CHƯƠNG
II
TRI
NHẬN TÂM LÝ HỌC,
ĐỘNG
CƠ VÀ TÌNH CẢM
ĐỊNH
NGHĨA TRI NHẬN
Tri nhận (Cognition) có ý nghĩa “Quá trình của sự hiểu biết”
(knowing), là một vấn đề hoạt động tâm trí, sử dụng
ngôn ngữ, tưởng tượng và phát sinh quan niệm (hoàn cảnh
kích thích và đối với kích thích của phản ứng đã có).
Loại “quá trình hiểu biết” nầy là một cái gì không
thể trông thấy, chúng ta không thể thấy được những cái
được mệnh danh là tư khảo, suy lý hoặc ký ức, nhưng, chúng
ta có thể quan sát và nghiên cứu hành vi do những hoạt động
nầy sanh ra. Đức Phật dạy rằng, quá trình tri nhận của
chúng ta là thực tại của quá trình cảm quan (reality of the
sensory process), tri nhận của chúng ta cũng cùng với thành phần
quan niệm và tưởng tượng của phi cảm quan (non-sensory) kết
hợp tại một chỗ. Chỉ thú của tri thức tâm lý học của
đức Phật và khoa học tánh của tâm lý học hiện đại đã
có sự giống nhau.
TRÍ
THỨC AO HƠN
Đức Phật đã thử qua các loại phương pháp như khổ hạnh
(penance), tự ngã khổ tu (self-mortification). Cấm giới (aroidance)
và ẩn độn (seclusion) v.v… phát triển tự ngã. Loại phát
triển về năng lực cao nầy, đã không phải là một loại
thần bí mà chính là sự phát triển tự nhiên của một loại
tiềm năng nào đó của một con người, nó không phải là
sự xuất hiện đột nhiên của một lực lượng thần bí
nào đó mà là sự phát triển một cách dần dần. Loại phương
thức phát triển tiệm tiến nầy liên quan đến 3 giai đoạn
: Tháo thủ đạo đức, công phu nhận định (samadhi or concentration)
và sự bồi dưỡng của trí huệ. Loại đầu nhập nầy cần
phải trải qua thời gian suốt đời thí nghiệm, đức Phật
cuối cùng đã đạt đến sự phá trừ vô minh và những buộc
ràng của phiền não.
Bất cứ ai tham cứu, tìm hiểu về tâm lý học tri nhận của
Phật giáo thì đều không thể thờ ơ đối với những phạm
vi tâm lý tri giác cao độ nầy.
TRI
NHẬN VÀ ĐỘNG CƠ
Tâm lý học tri nhận không thể tách rời động cơ nghiên
cứu. Đức Phật sở dĩ phân tích động cơ của tâm lý nhân
loại là vì muốn chỉ bày nguyên nhân thống khổ của nhân
sinh, và tầm cầu phương pháp để làm giảm khinh sự thống
khổ ấy, điều đó cũng chính là yêu cầu chúng ta cần phải
có một năng lực tri nhận bén nhạy và tự cải thiện chúng
ta. Dục vọng của nhân loại ảnh hưởng năng lực tri nhận,
nhưng tri nhận cũng có tác dụng đối với dục vọng.
Đức Phật không chủ trương cắt đức dục cầu của cảm
quan mà là chủ trương huấn luyện dục cầu của những cảm
quan nầy để khiến cho những kích thích ngoại tại không
thể nhiễu loạn nội tâm. Đức Phật đã không tìm cách nén
ép, co rút cảm quan mà chỉ muốn làm cho cảm quan phát triển,
cải thiện và tịnh hóa.
TRI
NHẬN VÀ TRỊ LIỆU
Đức Phật dạy rằng có hai loại phương pháp có thể đạt
đến sự phát triển trên phương diện tinh thần : Ninh Tịnh
(Tranquillity), sự tĩnh lặng an bình; và Đổng Kiến (Insight),
sự nhìn thấy xuyên suốt bên trong sự vật. Nhưng, cũng có
5 loại nhân tố có thể nhiễu loạn sự phát triển của sự
ninh tịnh trừ phi dùng công phu thiền định thì mới có thể
khắc phục những nhiễu loạn nầy. Năm loại nhân tố nầy
là dục cầu, ý chí xấu, lười biếng và chậm lụt, không
trầm trước và lo lắng, hoài nghi. Đức Phật cũng đã chỉ
dạy 7 loại nhân tố của Khai ngộ để có thể bồi dưỡng
trí thức và đổng kiến của chúng ta, đó là : chánh tư duy,
truy cầu Phật Pháp, tinh thần, hỷ lạc, ninh tịnh, thiền
định và trấn định (bình tĩnh).
Sử dụng năng lực tri nhận của nhân loại để tịnh hoá
tri giác và tư khảo của chúng ta thì sẽ hiện ra một khuôn
thiết kế của cấu tưởng trị liệu tâm lý học. Vì thế,
Đức Phật dạy : Đối với tâm lý học thì sự tri nhận
trên phương diện thể hệ trị liệu cần phải đặt ở vị
trí trung tâm.
ĐỘNG
CƠ (MOTIVATION)
Động cơ là một nguồn năng lực (source of energy) có trong
cơ thể, nguồn năng lực nầy có thể sanh ra hành động, khiến
nó đạt thành một loại khuynh hướng của mục tiêu nào đó.
Động cơ có thể chia thành hai phần đó là sinh lý và tâm
lý. Trên phương diện sinh lý thì nó giống như những động
cơ thực sắc và tử vong v.v… Trên phương diện tâm lý thì
nó như là một giá trị quan thuộc về tín ngưỡng (tôn giáo)
v.v…
Động cơ của tâm lý học Phật giáo chủ yếu là sự phân
tích những phương diện dẫn đến sự bất an, khẩn trương,
căng thẳng, nóng nảy, lo lắng, bồn chồn và cảm thọ đau
khổ v.v… của nhân loại nhằm đề ra pháp môn bất nhị
để hướng dẫn muôn loài đạt đến con đường hạnh phúc,
vì thế, động cơ nghiên cứu tâm lý học Phật giáo ba hàm
sắc thái trị liệu. Đứng trên quan niệm của tây phương
ngày nay để nhận xét thì chữ trị liệu nầy thông thường
được dùng để chỉ cho sự chữa trị những người có tật
bệnh tâm lý; Nhưng nếu lấy tâm lý học Phật giáo để nói,
thì nó được dùng để chỉ cho sự giải trừ tất cả sự
xung đột trên mặt tâm lý và sự bất an của nội tại. Kinh
điển Phật giáo đã đề cập rất nhiều đến phương diện
động cơ của tâm lý học.
TÌNH
TỰ (EMOTION)
Ý của tình tự tức là sự kích động (Arousal), cảm giác
(feelings) hoặc trạng thái tình cảm (affective states) mà cũng
chính là do sự chuyển biến của phương diện sinh lý nên
sanh ra phản ứng hành vi. Tình tự quen thuộc nhất là những
tình tự yêu, hận, bi thương, và sung sướng, khoái lạc. Đứng
trên mặt nội tỉnh để nói thì tình tự là trạng thái ý
thức chủ quan; khác quan mà nói, tình tự là một loại biểu
hiện hành vi. Trên phương diện tâm lý học để nói thì tình
tự là một loại trạng thái không thăng bằng và kích động,
nhưng không thể xem tình tự hoàn toàn như là vô lý tánh.
Chúng ta có thể tìm được sự kiện toàn của tình tự luân
lý như thương ái, tôn kính, chánh nghĩa cảm, quan tâm chân
lý v.v… là những tình tự tự ngã siêu việt (self-transcending
emotion), những tình tự nầy đều thuộc những tình tự tốt.
Trong giáo lý Phật giáo có một số tình tự có thể được
gọi là tinh thần cao quí, đồng tình và từ bi, nói một cách
chính xác hơn, không tham lam, không sân hận, không si mê của
tâm lý học Phật giáo được cho là nguồn tình tự kiện
toàn, tích cực và sáng tạo tánh. Dưới đây chúng ta phân
chia một số tình tự đặc biệt như sau :
Sợ
sệt (Fear)
Sợ sệt thông thường là chỉ cho sự phản ứng đã gây ra
đối với sự vật có mục đích nguy hiểm nào đó.
Dục cầu quá mạnh và sự chấp trước đều có thể tạo
nên sự sợ sệt. Bởi vì khi chúng ta quyến luyến không thể
xả bỏ đối với một số vật quí báu và có giá trị thì
chúng ta sẽ sản sanh một loại tác dụng cố chấp, lo lắng
và sợ sệt bị mất nó ví như mình yêu thương quá đỗi
một người nào đó đến khi người ấy bị lâm bệnh trầm
trọng thì tâm lý thương yêu sẽ chuyển thành sợ sệt lo
âu. Cũng giống như thế, chấp trước vào tự ngã, danh vọng,
quyền lực v. v… đều sẽ sinh ra tâm trạng sợ sệt hay tâm
lý khủng hoảng.
Mặc cảm tội ác (sense of guilt), khiển trách tự ngã (self-reproach),
sợ sệt bị trừng phạt (fear of punishment) và sợ hãi bị
đọa xuống địa ngục (fear of lower world) v. v… kinh nghiệm
tôn giáo đều sanh ra sợ sệt.
Sợ sệt có lúc cùng với ghét hận (thậm chí tự hận) và
tình tự bất mãn kết hợp và những lúc như thế thì liền
sanh ra “cảm giác phạm tội trên bệnh lý” (pathological guilt)
hoặc cảm thức bất an gọi là “ray rứt lương tâm” (uneasiness
of conscience).
Đức Phật dạy rằng những ai chưa giác tỉnh thì đều có
tự ngã trung tâm chủ nghĩa, dục vọng, địch ý và khuynh
hướng chấp trước. Đức Phật chủ trương muốn giải trừ
tận gốc những đặc chất này thì không cần thiết phải
khiển trách tội lỗi quá khứ, bởi vì nếu tự mình khiển
trách thì đối với sự phát triển tâm lý có rất nhiều
phương hại. Đức Phật cũng đã đề xướng là cần tịnh
hóa tình tự để đạt được tâm lý thăng bằng và lành
mạnh.
Bất
an (Anxiety)
Bất an là một loại lấy vật không có mục đích làm đối
tượng sợ sệt. Đức Phật dạy rằng nguồn cội sâu xa của
loại sợ sệt nầy đã được tạo ra bởi sự chấp trước
tự ngã. Chuyên gia Phật học Edward Conge gọi nó là “sự
ẩn tàng của thống khổ” (concealed suffering). Đức Phật
đã khám phá ra loại “con người bất an” nầy (anxious man)
lý do là bởi họ không có năng lực để nắm vững chân lý
cơ bản “Vô ngã” (Egolessness), cho nên mới dẫn đến sự
bất an; chỉ cần liễu giải được “Vô ngã” thì có thể
nắm vững được chìa khóa của sự bất an đối với đủ
loại hình thức.
Khống
chế và biểu hiện của sự sợ sệt
Huấn luyện tình tự có thể trình bày trên ba phương diện
: (1) Phát triển tập quán sát tự ngã đối với trạng thái
tình tự của chính mình; (2) Khi tình tự hưng khởi phải tìm
cách khống chế sự xuất hiện của tình tự; (3) Phát triển
một quan niệm giá trị mới làm cho sự sợ sệt vốn có hoặc
phản ứng của sự phẫn nộ không thể tái phát. Như thế,
trải qua sự hiểu biết về tự ngã, không ngừng phân tích
tự ngã và phản cầu những công phu của chính mình, cuối
cùng có thể đạt đến hiệu quả đúng như sự dự kỳ (thời
kỳ dự trù).
Thù
hận
Thù hận cũng là một loại biê/U hiện của tình tự, có các
loại phương thức biểu đạt chẳng hạn như tư tưởng (như
là ý nghĩ mong cho những người mà mình không ưa thích chết
đi), lời lẽ thô lỗ và những hành vi công kích v. v… Trên
sự thật, đức Phật đã luôn nhấn mạnh và phản đối sự
thù hận, thậm chí bao gồm cả những “cuộc chiến chánh
nghĩa” (just war) hoặc những “phẫn nộ chánh đáng” (righteous
indignation) đối với cá nhân (và đối với xã hội). Đức
Phật đã đề xuất sự chuyển biến nội tại (cầu phát
triển tâm linh nội tại) có thể thuần phục tâm thù hận
để tiến thêm bước nữa, đó là, dùng sự hiểu biết, nội
tỉnh và tư tưởng để chế ngự tình tự thù hận, như vậy
thì có thể tịnh hóa tự ngã mà đồng thời cũng có thể
làm cho xã hội phát triển một cách hài hòa.
Đau
khổ và bi thương
Trên cơ bản, đau khổ và bi thương là tình tự phản ứng
đối với “biệt ly”, ngoài ra như “mất mát” cũng sẽ
đưa đến đau khổ và bi thương. Bởi vì đối với người
chí thân, chúng ta đều xem họ như là một bộ phận của
chính mình, một khi họ mất đi, ta sẽ sanh ra tình tự đau
khổ và bi thương, Sigmund Freud gọi nó là “Bi thương và cưu
mang” (lo lắng, ray rứt, thắc mắc trong lòng) “Mourning an
Melancholoy”. Với Phật giáo thì đối với sự kiện của
mục đích nào đó làm sản sanh sự tập trung tinh thần (cathexis)
của tình tự mãnh liệt cũng chính là lúc chấp trước và,
một khi mất đi đối tượng mục tiêu thì sẽ hiện ra trạng
thái trống vắng hoang vu, khổn nhiễm tâm lý, tình tự tội
ác cảm, bơ phờ, tự thương hại và tô một lớp âm ảnh
màu xám lên các loại tình cảm bi thương.
Đối với bi kích bi thương và đau khổ nầy, “Tứ Diệu
đế” và “Bát Chánh đạo” trong trong giáo nghĩa Phật giáo
có khả năng làm phương thuốc trị liệu hữu hiệu. Thái
độ của Phật giáo là yêu cầu nhân loại hiểu rõ về chân
thật cảm của sự tướng để thay thế cho tình tự bi thống
quá độ.
Ái
và từ bi
Ái (Love), trên danh tự bằng Anh ngữ đã không mấy rõ ràng
và rất mơ hồ, trong văn tự Hy Lạp nếu dùng tiếp đầu
ngữ “eros” là biểu thị cho ái dục trên cảm quan, và nếu
dùng “agape” thì lại biểu thị về ái đối với phương
diện tâm linh.
Sự truy cầu của Phật giáo là một loại giá cấu luân lý
(ethical framework) và sự hy cầu của lãnh vực tinh thần, vì
thế trên phương diện luân lý Phật giáo đối với quan hệ
nhân loại thì không phù hợp với ái dục của đạo đức,
không phù hợp với dục cầu tiết chế và trụy lạc của
đạo đức cảm, vì những thứ ấy đều bị cho là tà ác,
bởi lẽ những thứ nầy đủ để gây nên những đọa lạc
của xã hội, nhưng, chỉ có sự hiếu thuận và kiền thành
đối với tôn giáo mới khả dĩ hình thành một cách cơ bản
một xã hội lành mạnh. Người xuất gia đối với vấn đề
ái dục cần phải dẹp trừ, vì lẽ ái dục có thể đưa
dẫn đến sự bất an và đau khổ đồng thời làm phương
hại đến tinh thần hy cầu. Cái mà Phật giáo muốn truy cầu
đó là một loại tình tự của sáng tạo tánh và tình tự
của phản ứng đồng tình tự nhiên để quan tâm đến chúng
sanh.
TÂM
LÝ HỌC KHÁT CẦU (PSYCHOLOGY OF CRAVING)
Đối với phương diện tâm lý học tình tự thì gồm có 3
loại hình thức khát cầu, đó là khát cầu thỏa mãn cảm
quan, khát cầu bảo tồn tự ngã (self-preservation) và khát cầu
hủy diệt và công kích. Ba loại khát cầu nầy đối với
bản năng xung động (libido), tự ngã bản năng (ego instinct),
và bản năng tử vong của Sigmund Freud đã có sự thống nhất.
Xin được chia thành như sau :
Dục
tánh (Sexuality)
Thường, Phật giáo chỉ dùng cảm quan (như mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân) và bao quát hơn so với tâm lý học Tây phương
(Phật giáo đề cập đến ngũ quan, nhưng tâm lý học Tây
phương thì chỉ thiên nặng về mặt dục tánh, nhất là Phiến
tánh luận của Sigmund Freud).
Đối với vấn đề truy cầu nguyên tắc khoái lạc (hedonism)
của cảm quan, Phật giáo đã đưa ra hai phương pháp nhận
thức : (1) Truy cầu cảm quan khoái lạc sẽ mang lại sự bất
hạnh; (2) Thủ đoạn truy cầu cảm quan khoái lạc (hợp pháp
và không hợp pháp), nếu hợp pháp thì cần phải suy tính
đến việc không thể thái quá, đồng thời không phá hoại
nguyên tắc khoái lạc làm điều kiện.
Phật giáo cũng cho rằng sự truy cầu khoái lạc của cảm
quan chỉ ở bên dưới của sự tuần hoàn ác tánh của “nhu
yếu, khẩn trương và thỏa mãn” (want tension and satisfaction)
xuyên qua sự truy cầu của đau khổ mà thôi; vì thế, Phật
giáo chủ trương dùng bát chánh đạo để chế ngự sự truy
cầu của cảm quan khoái lạc.
Bảo
tồn sự tự ngã
Đây là một loại thành kiến sai lầm của sự ngã trung tâm
chủ nghĩa, hoàn toàn đặt nơi giả định sai lầm (tín ngưỡng)
tức tự ngã thực tại vĩnh tồn (ego-entity). Nhân cách kết
cấu của nó là nhắm vào ba loại : Khát cầu, vọng tưởng
và giả tưởng như sau :
Khát cầu – Đây là của ta.
Vọng tưởng – Đây là ta.
Giả tưởng – Đây chính là tự ngã.
Nhưng, Phật giáo cũng biểu thị một cách rõ ràng, nhu yếu
của cơ bản duy sanh như không khí trong lành, nước, thức
ăn, ngủ nghĩ v. v… chẳng hạn, đều được xem như là một
loại biểu hiện của sự khát cầu.
Tự
ngã hủy diệt và công kích
Đối với phương pháp quan sát về tự ngã hủy diệt và công
kích, Sigmund Freud cho rằng nó là một loại bản năng xung động;
nhưng, Đức Phật thì lại dạy rằng nó là một loại hành
vi phản ứng tánh. Khi một loại tình tự thù hận (đối với
người hoặc vật) ở thế giới ngoại tại không được phát
tiết thì nó lại hướng ngược về mình, vì thế nên sản
sanh sự thọ hình tự ngã (khổ hình) và tự sát. Đức Phật
đã quở trách sự phát sanh của 3 loại hình thức khát cầu
trên đây và cho rằng vì do không hiểu rõ đạo lý khổ đau
của nhân sinh nên tạo thành; đồng thời, đối với vấn
đề thống khổ của nhân sinh vì thiếu công phu nội tỉnh
nên tùy tiện tòng phục vào sự mê hoặc tự ngã và, kết
quả là đưa dẫn đến những bi kịch.
TIỀM
Ý THỨC ĐỘNG CƠ (UNCONSCIOUS MOTIVATION)
Tiềm ý thức động cơ là nói về sự thúc đẩy khiến cho
con người tạo ra một thứ động tác nào đó nhưng lại không
giác sát được động cơ chân chính (real motive) sở tại.
Thông thường tiềm ý thức bị ký ức và tình tự áp bức,
nhưng có thể là từ trong giấc mộng, thất ngôn, ảo giác,
và trong những chứng trạng tâm lý thất thường để thuyết
minh sự tồn tại của động cơ tiềm ý thức.
Quan niệm về tiềm ý thức của tâm lý học Tây phương được
sáng tạo bởi Sigmund Freud, và người học trò của ông là
Carl Jung lại khai sáng ra thuyết “Tập thể tiềm ý thức”
(Collective unconsciousness), Carl Jung cho rằng tiềm ý thức có
cá thể. Tiềm ý thức (personal unconsciousness) tức là một
số tâm lý cá thể nào đó bị áp chế hoặc bị sự bỏ
quên; ngoài ra, còn có loại khác tức là tập thể tiềm ý
thức, đó là chỉ cho tâm lý con người ngay khi vừa chào đời
vốn đã sẳn có một loại trạng thái tâm lý phức tạp,
Carl Jung gọi đó là “nguyên hình” (archetypes), nó là quan
niệm văn hóa được truyền thừa từ đời này qua đời khác
bởi tổ tiên của chúng ta, những kinh nghiệm đều được
bảo lưu trong tiềm ý thức cá thể của chúng ta; một cách
rõ ràng hơn, theo sự giải thích của Carl Jung thì nhân cách
được cấu thành bởi 3 loại thành phần : Tự ngã, cá thể
tiềm ý thức và tập thể tiềm ý thức. Tập thể tiềm ý
thức là nguyên hình của bề sâu. Căn cứ theo thuyết của
Carl Jung thì tập thể tiềm ý thức vốn có sẳn tố chất
di truyền, làm cho cá thể và người của đời trước trên
phương diện tri nhận về thế giới, có cách nhìn tương đối
giống nhau.
Như nhân loại ở vào thời kỳ rất sớm đã lo sợ sự hắc
ám, vì đen tối sẽ mang đến nguy hiểm; ngày nay, loại nguy
hiểm này mặc dù đã biến thành quá khứ, nhưng nhân loại
vẫn còn sợ hãi sự đen tối. Khái niệm tánh phổ biến hãi
sợ của tập thể tiềm ý thức hoặc ánh tượng được gọi
là nguyên hình. Nguyên hình là kinh nghiệm của tình tự đã
đến từ bộ óc của sự truyền thừa tiến hóa. Như nguyên
hình của người mẹ hiền từ xưa đến nay vẫn là biểu
thị cho sự ấm áp, bảo bọc, dưỡng dục, mà cũng còn là
sự tượng trưng cho ái mẫu; nguyên hình người cha là lực
lượng, quyền oai và tượng trưng cho quyền lực. Những nguyên
hình khác như ánh tượng nữ tính (anima), ánh tượng nam tính
(animas), tự ngã (self), anh hùng, thần, sanh, tử v. v… cũng
đều như thế cả. Thứ quan niệm nầy hơi giống với quan
niệm A Lại Da thức hoặc chủng tử thức của Phật giáo
(storehouse consciousness).
Dòng ý thức của Phật giáo (Stream of consciousness) cũng liên
quan với tiềm ý thức động cơ. Phật giáo dạy chúng ta rằng
nếu có khả năng tu tập kỹ thuật thiền định thì có thể
sử dụng lớp trong của tiềm ý thức đen tối để tạo ra
thành sự phát triển nhân cách một cách kiện toàn.