
Phật giống như một lòng bàn tay và các tôn giáo khác giống
như những ngón tay trong lòng bàn tay.
The
Great Khan Mongka.
Một
số người nghĩ rằng Phật giáo là một tôn giáo đen tối
và buồn chán. Đó là một sự nhận xét sai lầm; Phật giáo
sẽ làm cho tín đồ của mình sáng lạng và vui tươi. Khi chúng
ta đọc những mẫu chuyện tiền sinh của các vị Bồ tát,
các vị Phật tương lai, chúng ta biết được hạnh nguyện
tu tập về sự hoàn hảo của các đức tính kiên nhẫn và
khoan dung độ lượng như thế nào. Phật giáo sẽ giúp cho
chúng ta được vui tươi ngay cả trong những tình huống khó
khăn lớn và lấy làm vui mừng trong những lợi ích khác.
Thượng
tọa Gnanatiloka, một học giả Phật học người Đức.
Hãy
trở về với Phật giáo và bạn sẽ đọc được những gì
mà vị Hoàng đế A Dục không chỉ tuyên thuyết một nền
luân lý đạo đức cao thượng mà còn sử dụng quyền uy của
một bậc đế vương theo một phương cách khiến cho các vị
đế vương hiện đại cuả các niềm tin khác phải hổ thẹn.
Geoffrey
Mortiner, một nhà văn Tây Phương.
Thậm
chí cho đến ngày nay không thể xem rằng Phật giáo đã bị
mai một, suy yếu bởi vì Phật giáo được bám chặt trên
những nguyên lý cố định không bao giờ được sửa đổi.
Gertrude
Garatt.
Tất
cả những lời dạy của đức Phật có thể được tóm gọn
lại trong một thuật ngữ: " Dhamma" (Pháp- Chân Lý). Pháp này
chân thật, hiện hữu không chỉ ở nơi tâm trí của con người
mà còn hiện hữu ở khắp nơi trên vũ trụ này. Tất cả
vũ trụ là một sự hiện thân tiết lộ của Pháp. Quy luật
của tự nhiên mà giới khoa học ngày nay đã khám phá là sự
biểu hiện của Pháp- Chân lý.
Nếu
mặt trăng lên và lặng xuống, thì đó là bởi vì Pháp,
bởi vì Pháp là quy luật trú ngụ trong vũ trụ khiến phát
sinh ra những hoạt động theo những phương cách được nghiên
cứu trong vật lý học, hóa học, động vật học, thực vật
học và thiên văn học. Pháp hiện hữu trong vũ trụ chỉ vì
Pháp hiện hữu trong tâm trí của con người. Nếu con người
sống theo đúng với chánh Pháp, thì anh ta sẽ thoát khỏi khổ
đau và chứng đắc Niết-bàn, an lạc.
Thượng
tọa A. Mahinda.
Mặc
dù ngay từ đầu người ta có thể bị thu hút bởi sự khóang
đạt của tôn giáo này, người ta có thể tán dương chân
giá trị của Phật giáo chỉ khi người ta phán xét Phật giáo
thông qua kết quả mà nó đã phát sinh trong chính cuộc sống
hằng ngày của chính mình.
Tiến
sĩ Edward Conze, một học giả Phật học Tây phương.
Nếu
không có những thú vui nhục dục, thì liệu cuộc sống có
thể nào chịu đựng được? Không có một niềm tin vào sự
vĩnh hằng bất tử, thì liệu con người có thể sóng có luân
lý đạo đức? Không có sự sùng bái, cầu nguyện một đấng
Thần linh, Thượng đế thì liệu con người có thể tiến
đến một cuộc sống Thánh thiện, Chân chánh? Vâng, có thể,
đức Phật trả lời. Những mục đích này có thể đạt được
bằng trí tuệ, tri kiến; chính tri thức, trí tuệ là chìa
khóa đưa đến đạo lộ cao thượng hơn, một đạo lộ đáng
được theo đuổi trong cuộc sống; tri kiến, trí tuệ mang
lại cho chúng ta sự an lạc và hạnh phúc trong cuộc sống,
giúp chúng ta không dao động trước những cơn bão tố của
thế giới hiện tượng.
Giáo
sư Karl Pearson.
Những
vị đệ tử khiêm nhường của đức Phật thật là may mắn
biết bao! Họ không có thừa hưởng lối nguỵ biện về tính
không thể sai lầm của bất cứ những sách khải huyền ngay
từ lúc khởi đầu.
Thượng
toạ tiến sĩ Ananda Kaushalyayana.
Do
vậy, Phật giáo là một tôn giáo dành riêng cho cá nhân của
mỗi người, và không có lý do để hình thành nên hình thức
lễ nghi cúng bái trong tôn giáo này. Một hành động được
thực thi với một ý tưởng phục vụ cho điều kiện riêng
của cá nhân thì không phải là một hình thức lễ nghi. Khi
chúng ta nhìn bề ngoài của hầu hết những hình thức dường
như là lễ nghi của đạo Phật ngày nay, thì không nên vội
kết luận đạo Phật là đạo mang bản chất lễ nghi tôn
giáo, mà thực sự đó không phải là hình thức lễ nghi.
Tiến
sĩ W.F. Jayasuriya, the Psychology and Philosophy of Buddhism.
Nếu
đức Phật phải được gọi là một "Bậc cứu thế" thì
đó chỉ là dựa trên ý nghĩa ngôn từ rằng Ngài đã khám
phá và chỉ ra Con Đường đưa đến sự giải thoát,
Niết-bàn. Song chính chúng ta phải thực hành con đường.
Thượng
toạ tiến sĩ W.Rahula, What the Buddha taught. Ðức
Phật Ðã Dạy Những Gì - Hòa thượng Walpola Rahula-Thích Nữ
Trí Hải dịch (1998)-Nguyên tác:"What The Buddha Taught" (Tựa đề
lần xuất bản thứ nhất, 1966: "Con đường thoát khổ")
Tạo
áp lực cho chính mình tin vào và chấp nhận một điều gì
mà không có sự hiểu biết đúng đắn thì đó là một thái
độ chính trị chứ không phải là thái độ tâm linh hay tri
thức.
Thượng
toạ tiến sĩ W.Rahula, What the Buddha taught.
Chúng
ta không nên chỉ tôn trọng tôn giáo của mình và chê bai đã
phá tôn giáo của những người khác, nhưng chúng ta nên tôn
trọng ton giáo của những người khác vì lý do này hay lý
do khác. Làm như vậy, chúng ta giúp cho tôn giáo của mình phát
triển và cũng giúp ích cho các tôn giáo khác cũng phát triển
như tôn giáo mình. Khi hành động khác đi với tinh thần trên,
thì chúng ta tự mình đào mồ chôn tôn giáo của chính mình
và còn làm hại các tôn giáo khác. Bất cứ ai kính trọng
tôn giáo của mình và chỉ trích chê bai tôn giáo của người
khác, tưởng rằng thực sự làm như vậy là tận tuỵ với
tôn giáo của mình và nghĩ rằng "Tôi sẽ làm rạng danh tôn
giáo của mình." Song trên thực tế lại ngược lại, khi làm
như vậy là anh ta làm tổn thương tôn giáo của mình ngày
càng trầm trọng thêm. Do vậy, nên hài hòa là tốt hơn: Tất
cả hãy cùng nhau lắng nghe và sẵn sàng lắng nghe giáo lý
của những người khác tôn giáo mình.
Đại
Đế A Dục (Asoka)
Một
tôn giáo của triết lý sống được đánh giá không chỉ bằng
chân lý mà tôn giáo này đã tuyên thuyết mà còn bằng những
sự chuyển hóa, đổi thay mà tôn giáo này đã mang lại trong
cuộc sống của những tín đồ của tôn giáo đó. Từ trước
đến nay, sự kiểm nghiệm này liên quan đến Phật giáo, đã
đạt được một kỷ lục về những thành tựu mà chúng ta
có thể lấy làm hãnh diện thực sự.
D.
Valisinha, Tổng Thư ký Hội Maha Bodhi, Buddhist Way of Life.
Người
ta cũng có thể nói rằng Ấn Độ đã khám phá ra vô thức
sớm hơn các nhà tâm lý học Tây phương. Đối với họ, vô
thức bao gồm tổng thể những cảm giác tiềm tàng trong cá
nhân như là sự thừa hưởng từ kiếp sống trước. Kỹ thuật
thiền định của đạo Phật, đề cập đến những nguồn
năng lực tiềm ẩn bên trong, là một người đi trước so
với lối phân tích tâm lý hiện đại, cũng như sự huấn
luyện tinh thần mang tính tự sinh v.v…
Giáo
sư Von Glasenapp, một học giả người Đức.
Phật
giáo là một tôn giáo lớn duy nhất trên thế giới được
hình thành trên cơ sở ý thức và chân thực, căn cứ trên
một hệ thống phân tích hợp lý về những vấn đề trắc
trở của cuộc sống và giải pháp để giải quyết những
khó khăn ấy.
Moni
Baghee, Our Buddha.
Không
có những gì mà chúng ta có thể gọi là tín điều trong giáo
lý của đức Phật. Với một quan điểm khóang đạt hiếm
có trong thời đại của Ngài và không mấy phổ biến trong
thời đại của chúng ta, Ngài đã từ chối kiềm chế đàn
áp sự phê bình chỉ trích. Đối với Ngài, thiếu khoan dung
độ lượng dường như là kẻ thù vĩ đại nhất của tôn
giáo.
Tiến
sĩ K.Radhakrishnan, Gautama the Buddha.
Hầu
hết những người mới vào đạo của các tôn giáo khác được
điều khiển bởi những vị trưởng giáo của họ và bị
ngăn cấm không cho đọc những kinh sách, giáo lý, học
thuyết, tạp chí, sách bỏ túi hay những cuốn tiểu luận
của các tôn giáo khác. Thái độ này dường như không thấy
xảy ra trong đạo Phật.
Phra
Khantipalo, Tolerance.
Năm
giới này chỉ ra năm hướng chính quan trọng mà một người
Phật tử tự kiểm soát mình phải thực thi. Do vậy, giới
thứ nhất khuyên răng người Phật tử kiềm chế lòng tham
dục của sự giận dữ; giới thứ hai giúp họ kiềm chế
những tham đắm về của cải vật chất; giới thứ ba kiềm
chế về nhục dục; giớ thứ tư giúp chế ngự sự khiếp
nhược, hèn nhát và ác tâm muốn hại tha nhân (nguyên nhân
của tính không trung thực); và giới thứ năm giúp chế ngự
lòng tham ái đối với những thích thú tiêu cực, bất thiện.
Edmond
Holmes, The Creed of Buddha.
Một
trong những học giả đầu tiên bắt đầu công việc chuyển
dịch hệ văn học Pàli sang Anh ngữ, là con trai của một
Mục Sư nổi tiếng. Mục đích của vị ấy khi thực thi công
việc này là để chứng minh sự vượt trội của Cơ đốc
giáo so với Phật giáo. Tuy ông ta thất bại trong nhiệm vụ
lớn lao này, song đạt được một sự chiến thắng vĩ đại
hơn ông ta mong đợi. Kết quả là ông ta trở thành một Phật
tử. Chúng ta không bao giờ quên được cái cơ duyên may mắn
hạnh phúc đã thúc đẩy ông ta thực hiện công việc này
và do đó mang lại giáo Pháp quí giá này cho hàng nghìn người
dân tại Tây phương. Danh xưng của vị học giả vĩ đại
này là Tiến sĩ Rhys Davids.
Thượng
toạ A.Mahinda, Blue Print of Happiness.
Có
thể rằng khuynh hướng hướng đến một chính quyền tự
trị được làm bằng chứng bởi những hình thức đa dạng
của những hoạt động phối tác được nhận lấy từ hình
thức phôi thai đầu tiên của Phật giáo, từ bỏ thế lực
quyền hành của giai cấp, tầng lớp tu sĩ tăng lữ và đi
xa hơn nữa là bằng học thuyết về sự bình đẳng công bằng
như đã được chứng minh qua sự xoá tan hệ thống giai cấp
đặc quyền. Quả nhiên, chính nhờ vào những kinh sách đạo
Phật mà chúng ta phải trở về để thừa nhận rằng sự
kiện xã hội có tổ chức của những mô hình gương mẫu
đầu tiên của những đại diện thể chế tự trị được
thực thi. Nhiều người hơi ngạc nhiên khi biết rằng những
cuộc kiết tập kinh điển của chư vị đệ tử đức Phật
tại Ấn Độ cách đây 2500 năm và về trước nữa lại
được tìm thấy những nguyên lý mà chúng ta đang thực thi
ngày nay tại nghị trường.
Cấp
bậc của hội chúng được bảo vệ bởi sự chỉ định của
viên chức đặc biệt-là phôi thai của "Mr Speaker" (ông Chủ
tọa) trong Hạ Nghị viện của chúng ta ngày nay. Một viên
chức thứ hai được bổ nhiệm để kiểm tra xem xét số đại
biểu cần thiết theo quy định được đảm bảo- nguyên mẫu
của một Trưởng quan chức có quyền duy trì kỷ luật trong
các thành viên của Đảng chính trị đang cầm quyền trong
Nghị viện trong hệ thống của chúng ta ngày nay.
Hầu
tước của Zetland, nguyên phó vương của Ấn Độ.
Trong
25 thế kỷ qua, Phật giáo đã hội nhập với các niềm tin
cổ truyền và các tôn giáo của nhiều vùng đất, hài hòa
chúng với bản chất thanh khiết của nền triết học Phật
giáo. Cùng một lúc, Phật giáo đã nẩy nở trên khắp Á Châu.
Cho đến nay, Phật giáo vẫn là tôn giáo chính của các dân
tộc Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Tây Tạng, Lào, Campuchia,
Đài Loan, Việt Nam, Đại Hàn, Trung Quốc, Mông Cổ và một
số nước Trung Á như Bhutan, Siberia v.v… Cũng còn nhiều cộng
đồng Phật tử lớn ở Mã Lai, Tân Gia Ba và Ấn Độ, cũng
như ở các nước Tây phương như Anh Quốc, Hoa Kỳ, Thụy Sĩ,
Đức, Pháp, các nước Bắc Âu và Úc.
Ngày
nay, ta thấy có sự chú ý nhiều đến Phật giáo hơn trước
ở Tây phương. Nhiều học giả đã tiên đoán rằng trong thế
kỷ tới, Phật giáo có thể trở thành một tôn giáo chính
ở Tây phương.
Kalinga
Senevirathne, A Brief History Of Buddhism.
Phật
giáo đã đạt được nền tảng to lớn ở Tây phương trong
vòng hai mươi năm qua. Mới đây, Phật giáo đã được đón
nhận như là tôn giáo phát triển nhanh nhất ở Anh quốc. Đã
có trên 100 nghìn đoàn thể Phật giáo và các trung tâm được
thiết lập ở nước này hiện nay, ở Hoa Kỳ còn nhiều hơn,
và con số lại gia tăng ở âu Châu nữa. Đó là từng chỉ
dấu cho thấy sự chú ý đến Phật giáo sẽ còn tiếp tục
lớn mạnh, vì Phật giáo rõ ràng cung ứn được một số
nhu cầu sâu xa về tinh thần cho con người của thế giới
Tây phương mà các tôn giáo truyền thống của họ đã thất
bại hoàn toàn. Người ta có thể hỏi: "Phật giáo có gì đặc
biệt giá trị và hữu ích vậy?
John
Snelling, The Buddhist Handbook.
Hiện
tại càng rõ ràng là Phật giáo đang đóng một vai trò sinh
động trong việc quốc tế hóa thế giới của chúng ta.
Rich
Fields, How The Swans Came to The Lake.