CHƯƠNG
V
NGUYÊN
LÝ TÂM LÝ HỌC PHẬTGIÁO VÀ BỆNH LÝ XÃ HỘI ĐƯƠNG TIỀN
SỰ
CẢI QUAN CỦA TÂM LÝ TRỊ LIỆU
Rollo May thảo luận đến “vấn đề khu vực” (problem areas)
khi biến đổi một cách trọng đại trên phương diện Bệnh
Lý Học tâm lý, ông đã giác sát đến 20 thế kỷ của thời
kỳ đầu tiên, sự chú trọng đến vấn đề khó khăn của
con người ngay trên phương diện bản năng, nhất là vấn đề
phương diện tánh đã chiếm cứ toàn thể tâm tư của Sigmund
Freud. Otto Rank và Alfred Alder thì biến đổi hứng thú đối
với sự chuyên môn nghiên cứu vấn đề tự ti cảm, tội
cảm và vấn đề không thích đáng trên mặt tinh thần. Chủ
đề của nữ tướng của tân phái Sigmund Freud, bà Karen Horney,
thì lại đặt trên sự xung đột cá thể và đoàn thể. Điểm
nóng bỏng chủ yếu trong đời sống hiện nay thì lại đặt
trên vấn đề bất an, cô đơn quạnh quẽ (loneliness) và trống
rỗng hoang vu (emptiness).
Rollo May đã từng bảo : “Vấn đề của hiện tại không
nằm ở chỗ xã hội cấm kỵ về hoạt động tánh hoặc là
tội cảm của bản thân tánh mà trên thực tế nếu đối
với rất nhiều người để nói thì tánh là kinh nghiệm, cơ
giới thức là trống không và vô mục đích. Ông ta còn nêu
rõ ràng loại “nội tâm trống vắng” nầy không nên chỉ
giới hạn ở phòng chẩn đoán của bác sĩ tâm lý trị liệu
mà nên sưu tập thêm nhiều tư liệu xã hội học để chứng
thực một cách rộng rãi sự tồn tại của hiện tượng nầy.
Bệnh lý xã hội ngày nay như đã được đề ra với kiện
tướng tân học phái Sigmund Freud là Erik Erikson đó là nguy
cơ đồng nhất, đồng dạng (identity crisis) tức trong 8 giai
đoạn (từ nhỏ đến già) của sự phát triển nhân cách,
cá thể cần phải đạt thành đồng nhất cảm một cách chánh
diện (như tự ngã xác nhận, thành tựu kỳ vọng, tánh đồng
nhất v.v…), nếu không nhiễu loạn vai trò của cá thể, thì
cũng sản sanh ra sự xa lìa, cách biệt (bệnh tinh thần) (alienation).
Cái gọi là sơ ly (mối bất đồng, sự xa lánh) chính là lúc
không thể nào giải quyết được nguy cơ đồng nhất, nên
bèn sanh ra sự không tín nhiệm người khác, vô năng cảm v.v…
do vậy lại càng cho rằng thế giới chung quanh là hiện tượng
lạnh buốt như băng và đây chính là điểm đặc sắc của
sơ ly (sự xa lánh). Học thuyết Erik Erikson đã không chỉ là
tâm lý học mà còn có thêm xã hội học, quan điểm và sắc
thái của nhân loại học…
CÁ
THỂ CỦA VÔ BIỂU TÌNH TRONG THẾGIỚI BIẾN THIÊN
Trong xã hội hiện đại và dưới thể chế kinh tế, vi phản
nhân tánh là một sự kiện rất rõ ràng : cơ giới hóa và
phân công lao lực đã khiến cho công nhân trở thành nô lệ
một cách máy móc, công tác biến thành đon điệu, phiền chán
và không có mảy may ý nghĩa nào. Sự hứng khởi to lớn của
công xưởng được vận tác dưới thể chế quan liêu, công
tác tập quán của cơ giới thức đã làm cho công nhân cảm
nghiệm một cách sâu sắc về tâm bất xứng đối với công
việc của chính mình. Thêm vào đó sau khi bị đô thị hóa,
sinh hoạt của đô thị bị rơi vào tình trạng khẩn trương,
thiếu an lạc, lưu động dời đổi luôn luôn đã khiến cho
con người hình thành cảm giác vô căn và vô năng.
Thiếu mục tiêu nội tại để chỉ đạo sinh mạng cá thể
đã khiến cho cách điệu sinh mạng của sự không chân thật
dẫm nát tâm linh. Thường xuyên cự tuyệt nhận thức của
chính mình, khiến sự trưởng thành của tự ngà nhận (self-knowledge)
bị cản trở. Thiếu tự ngã nhận thức và tự ngã hướng
đạo (self-direction) là đặc sắc của con người hiện đại
của chúng ta. Tình thế nầy, không những chỉ sáng tạo ra
một loại nhân cách lẻ nát và thương tàn, mà còn khiến
cho chúng ta và người khác trong vấn đề kiến lập sự quan
hệ ấm áp sẽ biến thành ảnh bọt (bèo bọt và hình bóng),
vì thế khiến cho con người biến thành một loại người
bệnh thái của đạo hình (other-oriented). Do sự cạn cùng trống
vắng của nội tại và vì để trốn tránh một nội tại
trống hoang nên đã khiến cho con người hướng theo người
khác và có ý đồ tìm đến những nơi cần viện trợ, nhưng,
kết quả là cả hai bên đều trống rỗng, đây chính là đô
thị bệnh thái (sick cities) của tâm cảnh nhân loại.
Cá thể, xã hội và không gian tâm lý mà xã hội đã sáng
tạo là một loại bệnh thái xã hội, cho nên tâm bệnh lý
học (vốn là để chữa trị những người có hành vi đặc
thù thất thường) hiện tại cần phải mở rộng cơ sở và
cải biến mục tiêu trị liệu.
NGUY
CƠ ĐỒNG NHẬN DƯỚI SỰ PHÂN TÍCH TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO
Phật giáo đề ra hai phương diện để nhận xét :
Gia
tăng trùng kiến “người chân chính” (authentic person), vì
con người xã hội hiện đại thiếu tự ngã nhận thức và
tự ngã hướng đạo. Do vậy chủ trương làm cho con người
có được sự thâm tỉnh của Phật giáo có thể ứng hợp
với nhu cầu của con người hiện đại, hơn nữa, chủ trương
nầy của Phật giáo có thể phối hợp lẫn nhau với Tâm lý
học nhân tính và Tâm lý học tồn tại.
Ứng
dụng của tâm lý học Phật giáo, tức là dùng quan điểm
vô ngã để đối phó với nguy cơ đồng nhận, dùng vô ngã
để phá trừ tự ngã lân ái (self-love), tự ngã ghét hận
(self-hatred), tự ngã trừng phạt (self-punishment) và tự ngã
chấp trước (ego-attachment) v.v…
TỰ
LUYẾN (NARCISSISM)
Căn cứ theo Orrine Klapp thì sau khi kiểm nghiệm có sự liên
quan đến chứng trạng cộng đồng của vấn đề đồng nhận
đã chỉ rõ : Tự ngã quan tâm quá đáng với tự luyến là
khởi nhân của vấn đề nhận đồng. Tự luyến phát nguồn
ở câu chuyện của một nhân vật thần thoại Hy Lạp là Narcissus
đã ôm bóng hình của sự tiếc thương và gieo mình xuống
nước. Sigmund Freud lợi dụng câu chuyện nầy để giải thích
về tâm lý bệnh hoạn đối với sự chấp trước bệnh lý
bản thân. Người tự luyến không những đối với thân thể
mình cảm thấy kiêu ngạo, mà còn phát triển ý đồ cố chấp
ở địa vị xã hội, tài sản, phong thượng, khái niệm và
ý thức hình thái. Đức Phật từng dạy tôn giả A Nan (Ananda)
rằng : “Do bởi thân thể nên dẫn lên giả tưởng ngã và
cảm giác, tri giác, hoạt động và ý thức khác, đây là do
ở giả tưởng hữu ngã mà suy diễn ra”.
Ngoài ra, tự hận (self-hatred) là phản ứng được tạo tác
bởi tiêu trầm và ưu uất đối với tự luyến, là mặt phủ
định của tự luyến. Tự hận cũng có thể nói là “Đồng
nhận tuyệt vọng” (Identity despair), thông thường xảy ra
ở thời kỳ cuối cùng của sinh mạng. Đồng nhận tuyệt
vọng có thể đưa đến việc tự sát, rất nhiều người
cũng đã trải qua một loại liều lĩnh tuyệt vọng một cách
lặng lẽ (quiet desperation).
CÔ
ĐƠN, CÔ TỊCH (LONELINESS)
David Riesman trong sách “Quần chúng Cô Đơn” (Lonely Crowd)
đã đề cập đến tình trạng nhân loại bị cưỡng bách
xã giao tánh (compulsive gregrariousness) như tham gia câu lạc bộ
và những tình hình cuồng nhiệt để bù vào những hoạt động
trong lúc hư nhàn. Chúng ta có thể phát hiện được hiện
tượng quái gỡ của nhân loại đó là sự trốn chạy tự
ngã và ý đồ gia nhập đoàn thể có hành vi hành liệt. Rollo
May cho rằng loại bệnh lý nầy là hành vi ngoại đạo hình
(other-oriented), là hành vi được tạo tác bởi sự hãi sợ
đối với sự cô đơn của nhân loại.
Căn cứ theo sự phân tích của Phật giáo thì có sự khu biệt
giữa “cô tịch” (being lonely) và “đơn độc” hoặc “cô
độc” (being alone) đã không có năng lực đi qua kinh nghiệm
cô độc và không thích nghỉ ngơi một mình là do e sợ sự
đơn độc. Bản thân cô tịch gồm có những phương diện
như : cô lập dưới sự chế ước của văn hóa, nỗi cô tịch
vì mất sự tôn trọng của người khác, trạng thái cô đơn
dưới sự ép buộc của bệnh tật v.v… Tình trạng trốn
tránh tự ngã là hình thức cô tịch đối với sự so sánh
thông thường.
Phật giáo cho rằng kinh nghiệm cô độc là sự tầm cầu phương
thức nội tỉnh tôn giáo một cách sâu sắc, loại kinh nghiệm
nầy có sự khác biệt với nhu cầu cô độc nên thân cận
với sơn thủy tự nhiên. Người xuất gia độn ẩn, người
tại gia thiền định thực tiễn và phân tích tự ngã, hưởng
thụ một thứ diệu lạc độc xứ đó là điểm Phật giáo
tán thán, bởi vì sinh hoạt thiền định có thể giúp làm
phong phú thêm đối với sự quan hệ xã hội giữa người
và người và đồng thời cũng để con người càng có được
thâm kiến và phát hiện được ý nghĩa của sanh mạng càng
có thể phát huy được tác dụng tinh thần thì có thể xa
lìa được sư cô liêu và phiền chán.
Phật giáo lại đề ra một loại kiến giải khác : Trên xã
hội, cần kiến lập sự quan hệ nhân tế thành thục về
sự tôn kính lẫn nhau và quan tâm đến người khác. Nhưng,
quan hệ của loại nhân tế nầy và sự chung sống lẫn nhau
và nương tựa vào nhau để hoạt động của bệnh thái ngoại
đạo hình đã có sự khu biệt.
CẢM
TÍNH VÀ PHIỀN CHÁN (SENSUALITY AND BOREDOM)
Sự truy cầu khoái lạc cảm quan và sự truy lạc bại hoại
nhân tánh của tính sinh hoạt đều có thể khiến cho nguy cơ
đồng nhận thăng tiến; nhưng, phát triển một loại cách
điệu sinh hoạt Phật giáo (Buddhist life-style) mới là nhiệm
vụ chính yếu đối với hiện tại.
Theo đuổi sự biến thiên nhanh chóng, không ngừng tầm cầu
sự biến hóa, và sau đó thì phiền chán, ảo diệt, có thể
tìm thấy trong sách “Hoặc Đây Hoặc Đó” (Either Or) tác
phẩm của Soren Kiekegard, Don Juan - người anh hùng của sắc
tình lãng mạn trong câu chuyện truyền kỳ của Tây Ban Nha,
là nhân vật đại biểu cho một loại hình khác, ông ta được
quy loại là nhân vận thuộc sắc dục hình (lustful type).
Người thanh niên hiện đại, sau khi đuổi theo những âm thanh
và hình sắc, kế đến là phát hiện rằng sự quan hệ của
nhân loại đã và đang thiếu vắng sự quan tâm chân chính
về ái tình và mức độ thân thiết. Nhưng, từ trong đồng
nhận tánh đã thấy được tâm lý học nhân tánh và luân
lý học của Phật giáo rằng là chúng a có thể được thương
yêu một cách chân chính, lương thiện và tôn kính với tâm
từ bi sâu xa vô lượng.
Kết quả theo đuổi của Don Juan sẽ sanh ra sự phiền chán,
ưu uất, đau khổ và tuyệt vọng; vì vậy mà bảo rằng lý
tưởng của Don Juan không thể biến thành triết học nhân
sinh trường kỳ một cách thống nhất (consistent pholosophy of
life). Phiền chán là một chứng trạng sâu nặng nhất trong
vấn đề đồng nhận ngày nay. Phiền chán gồm có hai loại
đó là do mục tiêu đặc thù gây nên (như hí kịch, sách vở
v.v…) và không có mục tiêu nào cả, và đó là sự phiền
chán được dẫn phát từ chính mình. Nếu chúng ta có thể
dùng nội tỉnh để nắm vững cái “rỗng tuếch của vô
danh” (nameless emptiness) nhằm tiến vào cửa ngõ trí tuệ thì
có thể khắc phục tất cả một cách triệt để.
TIÊU
CỰC VÀ TÍCH CỰC ĐỐI PHÓ VỚI TRỐNG RỖNG
Trống rỗng, phiền chán, cô đơn, cô tịch và ọe mửa nội
tại đã biến thành nghệ thuật và văn học cho đến ngay
cả trong bộ phận lãnh vực của triết học đương kim.
Phật giáo đối với kinh nghiệm của không vô cùng đã thái
dụng lấy hai loại phương pháp, đó là phủ định để đối
phó với trống rỗng và phiền chán. Một loại khác là tích
cực dùng Nội Tỉnh Pháp để liễu giải một cách rốt ráo
rằng tính chất của thực tại là hoàn toàn không có bản
chất nội tại, không có kinh nghiệm của tự ngã vĩnh hằng
và tâm linh đối với không tánh.
Do sự nghèo nàn của nội tại mà con người hiện đại đã
không có đủ năng lực để biến đổi tánh tiêu cực thành
tánh tích cực nhằm tiến tới quán sát một cách thấu suốt
tính chất của thực tại.
Tự ngã và không vô là chủ đề trung tâm của giáo nghĩa
Phật giáo, chuyên gia Phật học Edward Conze đã từng bảo rằng
không tánh theo Phạn văn “sùnya” cũng có ý nghĩa là nở
lớn (trướng đại) (svi or swell), tức là nhìn từ ngoại biểu
của một vật và đưa dẫn đến sự trướng đại; nhưng,
nội bộ thì lại là Không. Đứng trên thuật ngữ Phật học
để nói thì Ngũ Uẩn thuộc bộ phận ngoại biểu (biểu lộ
bên ngoài) nở lớn nhưng bên trong thì hoàn toàn vô ngã, là
Không.
Chỉ khi nào đi sâu vào thực tại mới liễu giải được
một cách trọn vẹn nhân sinh là thống khổ và quan niệm về
vô ngã, và, như thế chúng ta mới có thể vượt qua tâm thức
phiền chán tiêu cực và bệnh trống vắng, KHÔNG VÔ của thời
đại một cách rốt ráo.