CHƯƠNG
I
ĐIỂM
ĐẶC SẮC CƠ BẢN
CỦA
TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO
LUÂN
LÝ HỌC VÀ TÂM LÝ HỌC
Một cách rõ ràng, Phật giáo đã kết hợp hành vi tâm lý
và luân lý để luận cập. Luân lý học Phật giáo đã không
chỉ giới ở quan niệm luân lý và phân tích lý luận, mà
xa hơn, còn chỉ dạy những phương thức sinh hoạt và chuẩn
tắc cho mọi hành vi. Luân lý học của Phật giáo đã dạy
con người không làm những điều ác, bồi dưỡng thiện tâm
và thanh tịnh tâm ý. Chỉ cần hành vi phù hợp với chuẩn
mực, thước đo quy phạm của văn hóa xã hội thì đó là
tâm lý lành mạnh.
LUÂN
LÝ HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN TÍNH
Đức Phật dạy rằng, sự hài hòa của thế giới nhân loại
được đặt trên nền tảng tâm lý. Vì vậy hành vi xã hội
phải được nối kết với tâm lý học của Phật giáo để
phân tích. Nếu vấn đề cá nhân đã được giải quyết thì
sự khẩn trương và xung đột của xã hội sẽ giảm thiểu.
Tạo ra những cảm tính như tham lam, kiêu mạn, sân hận v.v…
đều có thể ảnh hưởng đến sự quan hệ của nhân tế.
Đức Phật dạy : “Bảo hộ chính mình là bảo hộ người
khác; bảo hộ người khác cũng chính là bảo hộ tự thân.”
Đức Phật lại nhấn mạnh, bồi dưỡng tố chất tâm lý
đã được nhìn nhận là có giá trị văn hóa xã hội, như
tự tiết chế, tâm lý an bình thanh tịnh, tự răn buộc v.v..
Tóm lại, luân lý xã hội gồm có hai mặt tích cực và tiêu
cực : Đứng trên mặt tiêu cực để nói thì sự tiết chế
trên phương tiện nhân cách và thực tiễn luân lý chuẩn tắc
sẽ có thể làm giảm thiểu sự xung đột của xã hội; đứng
trên mặt tích cực để luận cập thì, bồi dưỡng, phát
triển nhân cách lành mạnh, có thể kiến lập được một
xã hội lương thiện. Đức Phật ví dụ nhân tính như một
mỏ vàng, có những lúc bề ngoài tuy bị vô minh làm mê hoặc,
nhưng sự huấn luyện của nội tại khả dĩ chuyển hoá và
biến nó thành lương thiện.
LÝ
LUẬN CỦA TRI THỨC
Ý nghĩa của tri thức, nếu nói trên một nghĩa rộng thì gồm
có hai loại, đó là lý tính và kinh nghiệm. Kinh nghiệm có
thể được chia thành kinh nghiệm cảm quan (sense experience)
và kinh nghiệm trực quan (intutive experience). Thông thường thì
con người biết sử dụng cả kinh nghiệm lý tính lẫn cảm
quan; nhưng, chỉ có những người phát huy kỹ xảo trực quan
mới có thể đạt đến phương pháp sử dụng tri thức một
cách đầy đủ. Loại sử dụng phương pháp tri thức đầy
đủ nầy, đã chẳng phải là một loa/i thần bí; trong Phật
giáo, những ai có sự huấn luyện đặc biệt đều có thể
đạt đến mục đích nầy.
Những kẻ ở cõi thế tục đều ràng buộc kinh nghiệm trên
khái niệm của một loại kinh nghiệm nào đó, nhưng, Phật
giáo thì vượt qua phạm vi cục hạn nầy. Lý do là vì khi
chúng ta truy tầm tri thức thường bị chấp trước (craving),
và vô minh (ignorance) dụ phát, còn Phật giáo khi phân tích
về khái niệm đã không dừng lại ở ngôn ngữ hoặc trên
tầng thức của luận lý học mà tiến thêm một bước, Phật
giáo có thể tiềm nhận vào cảnh giới tâm lý chân thật.
Đối với phương diện nầy, Phật giáo có thể tầm cầu
được một loại mô thức mới của nhận thức luận (a new
model of epistemology).
LÝ
LUẬN THỰC TẠI (THE THEORY OF REALITY)
Khi thảo luận đến vấn đề con người và vũ trụ. Phật
giáo cho rằng hành động của con người là do ý chí tự do
của chúng ta đối với sự phải trái và không bị quyết
định bởi bất cứ hình thức nào khác; Khi Đức Phật biện
luận với sáu nhà tư tưởng nổi tiếng đương thời, Ngài
đã nắm lấy chủ trương nầy.
CƠ
SỞ TRỊ LIỆU CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO
Mục đích chủ yếu của Tâm lý học Phật giáo là nhằm giải
đáp rốt ráo nguyên nhân khổ đau mà nhân loại phải tiếp
nhận, và, vấn đề là làm thế nào để giải thoát sự thống
khổ đó. Triết học và Tâm lý học của Phật giáo đều
có một thứ “Thủ hướng trị liệu” (Therapy oriented). Triết
học Phật giáo cung cấp một loại giải trừ khốn hoặc của
tri tánh; còn tâm lý học Phật giáo thì cung cấp phương pháp
trị liệu về sự nhiễu loạn của tình cảm.
Erich Fromm bảo rằng Sigmund Freud không thể trị liệu tật
bệnh tâm lý mà Sigmund Freud chỉ muốn giải trừ sự lo âu,
nóng nảy không hợp lý và tánh cưỡng bức của nhân loại
mà thôi. Phương thức trị liệu của những nhà tâm lý học
hiện nay đó là mô thức điều chỉnh vấn đề và bệnh lý
xã hội một cách rộng rãi hơn. Trên thực tế, những quốc
gia có nền công nghiệp hóa và đã đang phát triển cao độ
thì những tâm trạng như hoang vắng trống rỗng, lãnh cảm,
sự thiếu sót về mặt hướng đạo nhân sinh trong lòng nhân
loại, đều là khái niệm và mục tiêu của tâm lý trị liệu
ngày nay. Phật giáo thuyết minh rằng tâm cảnh khó khăn, xung
đột, bất mãn, nóng nảy, lo lắng, tham lam, ghét hận, mê
chấp v.v… của nhân sinh đều có thể cho là phù hợp với
thông bệnh của con người hiện đại; nhưng, Phật giáo còn
có khả năng chỉ dạy cho mọi người hướng đến con đường
lớn huy hoàng đại giải thoát, tối cực phúc lạc, đó là
cảnh giới Niết Bàn.
LÃNH
VỰC CHỦ YẾU CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO
Những lãnh vực nghiên cứu của Tâm lý học Tây phương đều
có chủ đề trung tâm của nó, như tâm lý học Hoàn Hình Phái
(Gestlat Psychology) chủ yếu là nghiên cứu về tri giác (Perception);
Phân tích tâm lý của Sigmund Freud thì nhắm vào sự nghiên
cứu động cơ và nhân cách. Và tâm lý học Hành vi phái (Behaviourism)
thì chủ yếu nghiên cứu về lý luận học tập (learning) v.v…
Nhưng, vấn đề quan thiết nhất của tâm lý học Phật giáo
đó là căn nguyên khổ đau của nhân loại và con đường giải
thoát; vì thế, động cơ thúc đẩy (motivation) và cảm xúc
(emotion) chính là giáo nghĩa chủ yếu; Tri nhận (cognition) là
điều kiện tiên quyết phải được nghiên cứu thêm; ngoài
ra, như tính tình, nhân cách (personality) kể cả sự kết cấu
trị liệu của tâm lý học Phật giáo; giảo nghiệm trên phương
diện tâm lý học, như phân tích tâm lý của Sigmund Freud, tâm
lý học nhân tính của Carl Rogers và A. Maslow có thể thấy
một cách thấu triệt về cách trị liệu của chủ nghĩa tồn
tại và cách trị liệu của chủ nghĩa hành vi đều là lãnh
vực chủ yếu của sự nghiên cứu tâm lý học Phật giáo.
NGUỒN
TƯ LIỆU TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO
Dùng văn Pàli để tập thành kinh điển Phật giáo nguyên thủy
(đều có dịch sang Anh Văn) làm gốc, kinh điển được chia
thành 3 loại : Một là lời dạy của đức Phật được gọi
là Kinh tạng (Sutta Pitaka), hai là những điều mục huấn luyện,
răn chế của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni gọi là Luật tạng (Vinaya
Pitaka) và ba là Luận tạng (abhidhamma pitaka), trong đó gồm
có phân tích tâm lý của tri thức. Nhưng, Kinh tạng lại có
thể được chia thành 5 loại :
Trường
Bộ
(The Digha Nikaya or Dialogues of the Buddha) :
Đối thoại trường thiên của đức Phật, bao gồm 34 kinh
điển trường thiên, trong đó có thể trùng kiến sự tích
bình sanh của đức Phật và thật sử về chánh trị, xã hội
và tôn giáo Ấn Độ đương thời. Trong đó Sigalovada Sutra
đã đưa ra những chỉ dẫn về quan điểm luân lý học Phật
giáo thực dụng.
Trung
Bộ A Hàm Kinh
(The Majjhina Nikaya of Middle Langth Saying)
Bao gồm 152 kinh. Giá trị của nó ở chỗ là có thể làm cho
chúng ta biết được tình hình tiến hóa ở thời kỳ bắt
đầu của Phật giáo và những giáo pháp của đức Phật cũng
như tình huống khái quát của những đệ tử thân cận và
những sinh hoạt của xã hội Ấn Độ đương thời. Kinh Trung
A Hàm cũng chứa đựng một số tài liệu về Luật tạng.
Tạp
Bộ A Hàm Kinh
(The Samyutta Nikaya of Kindred Sayings)
Gồm 2889 kinh do 56 chương tiết hợp thành, trong ấy có rất
nhiều chỗ lập lại, trùng phúc.
Tăng
Chi Bộ A Hàm Kinh
(The Anguttara Nikaya of Gradual Sayings)
Thâu tập 2308 kinh, chia thành 11 chương tiết và có thêm phần
thảo luận. Đặc điểm chủ yếu là sự đơn giản, thanh
khiết và gồm rất nhiều câu thức tỉnh nhân sinh.
Tiểu
Bộ A Hàm Kinh
(The Khuddaka Nikaya of Division of Small Works)
Là một loại đoản thiên danh ngôn sử dụng tán văn hoặc
hình thức thi ca viết nên, thường được dùng để kỳ đảo,
vịnh thi, ca xướng v.v… Đứng trên quan điểm văn học, Phật
giáo sử và Triết học để nhận xét thì Tiểu Bộ A Hàm
Kinh là một bộ kinh rất có giá trị.
Ngoài những sự kiện nầy, những tác phẩm nổi tiếng của
Đại Thừa kinh điển đã dùng Phạn văn, Hán văn, Nhựt văn
và Tạng văn để viết thành, cũng có thể tìm được những
tư liệu liên quan như Kinh Dược Sư (Bhaisajya – Guru – Sutra
of the Lapis Lazuli Radiance Tathagata). Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh
Duy Ma Cật v.v… Truyền thống của Đại Thừa Phật giáo đặc
biệt nhấn mạnh đến sự thành Phật hoặc những hành hoạt
của các bậc Bồ Tát. Còn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì được
miêu tả trong kinh điển Pàli, như là một bậc có khả năng
trị liệu vĩ đại, phương thức trị liệu của Ngài gồm
có hai loại : Trị liệu trên giáo nghĩa và tâm lý hoặc thần
tích.
Đem kinh Phật và một số nguyên lý của tâm lý học Tây phương
hiện đại, nhất là một số học lý của các loại học
phái y liệu để so sánh tìm hiểu trên tinh thần nghiên cứu
thì mới có thể nhận thức một cách sâu sắc về Tâm lý
học Phật giáo.
VẤN
ĐỀ THUỘC TRÊN PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Trên phương diện hiện tượng tâm lý, đức Phật chủ trương
do kinh nghiệm mà chứng thực lý luận. Nhưng kinh nghiệm đã
không chỉ là kinh nghiệm cảm quan mà còn là công phu của
trực quan (intuition) và nội tỉnh. Bởi lẽ đức Phật nhận
thức rằng truyền thống nhân tập, hoặc sử dụng luận lý
học và lý tánh đều có sự giới hạn của nó và, chỉ có
kinh nghiệm mới được sự bảo hiểm tốt nhất. Kinh nghiệm
của đức Phật ngoài việc căn cứ vào ngũ quan còn tái dụng
Nội Tỉnh Pháp (Introspection) như là một giá trị cao độ
để đạt được kỹ thuật tri thức và phát huy thấu thị
(quán sát một cách thấu triệt). Trực quan pháp là một loại
kỹ thuật “Phân tích tự ngã” (Self-analysis). Ở Tây Phương
người ta sử dụng trực quan pháp để nghiên cứu hiện tương
tâm lý và đã được cho là kỹ thuật không đáng được
tin cậy, bởi vì kinh nghiệm của riêng mình không thể làm
cho người khác giác sát được. Nhưng, Phật giáo cho rằng
do công phu thiền định cao độ mà có thể đạt đến năng
lực vượt qua cảm quan, và chính vì thế mà nó là phương
thức khảo nghiệm khách quan. Nếu có thể đạt đến kỹ
thuật thiền định một cách nhất định thì không bị vô
minh làm trở ngại và do vậy mà tâm lý có khả năng đạt
đến giai đoạn của sự an bình và thanh tịnh.
KHÁI
NIỆM VỀ TÂM (MIND)
Đức Phật phủ định bất cứ thực thể nào có tánh vĩnh
cửu tức Tâm hoặc Ý Thức (Mind or Consciousness). Phật dạy
: cái được gọi là tâm là một loại phức tạp thể của
nhân thể (a psycho-physical complex of nama-rupa), nama là chỉ cho
4 loại quần thể phi vật chất tức là cảm giác, ấn tượng
của cảm giác (tưởng tượng, quan niệm, khái niệm), ý chí
hoạt động (conative activity) và ý thức; rupa là nói về 4
nguyên tố lớn, tức là khuếch đại (extention), ngưng tụ
lực (cohesion), nhiệt (heat) và hình trạng vật chất (materialshape)
có được từ những nguyên tố nầy. Vì vậy, có thể nói,
nó là một phúc hạp thể được tổ thành bởi những thành
phần tâm lý và vật chất và có tính chất tâm thể (hoặc
thể tâm) nương tựa lẫn nhau. Muốn liễu giải một cách
rốt ráo về hiện tượng tâm lý thì cần phải xuyên qua luật
nhân quả, bởi vì chúng cùng làm nhân và quả cho nhau.
Nhân duyên giả hợp là sự biểu thị của điều kiện hỗ
vi của tâm lý và vật chất. Giáo nghĩa vô ngã (egolessness)
cũng còn chỉ dạy rằng cả nội lẫn ngoại đều không có
cái gọi là thực thể tồn tại. Vì thế, hai giáo nghĩa nhân
duyên giả hợp và vô ngã là tâm lý học Phật giáo giải
thích về tâm (có thể dùng phương pháp tổng hợp và phương
pháp phân tích để phân biệt giải thích hai loại hiện tượng
nầy). Căn cứ theo tâm lý học Phật giáo, chúng ta có thể
bảo rằng Tâm là một thể loại liên tục động thái (dynamic
continuum), có thể khuếch đại đến khởi nguyên và khó mà
tính đếm được, vả lại, nó còn có thể phát triển bên
ngoài của sự kết liễu của thọ mạng.
Loại thuyết pháp nầy hiện vẫn chưa được sự thừa nhận
của tâm lý học Tây Phương. Nhưng, “Tính chất di truyền
nguyên thủy của người” (Archaic heritage of mind) của Sigmund
Freud và quan niệm về “Tập thể vô ý thức” (Collective
Unconsciousness) của Carl Jung đều muốn thăm dò vào một lãnh
vực sâu xa khác, trong tương lai, rất có thể sự khám phá
mới sẽ hội tụ cùng chủ trương tâm lý học của Phật
giáo.