CHƯƠNG
IV
TÂM
LÝ HỌC PHẬT GIÁO
VÀ
TÂM LÝ HỌC TRỊ LIỆU TÂY PHƯƠNG
LỜI
NÓI ĐẦU
Thời xưa, đối với những người có hành vi thất thường
hay tâm thần rối loạn (behavior disorder) thì thường hay tìm
cầu ở ma thuật (witchcraft), quỷ thần học (demonology) và
các loại phương thức trừ ma đuổi quỷ khác nhau (diverse
means os exorcising evils and demons). Có một số tôn giáo đã xen
trộn hoặc ít nhiều những phương thức nầy vào để làm
nghi thức y liệu tôn giáo, một số khác đã phủ nhận những
thủ đoạn trên và cho rằng tật bệnh tinh thần là vì công
năng của não bộ hỗn loạn gây nên, nhưng, mãi đến sau 20
thế kỷ mới có phương pháp khoa học rõ ràng hơn để phân
tích về những hành vi thất thường.
Đầu tiên có hai phái đưa ra giả thuyết dùng để thay thế
cho quan niệm “Trúng Ma” (Demonic possession) :
Giả
thuyết thân nhân tánh (Somatogenic hypothesis), tức là bệnh tật
tinh thần có thể được xem là sự phá hoại của thần kinh
khí quan, tác dụng trao đổi bài trừ phế vật thất thường
v.v… như những chủ trương của Kraepline và những người
khác.
Giả
thuyết tâm nhân tánh (Psychogenic hypothesis) là chỉ cho quá trình
tâm lý thất thường, như chủ trương của Mesmer, Charcot, Janet,
Breuer và Freud.
Đoạn nầy chú trọng ở phần sau, dùng kỹ thuật tâm lý
học để giải quyết sự thống khổ của nhân loại.
Gestalt hoặc “Tâm Lý Học Hoàn Hình Phái” (Gestalt Psychology)
nhấn mạnh đến chỉnh thể tánh của hiện tượng tâm lý,
cũng tức là đặc điểm lớn nhất của hiện tượng tâm
lý, đó là tánh thống nhất không thể chia cắt của nó, hành
vi cũng thế, tức là sự thống nhất của một hành vi nào
đó, là phản ứng của chỉnh thể.
Sigmund Freud là lý luận gia của tinh thần tật bệnh, cũng
tức là người sáng lập đầu tiên sự “Phân Tích Tinh Thần”
(psychoanalysis) và đã ảnh hưởng một cách lớn lao chưa từng
có trước đó.
Ngoài học phái Signmund Freud (Neo-Freudians) ra, “Nhân Tánh Tâm
Lý Học” (humanistic psychology) của Carl Rogers and A. Maslow, “Hành
Vi Tâm Lý Học” (beheviourist psychology) của John Watson và B.
F. Skinner, “Tồn Tại Tâm Lý Học” (Existiential psychology)
của Rollo May v.v… đều là chủ đề thảo luận của chương
này.
Sự thật, mỗi cá nhân trong xã hội ít nhiều đều đặt
trong “Bệnh thái xã hội” (Sick society) và “Bệnh thái chính
thường” (Pathology of normoly) như Erich Fromm đã nói. Erich Fromm
còn bảo rằng bệnh thái xã hội đương thời bao gồm những
chứng trạng như : Sơ ly (Alienation), nóng nảy, lo lắng, bất
an (Anxiety), cảm giác sợ sệt ở cấp độ sâu xa (the fear
of feeling deeply), tánh bị động (passivity), thiếu hoan lạc
(lack of joy) v.v… vì thế bảo rằng phương pháp trị liệu
của những nhà tâm lý học không chỉ giới hạn ở cá thể
bệnh nhân mà đồng thời còn bao gồm cả bệnh lý xã hội
đang thời. Đương nhiên, chủ yếu chúng ta vẫn lấy hệ thống
trị liệu tâm lý học của Phật giáo để so sánh với tâm
lý học trị liệu của tây phương hầu có được sự hiểu
biết sâu sắc hơn.
TÂM
LÝ HỌC HOÀN HÌNH PHÁI
Phái Tâm Lý Học Hoàn Hình phát triển vào năm 1912 ở Đức
quốc, và vào năm 1930 đã được đưa vào Hoa Kỳ. Nhân vật
chủ yếu của phái nầy là Max Wertheimer (1880-1943), Kurt Koffka
(1876-1941 ?) và Wolfgand Kohler kết cấu và chủ nghĩa hành vi
(chủ trương hành vi nhân loại được chia thành từng đoạn
để phân tích nhằm hiểu biết thêm). Phái nầy cho rằng phương
pháp học gia mà chủ nghĩa kết cấu đã sử dụng là nhân
vị không thể đại biểu cho tính chất chân chính của kinh
nghiệm ý thức. Chúng ta cần suy tính đến sự phức tạp
của bộ phận tuyệt đối không đại biểu một cách hoàn
toàn để hoàn chỉnh. Hành vi chủ nghĩa cũng bị phê bình
như thế. Đối với phái Tâm Lý Học Hoàn Hình thì hành vi
chẳng qua chỉ là một tập hợp của phản xạ mà thôi (bundle
of reflexes).
Gestalt, Đức ngữ có ý là hoàn chỉnh (whole), hình thức (form)
hoặc hình mạo (configuration). Phái nầy nhấn mạnh rằng thế
giới mà chúng ta nhận thức là dùng sự kết cấu của chỉnh
thể, nhưng không phải là phương thức của phiến đoạn mà
chính là sự quan thiết, là hoàn chỉnh, liên tục và là ý
nghĩa của hành vi chỉnh thể. Ví dụ : chúng ta nghe âm nhạc
là nghe âm luật, âm giai (melody) chứ không phải chỉ nghe từng
âm độ của âm tầng giọng điệu (pitch) và cường độ (intensity).
Phái
Tâm Lý Học Hoàn Hình đã ảnh hưởng đến sự phát triển
của Tâm Lý Học Nhân Tính (Humanistic Psychology) sau nầy; nhưng,
so với học phái Hành Vi ở thời học kỳ và học phái Phân
Tích Tâm Lý thì ảnh hưởng của phái Tâm LÝ Học Hoàn Hình
đã không được xem là to lớn.
Phương pháp trị liệu của phái Tâm lý học hoàn hình nếu
căn cứ vào niên đại 60 thì Fritz Perls, đại sư tâm lý học
của phái nầy đã cho rằng trên phương diện trị liệu thì
nên giúp đỡ cá thể nhắm vào sự liên quan đến các phương
diện về nhân cách và kinh nghiệm của họ để nhận thức
thêm hầu tiến tới việc giúp cho tự ngã thực hiện và tự
ngã phụ trách; ngoài điều nầy ra, cần nên khuyến khích
“những sự nghiệp chưa hoàn thành” (unfinished business) -
giải quyết những vấn đề thuộc quá khứ. Bởi vì những
vấn đề của quá khứ có thể ảnh hưởng đến hành vi hiện
tại. Như vậy thì, có thể một cách sâu sắc hơn, chú ý
đến cá thể và thế giới chung quanh để giảm thiểu sự
nóng nảy, bất an và khẩn trương nhằm đạt thành hiệu quả
rõ rệt trong xã hội cạnh tranh.
Tóm lại, chỉ thú của Fritz Perls ở chỗ là giúp người ta
dùng “Trí thức tự ngã” (Self-knowledge) đầy đủ và có
năng lực bảo trì tự ngã và sau cùng dẫn đạo người ta
theo hướng đạt đến cảnh địa độc lập (Tình tự thành
thục).
PHÂN
TÍCH TÂM LÝ CỦA SIGMUND FREUD
Bằng vào tư liệu được tích lũy nhiều năm đã giúp cho
Sigmund Freud quán xét tâm trạng trong lòng người một cách
sâu sắc và quán triệt. Ông đã không những nghiên cứu về
bệnh thái mà khảo sát đến cả những bộ phận bệnh lý
tâm lý chính thái như thất ngôn (lỡ lời), di vong (quên mất),
viết sai chữ, mộng mị v.v…, đồng thời ông cũng đã nghiên
cứu về các lãnh vực khác như nghệ thuật, văn học và thần
thoại v.v… Sau đó, ông tổng hợp mọi kinh nghiệm thực tế
và viết thành học thuyết lý luận. Trong quyển “Tâm Lý
Phân Tích Đại Cương” (An Outline of Psychoanalysis) ông thuyết
minh rằng một con người bị bức bách bởi ba loại bản năng
cơ bản đó là : tánh bản năng (sexual instinct), tự ngã bản
năng (ego instinct) và khu lực tự ngã hủy diệt (self-destructive
urge).
Sigmund Freud sử dụng sức tất đa (libido) tức dục lực trong
đó bao gồm các loại khoái cảm của thân thể, điều nầy
được nhìn nhận là tương đối giống với sự tham dục
của tâm lý học Phật giáo. Sau nầy, Sigmund Freud lại tiếp
nhận quan niệm tự luyến (narcissism) (Bộ phận tự ngã của
bản năng bảo tồn tự ngã). Dục lực có thể do từ thỏa
mãn, áp chế hoặc dùng tác dụng nghịch thi, đồng nhận v.v…
những phương thức phòng vệ để giải quyết; khi xung động
bị áp chế thì được lưu trữ ngay trên tầng thứ của tiềm
ý thức; tuy nhiên cũng có lúc bị đẩy vào trạng thái ý
thức; nhưng, đại bộ phận hoạt động của nó nằm trong
tầng thứ sâu hơn do vậy mà sản sanh tâm trạng khẩn trương
và bất an. Sigmund Freud cho rằng triệu chứng của bệnh lý
là một loại trá hình thỏa mãn của sự xung động không
được tiếp nhận (disguised gratification).
Bản thân của khu lực tự ngã bảo tồn có rất nhiều phương
thức biểu hiện : đó là truy cầu quyền lực, danh vọng,
địa vị, làm người được chiêm nghưỡng, tự luyến v.v…
Bản năng của tử vong, trên cơ bản là phản tự ngã, sau
đó mới đến nhân vật và vật mục tiêu không ưa thích.
Sigmund Freud cũng đã từng đề cập rằng chính ngay sự hoạt
động nhân thể cũng là khuynh hướng nằm ở nguyên tắc truy
cầu khoái lạc nhằm trốn tránh khổ đau. Nhưng, truy cầu
tự thỏa mãn của cảm quan một cách tức khắc là điều
khó có thể có mà ngược lại là sẽ có hại. Vì thế, cá
thể cần phải học để đạt đến việc kéo dài sự thỏa
mãn bằng cách dẹp bỏ một số khoái lạc nào đó đồng
thời tôn trọng pháp luật và đạo đức của xã hội, như
thế thì biện pháp hiện thực trong quá trình truy cầu khoái
lạc không thể hoàn toàn bị phá hoại.
Trong tác phẩm “Ngoài Nguyên Tắc Khoái Lạc” (Beyond the Pleasure
Principle), Sigmund Freud cho rằng : ngoài khu lực thỏa mãn khoái
lạc mãnh liệt còn có sự chế tạo của thiên kiến tâm lý
không vui sướng (Psychi Preoccupation) như ngược đãi, khi dễ
(sadism) và bị ngược đãi, khi dễ (machosism). Có rất nhiều
nhà tâm lý học đã thừa nhận rằng nhân loại có một thứ
tánh có chiều hướng công kích cơ bản, nhưng đã không có
một loại khu lực tự ngã hủy diệt, có một số người
cho rằng công kích chẳng qua chỉ là một loại tánh phản
ứng phòng vệ mà thôi.
Sigmund Freud lại phân tích nhân cách được hợp thành bởi
ba loại yếu tố, đó là : Bản ngã (Id), tức là kho tàng của
xung động; Tự ngã (Ego), tức sự khống chế xung động hiện
thực; Siêu ngã (Super-ego), tức là biểu thị cho sự cưỡng
cầu của lương tâm nội tại đối với đạo đức, tôn giáo
và nhân loại.
Trên phương diện trị liệu, “phân tích tâm lý” của Sigmund
Freud chủ yếu là sự khám xét và truy cầu động cơ tiềm
ý thức của bệnh nhân, tức là vấn đề xung đột và áp
chế giai đoạn phát triển tâm lý tính dục của thời tảo
kỳ, nếu có thể được giải phóng từ sự áp chế thì bệnh
nhân sẽ lành bệnh. Mục tiêu trị liệu của nó ở chỗ là
tiềm ý thức của ký ức bị áp chế được chuyển sang ý
thức giới. Kỹ thuật được sử dụng bao gồm những phân
tích được liệt kê sau đây :
Phân
tích về tự do liên tưởng (analysis of free associations)
Để
người bệnh nói ra những điều đã nghĩ, nguyện vọng, cảm
giác của thân thể, ảnh tượng của tâm lý trong lòng một
cách toàn bộ và sử dụng điều đó để thăm dò tảng núi
băng lạnh giá của tiềm ý thức.
Phân
tích sự kháng cự (analysis of resistances)
Trong
tự do liên tưởng, người bệnh không đủ sức và không muốn
thảo luận về dục vọng, kinh nghiệm v.v…, và điều nầy
được cho là một loại chướng ngại trên tâm lý (giữa tiềm
ý thức và ý thức); mục tiêu của sự phân tích tâm lý ở
chỗ là phá vỡ sự kháng cự, để người bệnh đối diện
với những quan niệm, dục vọng và kinh nghiệm về những
đau khổ nầy.
Phân
tích về giấc mộng (analysis of dreams)
Phái
phân tích tâm lý cho rằng phân tích về giấc mộng có thể
thấu rõ động cơ tiềm ý thức của người bệnh. Mộng là
tiềm ý thức xung động, biểu hiện tượng trưng của xung
đột và dục vọng.
Phân
tích về sự chuyển di tác dụng (analysis of transference)
Khi
người bệnh tiếp nhận phân tích tâm lý trị liệu thì thường
phát triển một loại phản ứng để đối đãi với kể phân
tích tâm lý. Người phân tích tâm lý có thể bị cho rằng
là một người bệnh, là một nhân vật quan yếu của sự
xung động trình tự quá khứ, tình hình nầy được gọi là
chuyển di tác dụng. Chuyển di gồm có ba loại : Chánh chuyển
di (Positive transference), tức là người trị liệu được người
bệnh nghĩ và xem là người mà họ yêu thương hoặc nhân vật
để họ tư duy ngưỡng mộ; Phụ chuyển di (Negative transference),
tức người trị liệu trở thành là đối tượng đối dịch
của người bệnh; Chánh phụ chuyển di, tức bao gồm hai loại
tình tự chánh và phụ. Phương pháp nầy có thể hiểu biết
được kinh nghiệm và thái độ của người bệnh trong thời
kỳ trước đó. Nhưng, phương pháp nầy cần phải chú ý đến
tác dụng chuyển di phản hướng (counter transference), tức người
trị liệu mang tác dụng tình tự của tiềm ý thức đó và
lấy người bệnh làm đối tượng để biểu hiện; như thế
thì đã đưa đến tình trạng là chướng ngại đối với
việc phân tích tâm lý.
TÂM
LÝ HỌC NHÂN TÍNH (THE HUMANISTIC PSYCHOLOGY)
Phương
thức trị liệu Tâm Lý Học Nhân Tính thuộc về Tân học
phái Sigmund Freud (Neo-Freudian). Tân học phái Sigmund Freud nếu
so với học phái Sigmund Freud thì có sự mới mẻ hơn :
Tăng
thêm phần phân tích về hoàn cảnh xã hội của người bệnh.
Không
những chỉ chú trọng đến giai đoạn thiếu thời của người
bệnh mà còn chú trọng đến sự phát triển tính tình ở
thời hậu kỳ.
Vai
trò quan hệ nhân tế hoạt động hỗ tương (yêu cầu của
sinh vật tánh ít hơn).
Ý
nghĩa của công năng tự ngã và quan niệm tự ngã (đối với
xung đột bản ngã và siêu ngã ít nhấn mạnh hơn). Tóm lại,
phương pháp trị liệu của Tân Sigmund Freud ít nhấn mạnh
đến quá trình tiềm ý thức, đồng thời lấy tánh và công
kích làm nhân tố của quyết định bệnh lý; nhưng, họ vẫn
dựa vào ngộ (gặp nhau) đàm trị liệu (talking therapy) để
vạch rõ động thái nhân cách.
Giữa Sigmund Freud và Tâm Lý Học Nhân Tính có thể thấy được
cách trị liệu của Sigmund Freud chú trọng về sự bất mãn
và bất hạnh của nhân tánh, còn Tâm Lý Học Nhân Tính của
Carl Rogers và A. Maslow như đã được nêu trên thì nhấn mạnh
đến mặt nhân tính tích cực, có năng lực lý tính, tự do
và tự ngã hướng đạo.
Đối tượng nghiên cứu của Tâm Lý Học Nhân Tính là người
chính thường, sự thành tựu đặc thù của cá nhân và người
thích ứng với hoàn cảnh nội tại không tốt. Carl Rogers,
A. Maslow và những học giả của phái nầy đều cho rằng nhân
loại truy cầu giá trị, ý nghĩa và cá thể trưởng thành
là một nỗ lực đối với khốn cảnh của nhân loại (nhưng
tâm lý học tồn tại thì cho rằng xứ sở và hoàn cảnh của
vấn đề làm người là sơ ly, phiền chán và thiếu ý nghĩa).
Thể hệ trị liệu của Tâm Lý Học Nhân Tính là “Trị liệu
khách hàng là trên hết” (Client-centered therapy). Họ cho rằng
người bệnh không cần sử dụng phương thức chỉ đạo để
biến đổi thêm hoặc cải biến hoàn cảnh của họ, người
bệnh có thể tự giải quyết vấn đề của mình. Cho nên
Tâm Lý Học Nhân Tính là một loại thể hệ trị liệu không
có tánh chỉ đạo (a non-directive system of therapy). Cá thể nếu
so với một vấn đề đặc thù thì càng trọng yếu hơn, hiện
tại trọng yếu hơn quá khứ, tình cảnh trị liệu lý tưởng
là tình tự trưởng thành.
Nói một cách tóm lược, khái niệm trị liệu của Tâm Lý
Học Nhân Tính là : Con người tự trách nhiệm về mệnh vận
của chính mình, mục tiêu của nó là làm cho người bệnh
biến đổi tri giác của mình; phương pháp này đối với những
người chính thường có vấn đề điều thích thì rất có
hiệu lực, nhưng, đối với những người bệnh có vấn đề
tình tự phức tạp cần có sự nương tựa thì gặp phải
một số vấn đề.
HÀNH
VI TRỊ LIỆU (BEHAVIOR THERAPY)
Được khởi nguyên từ John Watson và tâm lý học phái Hành
Vi của B. F. Skinner say nầy. John Watson và học giả của phái
nầy cho rằng nếu nói một cách nghiêm túc thì, tâm lý học
là khoa học nghiên cứu hành vi nhưng phản đối kỹ thuật
Nội Tỉnh Pháp (Introspection), cũng tức là phủ định đối
với việc nghiên cứu trạng thái tâm lý nội tại sử dụng
quan niệm hoạt động nội tại. Chủ nghĩa hành vi nhấn mạnh
đến kỹ thuật khách quan quan sát pháp (Thấy được, nghe
được, có cảm giác) và đặc biệt chú trọng đến sự học
tập tâm lý học (Psychology of learning), quan hệ phản ứng kích
thích (stimulus-response relation) và quá trình tâm lý tánh chế
ước (Process pf psychological conditioning) v.v…
Đức
Phật tiếp nhận ý nghĩa trọng yếu về sự quan hệ hỗ tương
của con người và hoàn cảnh xã hội.
Người trị liệu hành vi cho rằng bệnh lý ở chỗ là người
bệnh đối với sự kích thích của hoàn cảnh mà học được
phưong pháp đối phó với những trường hợp không thích đáng
gây nên. Vì thế, công tác trị liệu hành vi là giúp đỡ
người bệnh dẹp bỏ đi những hành vi học tập một cách
không thích đáng để thay thế vào đó hành vi học tập thích
đáng. Kỹ thuật được sử dụng bao gồm trong các tiết mục
được liệt kê như sau :
Giảm
thiểu mẫn cảm (descutization)
Dạy người bệnh thay thế những tình tự bất an, hãi sợ
mục đích vật hoặc sự kiện buông thả bằng một loại
phản ứng ước chế mới để vui vẻ thoải mái. Phương pháp
nầy đã được phát minh bởi nhà tâm lý học Nam Phi tên là
Joseph Wolpe.
Chế
độ trù mã (tiền kiệu) (token economy)
Người bệnh mỗi lần thực hiện thành tựu một việc đã
được học tập (như ăn cơm đúng giờ) thì được cho tiền
kiệu, sau đó có thể đổi tiền kiệu bằng thực vật hoặc
sự tưởng thưởng, để đạt được sự thù đáp một cách
thích đáng (như nghỉ ngơi cuối tuần), nhằm để khích lệ.
Thân
thể trị liệu (Somatic therapy)
Sử dụng những phương thức như thuốc men, (drugs), điện
kích (electric shocks), động thủ thuật (surgery) v.v…
TÂM
LÝ HỌC TỒN TẠI (EXISTENTIAL THERAPY)
Tâm Lý Học Tồn Tại được bắt nguồn từ chủ nghĩa Tồn
Tại triết học (existentialism) – tư tưởng của Soren Kiekegaard,
Martin Heidegger, Karl Jaspers and Jean-Paul Sartre (mất ngày 15 tháng
4 năm 1980). Nhắm vào sự sơ ly của xã hội hiện đại, sự
tan rã của những giá trị truyền thống. Tồn Tại chủ nghĩa
tin rằng nếu nhân sinh đã nương cậy vào chính mình thì dẫu
cho ở vào một xã hội dẫy đầy địch ý đi nữa, chúng
ta cũng chỉ có thể lựa chọn tự ngã.
Chính Jean-Paul Sartre đã phê bình về Sigmund Freud, và ám chỉ
rằng qua đó có thể phát triển một bộ phận Phân Tích Học
Tâm Lý Tồn Tại (existential psychoanalysis). Karl Jaspers đã từng
viết về tâm lý bệnh lý học và hiện tượng tâm lý trị
liệu (Phenomenological psychiatry), đây là công trình vô cùng
khích lệ của Martin Heidegger. Những nhà trị liệu hiện tượng
tâm lý học nổi danh nhất gồm có như Minowski, Erwin Strauss
và Gebsattel. Tâm Lý Học Tồn Tại do Ludwig Binswanger dẫn đầu,
nhưng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tồn Tại để viết
thành tác phẩm tâm lý học thì người đáng được đề cập
là Rolls May.
Tâm Lý Học Nhân Tính của Carl Gogers, A. Maslow đối với Tâm
Lý Học Tồn Tại đã có rất nhiều điểm tương tự. Các
nhà trị liệu Tâm Lý Học Tồn Tại đã chưa phát triển được
một hệ thống cao độ để làm kỹ thuật trị liệu.
Ý định của những nhà Tâm Lý Học Tồn Tại là muốn tìm
hiểu về cảnh xứ nguy cơ của nhân loại. Họ không tiếp
nhận những điều như : khu lực (drive), thể hệ năng lực
(energy system), cơ năng tiềm ý thức (unconscious mechnisms) hoặc
quan hệ phản ứng kích thích (stimulus response relations). Họ
chỉ quan tâm đến quyết tâm, trách nhiệm, tự luật (autonomy)
và tính đồng nhất, đồng nhận (identity) để tầm cầu một
con người chân chánh (authentic person).
Mục tiêu trị liệu của Tâm Lý Học Tồn Tại ở chỗ là
để cho cá nhân chịu trách nhiệm đối với chính mình, dù
khoái lạc hay không thì cũng phải đối diện với thế giới,
tiếp nhận khiêu chiến. Người trị liệu chỉ ngay thẳng
bày tỏ ý kiến và cảm giác để bệnh nhân biết rằng thời
khắc nầy là thời khắc cho chính người bệnh lựa chọn,
để cho bệnh nhân tự biết là mình đang làm công việc lựa
chọn một cách tự do.
Vì để có một kiến giải tôn giáo nên y theo từng luận
điểm để so sánh giữa tâm lý phân tích học, học phái hành
vi và nhân tính – tâm lý trị liệu của tâm lý học tồn
tại (Tâm lý học nhân tính hợp lại một nơi) như mẫu so
sánh được trình bày như sau :
MỤC
ĐÍCH CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO TRỊ LIỆU PHẬT GIÁO TRỊ
LIỆU
Phương pháp trị liệu của Tâm Lý Học Phật Giáo là sự
thu hút toàn bộ và tổng hợp tinh hoa học thuyết của các
phái, bởi lẽ trên cơ bản, Phật giáo chính là “Trị liệu
thủ hướng” (Therapy Oriented). Trên phương diện triết học
thì Phật giáo có thể đưa ra những khải thị đối với
việc nhân loại bị mê mờ và đánh mất hình thái ý thức,
và khốn hoặc trên mặt ý thức. Trên phương diện tâm lý
học, Phật giáo có thể chỉ rõ là vì dục vọng ràng buộc
nên nóng nảy, lo lắng, đau khổ và còn chỉ dạy những phương
pháp có khả năng giải quyết được những khuynh hướng công
kích nhân cách. Vì thế Phật giáo, trên phương diện trị
liệu đã bao gồm cả triết học và tâm lý học, và có thể
mở rộng tầm mắt của tâm lý trị liệu.
Phật giáo rõ ràng đã chỉ ra được sở tại (nguồn gốc
nơi chốn) của vấn đề đau khổ của nhân loại, với sự
chẩn đoán của Phật giáo thì cội nguồn của đau khổ là
dục cầu (craving) và vô minh (ignorance), và con đường giải
quyết để chấm dứt đau khổ là “Bát Chánh Đạo”, và,
mục đích chung cực của sự trị liệu chính là “Niết Bàn”
(Nirvànna) giải thoát.
Đau khổ sở dĩ hiện hữu là do dục cầu (căn nguyên trên
mặt tình tự) và vô minh (căn nguyên trên bình diện trí thức).
Dục cầu khởi sanh từ khát vọng, ghét hận, còn vô minh thì
lại đến từ vọng tưởng. Cho nên con đường trị liệu
là : Đối với những người có khí chất dục cầu thì cung
cấp cho sự Ninh Tịnh (Tranquility), thanh tịnh; còn đối với
người khốn hoặc trên phương diện tâm trí thì cung cấp
cho sự Nội Tỉnh và chỉ có như thế mới là con đường
giải quyết tối ư căn bản.
Sự khác nhau rõ ràng nhất giữa tâm lý học Phật giáo và
học phái trị liệu tây phương ở chỗ là mục đích trị
liệu. Phật giáo không trực tiếp quan tâm đến cá thể hữu
hạn, điều thích bất lương, nhưng lại quan thiết đến vấn
đề khốn cảnh của toàn thể nhân loại. Đức Phật dạy
rằng tật bệnh có thể được chia thành tật bệnh trên thân
thể và tật bệnh trên tâm lý. Nhân loại chúng ta bị tật
bệnh trên thân thể trong mỗi một sát na (thời gian ngắn
nhất), nhưng, tật bệnh trên tâm lý thì ngoại trừ đến
Thánh Cảnh (Sainthood) và nếu không thế thì không thể nào
có thể tiêu trừ được. Ở đây đức Phật đã đưa ra lý
tưởng của hạnh phúc và khái niệm về sự bất an : Người
xuất gia có thể xả bỏ tất cả để tầm cầu sự ninh tịnh
hoàn toàn của nội tâm; người tại gia có thể sống một
đời thật hạnh phúc, rất hài hòa (thích ứng hoàn cảnh)
trên cõi đời, nhưng phải tránh xa sự quá độ bằng cách
hạn chế nhu yếu, thường xuyên phân tích tự ngã và giúp
đỡ người khác.
So với tầng thứ cao hơn trên ý thức Phật giáo đó là phương
diện thiền định thực tiễn, quan niệm nầy vẫn chưa được
đa số các nhà tâm lý học tây phương hấp thụ; nhưng, đối
với ý thức phát triển ở tầng thứ cao hơn nầy lại chính
là tinh tâm kiệt tác của cả một cuộc đời của đức Phật,
tiếc thay, một số nhà tâm lý học Tây phương vẫn còn cảm
thấy xa lạ đối với khái niệm nầy.
THỂ
HỆ TRỊ LIỆU CỦA PHẬT GIÁO VÀ TÂM LÝ HỌC TÂY PHƯƠNG
Thông thường, Phật giáo trị liệu là phương pháp đã tụ
hợp các học thuyết của những nhà tâm lý phân tích học,
nhân tánh tâm lý học và tồn tại tâm lý học; nhưng, học
phái chủ nghĩa hành vi thì lại hơi có sự khác biệt đối
với quan niệm trị liệu của Phật giáo. Phật giáo chủ trương
Nội Tỉnh Pháp, còn trị liệu hành vi thì chú trọng về hành
vi ngoại hiển (hiển lộ bên ngoài). Nhưng, triết học Phật
giáo cũng trọng lấy tư thái thực chứng, nhấn mạnh đến
sự quan sát và chứng thực. Phật giáo cũng phê bình về lý
luận Hình Nhi Thượng (siêu hình học giải thích tâm linh).
Phật giáo phủ định sự hiện hữu của lý luận thuần túy
tự ngã. Quan hệ của kích thích phản ứng, căn cứ vào những
lời dạy của đức Phật là nhằm khơi lên một thủ đoạn
ghét hận và vọng tưởng của nhân loại. Đức Phật dạy
rằng kích thích phản ứng trong tâm linh của nhân loại gốc
rễ đã bám sâu từ nhiều đời nhiều kiếp trong sanh tử
luân hồi.
Phái Tâm Lý Học Hoàn Hình chú trọng đến tâm lý học của
bây giờ và ở đây (here-and now psychology). Phật giáo cũng
rất chú trọng đến thời khắc tu hành. Phái Tâm Lý Học
Hoàn Hình và Phật giáo đều sử dụng một cách thiện xảo
và quán tưởng (visualization) để hiểu biết và đo lường
nhu yếu và phản ứng nội tại của chúng ta. Nói cách khác,
chế ngự sự quán tưởng thì có thể phát triển thực tại.
Ở vào thế kỷ 12 Tây nguyên, đại sư của Phật giáo Tây
Tạng là Gampopa đã sử dụng sự quán tưởng phản diện để
tẩy trừ vấn đề cảm tình, điều đó cũng có nghĩa là
khi chúng ta phát hiện tình cảm mãnh liệt nhất, cần phải
tìm cách sửa lại, như sự chấp trước khi được khoái lạc
trong cảm quan thì hãy quán tưởng đến phản diện, mặt xấu
ngược lại của nó.
Phái Tâm Lý Học Hoàn Hình và Phật giáo có thể thấu biết
mọi biến động không ngừng của hiện tượng thế giới
là không thể nắm bắt. Fritz Perls từng bảo : “Biến thiên,
không thực thể là thực tại duy nhất.” Fritz Perls còn khuyến
khích người ta phải kinh nghiệm về “khai ngộ” (enlightenment).
Bởi vì nó có thể sử dụng thân tâm, cảm tình, hợp lý
và kỹ thuật hình nhi thượng (siêu hình học) để đạt đến
mục tiêu nầy. Như thế là chúng ta có thể phát hiện trong
Phật giáo một loại tâm lý học cao siêu rộng rãi hơn có
phụ thêm phần triết học, nghệ thuật âm nhạc và Du Già
cũng như sở hữu của các phương diện văn hóa của nhân
loại, nhằm đưa dẫn đến một lý tưởng cao quý.
Mục tiêu trị liệu cuối cùng của tâm lý học phái Hoàn
Hình là hướng dẫn đến một thỏa mãn lớn hơn trong vấn
đề hưởng thụ tự túc và cá nhân, nhưng Phật giáo thì
tri nhận những sở hữu của thế giới ngoại tại đều là
những quan hệ nhân duyên hòa hợp, sau khi nhận thức được
những lời dạy của đức Phật, chúng ta có thể tránh được
những đau khổ do sự ràng buộc bởi tự tư và dục niệm;
lý tưởng của Phật giáo là Bồ Tát, là đấng tận lực
giải trừ đau khổ cho tất cả chúng sanh và làm cho chúng
sanh có thể đạt đến cảnh giới cứu cánh Niết Bàn thanh
tịnh, đây là cảnh giới cao nhất của Phật giáo.
Dục lực (Libido) trong phân tích tâm lý của Sigmund Freud, bản
năng tự ngã và bản năng tử vong cùng với ba loại dục cầu
biểu hiện mà Phật giáo đã chủ trương, đó là dục cầu
thỏa mãn cảm quan, truy cầu dục vọng tự tư và dục cầu
hủy diệt đã có sự giống nhau.
Khái niệm của Phật giáo về động cơ hữu vô ý thức, chính
là ý hướng được sai khiến của tầng sâu xa bởi dục cầu
hưng phấn của cảm quan. Sự chấp trước đối với vật
mục đích dụ hướng cảm giác khoái lạc và cổ võ cảm
quan tham cầu tiềm tại; cảm giác đau khổ dẫn phát kích
nộ tiềm tại và sự uy hiếp của vô thường đối với sanh
mạng nên có khuynh hướng chấp trước kích thích tiềm phục
tồn tại. Những ý hướng của tánh tiềm phục nầy nâng
cao lòng tham cầu, kích nộ, kiêu ngạo, đố kỵ và các loại
nền tảng cơ bản của sự bất an một cách vĩnh viễn không
gián đoạn. Vì thế mà bảo rằng tâm linh là một liên tục
thể của động thái ký ức tàng trữ thời kỳ thơ ấu, (thậm
chí vô số đời trước quá khứ). Đức Phật dạy rằng tự
ngã do nhờ sự giúp đỡ lâu dài của ý thức tiềm tại nên
đã tạo nên cơ sở của sự khẩn trương và bất an.
Mục đích phân tích tâm lý của Sigmund Freud ở chỗ là đề
cao lý tưởng hạnh phúc hữu hạn và có thể đạt đến,
còn Phật giáo thì đề ra một con đường chân chánh nhắm
vào lãnh vực tâm linh và trên luân lý học, để giúp cho thế
nhân tuân hành.
Carl Gogers v.v… chủ trương rằng nhân loại phải có trách
nhiệm đối với mệnh hệ của chính mình, lựa chọn tiền
đồ cho chính mình và cần phải có chọn lựa, trách nhiệm
cảm, điều nầy đã có sự giống nhau với kiến giải của
Phật giáo trên phương diện tâm lý học và luân lý học.
Phật giáo là một tôn giáo phủ định tự nhiên Mệnh định
luận và Thần định luận. Nhưng Phật giáo chủ trương đối
với trị liệu “khác hành trên hết” có sự khác biệt.
Phật giáo đề ra con đường giải thoát cho tâm linh bất an
và phương thức sinh hoạt là kim chỉ nam một cách hết sức
tích cực, nhưng chủ trương kỹ thuật trị liệu “khách
hàng trên hết” thì về mặt nội dung đã không được rõ
ràng lắm. Quyết định và trách nhiệm cảm của tâm lý học
Phật giáo và tâm lý học nhân tính đã nhấn mạnh cũng đã
có đôi chỗ khác biệt : cách nhìn của Phật giáo nếu so
sánh thì thấy rõ là giàu động lực tánh hơn, đặc chất
của nguồn gốc sâu xa của nó ở chỗ là có khuynh hướng
của quá khứ và vị lai.
Phật giáo và tâm lý học tồn tại đối với phương diện
trị liệu đã có điểm tương đồng như : “Sanh mạng bi
kịch cảm” của tâm lý học tồn tại và “Nhân sanh là
đau khổ” của Phật giáo dù không có sự mưu tính nhưng
vẫn đã gặp nhau. Ngoài bi kịch cảm còn có “sự nóng nảy
lo lắng cơ bản”. Phật giáo đề ra phương pháp dùng quan
niệm vô ngã để có thể trị liệu sự nóng nảy, lo lắng,
khổ đau và phiền chán. Phật giáo cũng cho rằng con người
sở dĩ nóng nảy lo lắng bất an là bởi vì bám víu vào sự
chấp trước nơi tự ngã. Tâm lý học Tồn Tại đã đánh
thức những con người đã và đang ngủ say trong xứ cảnh
của chính tâm mình, nhưng Phật giáo thì đề ra tinh thần
vô ngã để giải quyết vấn đề một cách rốt ráo.