Phật
giáo đã tìm thấy ở các nước phương Tây một không gian
mới mẻ để phát triển, tuy nhiên, quá trình phát triển một
nền Phật giáo phương Tây không phải là không có chướng
ngại và ngộ nhận.
Vào
cuối thế kỷ XVII, nhà truyền giáo Alexandre de Rhôdes đã viết
như sau trong quyển sách của ông mang tên “Cathechimus in Octo
Dies Divisus” (Sách giảng dạy Giáo lý phân chia ra trong tám
ngày): “Khi người ta hạ một gốc cây đốn mạt và vô bổ,
những cành còn dính trên thân cây rồi cũng sẽ phải rơi
xuống; tương tự như thế, khi mà tên độc ác và lường
gạt Thích Ca (tức là Phật) bị đánh bại, những sóng chế
tín ngưỡng tôn thờ ảnh tượng xuất phát từ đó cũng sẽ
bị hủy diệt”.
Vào
năm 1949, một tác giả khác là ông Alfred Foucher viết một
quyển sách về cuộc đời của Phật và quyển sách này vẫn
còn giữ một phần giá trị nào đó; trong quyển sách ấy
tác giả đã viết thêm vào như sau: “Trừ một vài người
đặc biệt hiếu kỳ về những thử nghiệm có tính cách du
nhập ngoại lai, Phật giáo sẽ chỉ đón nhận được rất
ít tín đồ trên xứ sở chúng ta”.
Dần
dà Phật giáo được biết đến một cách cặn kẽ hơn và
đã làm điêu đứng căn bản của cả nền tư tưởng phương
Tây, và cũng từ đó đã sinh ra nhiều hiềm khích. Không những
Phật giáo trước đây đã từng bị đối xử như một tín
ngưỡng tôn thờ ảnh tượng, một thứ tôn giáo giả mạo,
mà hơn thế nữa, Phật giáo lại còn bị đánh giá như một
nền tư tưởng nguy hiểm, chủ trương một sự hủy diệt
thật khó hiểu.
Trong
khi Phật giáo bị xem như một chủ nghĩa hư vô, thì cùng lúc
Tây phương lại phải đương đầu với sự băng hoại của
cả một hệ thống và giá trị đã được thiết lập từ
nhiều thế kỷ. Quả thật rất ít người có thể tin được
rằng Phật giáo sau này sẽ hội nhập vào Tây phương. Nhưng
trên thực tế, ngày nay rất nhiều những khái niệm Phật
giáo đã đi thẳng vào ngôn ngữ hàng ngày của người dân,
chẳng hạn như những chữ, sự khẩn thiết về lòng từ bi
(I’exigence de compassion), hiện tượng vô thường (I’impermanence)
(chữ này là một đặc thù của Phật giáo), nghiệp (karma)
và khái niệm về sự tương liên của tất cả mọi hiện
tượng (la notion d’interdépendance).
Tính
cách toàn cầu
Trên
thực tế, từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là trên lãnh
thổ nước Pháp, Phật giáo đã bắt đầu được kính nể.
Tôn giáo này được nhìn nhận như một tôn giáo không thờ
trời, báo hiệu sự phát sinh của cả một kế hoạch có mục
đích thế tục hóa, tách nhà nước ra khỏi nhà thờ, giúp
chống lại sự đô hộ của Thiên Chúa giáo, ông Jules Ferry
đã từng kinh ngạc và thán phục tính cách “thế tục”
của Phật giáo và đã quyết định đưa Phật giáo vào các
giờ giảng dạy về luân lý trong các trường học của nước
Cộng hòa Pháp.
Nền
luân lý nghiêm khắc của Phật giáo, không có sự hiện diện
của trời như “một kẻ ban thưởng và báo thù” được
ông Jules Ferry xem như một bằng chứng cụ thể cho thấy rằng
không cần có sự hiện hữu của Trời, con người cũng có
thể trở thành lương thiện được. Đạo đức thế tục
là gì? ông Jules Ferry đã trả lời như sau: “Nền đạo đức
thế tục chính là thế này đây, chính nó dã được
chứng minh bằng sự kiện. Hai trăm triệu người đã noi theo
nền đạo đức đó từ hai mươi ba thế kỷ nay”.
Trong
lúc nước Đức còn câu nệ vào kinh sách Phệ-đà như là
một tài liệu chung cho Ấn và Đức quốc, thì nền Ấn học
của Pháp đã tìm thấy trong thông điệp của Phật niềm khát
vọng nhắm vào sự an vui của cả nhân loại một niềm khát
vọng rất gần gũi với sứ mạng của nước Pháp. Các nhà
nghệ sĩ như Van Gogh và Gauguin đã tìm thấy nơi Đức Thích
Ca Mâu Ni một bằng chứng về sự hoàn thiện tâm linh, chứng
tỏ tính cách toàn cầu của một thể dạng thiêng liêng mà
họ từng khát vọng.
Các
vị thầy đầu tiên
Khởi
sự từ những năm 1950, có các vị thầy thuộc Thiền phái
Zen, và tiếp theo đó vào những năm 1960 là các vị thầy Tây
Tạng, họ tiếp tục đến với phương Tây và đã truyền
lại một cách thật tài tình những gì họ được thụ hưởng
từ trước. Sự chung đụng ấy đã đánh dấu sự cáo chung
của những huyễn tưởng mang tính cách thuần túy văn chương
về Phật giáo, những huyễn tưởng đó đã chấm dứt, chúng
không còn là những ước mơ nữa mà đã trở thành một phương
pháp tu tập có thể thực hiện được, giúp cho mọi người
noi theo.
Tình
trạng Phật giáo ngày nay
Hiệp
hội Phật giáo Pháp và Bộ Nội vụ ước tính có khoảng
600.000 Phật tử trên đất Pháp: một nửa là những người
Á châu, nửa còn lại là những người Pháp chính thống. Đồng
thời, người ta cũng ước tính có năm triệu người Pháp
xem Phật giáo như một tôn giáo mà họ cảm thấy gần gũi
nhất. Vì những lý do lịch sử của nước Pháp, Phật giáo
đã thiết lập một cách vững chắc nhất trên phần đất
này với hàng trăm trung tâm thiền định. Ngôi chùa Tây Tạng
lớn nhất Âu châu tọa lạc ở vùng Bourgogne (Pháp quốc),
và đạo tràng chính của Thiên phái zen cũng tọa lạc ở vùng
Touraine (Pháp quốc).
Nhưng
thật ra thì bộ mặt bên ngoài này đã che giấu những đe
dọa trầm trọng. Thời kỳ tiên phong đã chấm dứt. Phật
giáo đã được biết đến một cách tường tận, nhưng sự
thành công của tôn giáo đó đã mở ra những hiểm nguy mới
mà chính các vị thầy cũng đã đưa ra những lời cảnh cáo.
Ba vấn đề sau đây cần phải được đặc biệt quan tâm.
Phật
giáo bị thu gọn như một bát thuốc sắc
Phật
giáo ngày càng được giảng dạy như một phương pháp trị
liệu cầu kỳ và đã được khử trùng cẩn thận. Phật giáo
trở thành một bài diễn văn đầy thiện cảm nhưng vô trách
nhiệm. Loại Phật giáo theo kiểu “bát thuốc sắc” như
thế nhắm vào việc xoa dịu những kẻ đã gởi mình vào đó.
Nếu ý nghĩa tâm linh của Phật giáo chưa bị gạt bỏ một
cách đơn giản, thì vị trí của nó cũng thụt hẳn vào bối
cảnh phía sau. Một số các vị giảng sư đã trình bày Phật
giáo như một đường hướng chỉ đạo cho sự sống, một
phương thức hữu hiệu giúp ích trong công việc làm ăn, giúp
đời sống tình dục nẩy nở toàn vẹn hơn, giúp có một
tài khoản ngân hàng đầy ắp hơn.
Trong
khi ấy, lời giảng huấn của Đức Phật lại nhấn mạnh
về sự thật của khổ đau. Phủ nhận sự thật đó, hoặc
tìm cách thương lượng với khổ đau sẽ không còn đúng chút
nào với những lời giáo huấn của Đức Phật.
Sự
vinh quang của Phật giáo và công việc kinh doanh
Khi
đưa Phật giáo vào Tây phương, các vị thấy đã cảnh giác
cho biết tệ trạng băng hoại của Phật giáo ngay trên xứ
sở của họ và cho thấy cần thiết phải có một cuộc cách
mạng, dù rằng cách mạng trong mục đích bảo tồn lấy truyền
thống mà họ đã được thừa hưởng. Tuy nhiên ngày nay, trong
rất nhiều học phái, người ta thấy khuynh hướng thụt lùi
lại để trở thành một thứ tín ngưỡng mang nặng giáo điều
và đậm màu tăng lữ. Cái cảm tính trực thuộc vào thành
phần một Tăng đoàn lại lấn lướt và trở nên quan trọng
hơn là lòng quyết tâm tu tập một cách sáng suốt.
Tiếc
thay, chỉ có quyết tâm tu tập một cách sáng suốt mới có
đủ khả năng lột được mặt nạ và cả những hành vi đạo
đức giả của những con người như chúng ta. Khái niệm về
các vị đạo sư và các vị thầy đã tạo ra những cung cách
xử sự ngây thơ quá độ, xa lìa với những truyền thống
từ nghìn xưa. Phật giáo đã trở thành một sản phẩm thương
mại cần phải mở rộng thêm thị trường.
Một
Đông phương lý tưởng hóa
Kết
quả là người ta đang chứng kiến hiện tượng một Đông
phương được lý tưởng hóa, đưa đến sự lầm lẫn giữa
đạo pháp của Đức Phật và những phong tục của các dân
tộc Á châu. Cũng như tất cả các tôn giáo khác, và ngược
lại với những ảo giác đang lan truyền ngày nay, Phật giáo
đã từng bị lợi dụng trong những mục đích chính trị,
kể cả những tội ác. Nhiều thể chế Phật giáo đã tự
đánh lạc hướng, trở thành những ý thức hệ hiếu chiến,
chẳng hạn như việc bào chữa cho cuộc “thánh chiến tạo
dựng một trật tự mới cho miền Đông Á châu” trong
kỳ Đệ nhị Thế chiến vừa qua tại Nhật Bản.
Thiền
sư Kodo Sawaki, thầy của Thiền sư Deshimaru đã từng giải
thích như sau: “Trong sự sinh hoạt của phần lớn các tập
thể tăng lữ, người ta an phận ngồi đọc hoặc tụng kinh
một cách thật ngu xuẩn, đắm chìm trong trạng thái đờ đẫn
và lười biếng; các nhà sư thì tập trung tất cả sinh hoạt
và tâm trí vào một thực tại hời hợt (...). Các “vị
sư”ấy đã khinh thường sự tu tập, chẳng bao giờ chịu
thiền định và như thế họ sẽ chẳng bao giờ đạt được
sự chứng ngộ.
Ngoài
những công việc Phật sự thường nhật mà họ thực thi như
một cái máy, họ chỉ biết tán gẫu với nhau qua những mẩu
chuyện phù phiếm. Họ bị sa lầy trong thói quen thường ngày,
sống như những người say rượu và chết như những người
đang chìm đắm trong một giấc mơ. Tất cả những gì họ
đang đi tìm là một cuộc sống an bình và không lo nghĩ. Phải
chờ đến lúc nào đây dể cho họ mở mắt ra .
Nêu
lên những sự kiện trên đây quả thật là một việc quan
trọng giúp chúng ta tránh sự lầm lẫn không phạm vào sự
đồng hóa Phật giáo với một hình thức ưa chuộng những
du nhập ngoại lai, giúp cho những người Tây phương như chúng
ta nhận định một cách minh bạch và không chấp nhận một
hệ thống tăng lữ sai lầm.
Căn
bệnh khủng hoảng của tình trạng phát triển quá nhanh
Phật
giáo ngày nay đang phải đương đầu với căn bệnh khủng
hoảng vì tăng trưởng quá nhanh. Trong từng vùng địa lý du
nhập, Phật giáo đều dựa vào những tập quán địa phương,
và do đó cũng có lý khi phân biệt thành nhiều thứ Phật
giáo, như Phật giáo Nhật Bản, Phật giáo Tây Tạng hay Phật
giáo Thái Lan. Vì vậy, trong cái hữu lý đó, cũng thật là
hợp lý khi nhìn nhận sự phát sinh của một nền Phật giáo
“Tây phương”. Hình như yếu tố ấy cũng là một yếu tố
không thể thiếu sót giúp cho Phật giáo Tây phương trường
tồn.
Sự
khẩn thiết của lòng từ bi trong lòng Phật giáo không cho
phép Phật giáo tự thỏa mãn khi lặp đi lặp lại phần giáo
lý và bất chấp đến những biến đổi của thế giới ngày
nay, bất chấp những thiên tai vì khí hậu đổi thay, bất
chấp nhân loại đang bị mất gốc, bất chấp sự bành trướng
của chủ nghĩa hư vô, bất chấp sự khủng hoảng tâm thần,
căn bệnh của thời đại tân tiến. Phải chăng tất cả những
thứ đó đã tạo ra cái thực tại khổ đau mà tất cả chúng
ta đang phải đương đầu?
Hoàng
Phong (lược dịch và ghi chú)
Lời
của người dịch
Phật
giáo là một tôn giáo phi giáo điều, chỉ dựa vào chân lý,
lòng từ bi vô biên, kính trọng con người và tôn trọng mọi
hình thức của sự sống. Vì thế, qua lịch sử, Phật giáo
đã thích nghi với tất cả mọi xã hội, phong tục và văn
hóa. Phật giáo đã hội nhập với Lão giáo ở Trung Quốc
để trở thành Phật giáo Trung Quốc. Phật giáo cũng hòa lẫn
với hương vị của Trà đạo và tính khí của người Nhật
để trở thành Phật giáo Nhật Bản.
Tại
Việt Nam, phong tục thờ cúng ông bà và tôn thờ thần thánh
cũng hội nhập một cách hài hòa với Phật giáo. Pháp lý
Phật giáo bao gồm những khái niệm như Tứ diệu đế, Thập
nhị Nhân duyên, Ngũ uẩn, Vô thường, sự tương liên của
vạn vật (Duyên khởi). tính Không,... làm nòng cốt cho tất
cả mọi truyền thống và tất cả mọi học phái Phật giáo:
từ Nam tông đến Bắc tông, từ Phật giáo Tích Lan cho đến
Phật giáo Tây Tạng. Tất cả đều tôn trọng cốt lõi đó
của Phật giáo và phần thêm thắt là tùy vào phong tục, tập
quán, văn hóa và màu sắc địa phương.
Phật
giáo phương ấy cũng thế, không phải là một ngoại lệ.
Phật giáo du nhập vào phương Tây được thừa hưởng những
gia tài vô cùng quý báu: khoa học, triết học, kỹ thuật,
truyền thống dân chủ, tổ chức xã hội... Phật giáo phát
triển trên một nền móng xã hội phương Tây đang gánh chịu
những khủng hoảng gây ra bởi sự bất tương xứng giữa
vật chất và tâm linh: giữa sự phát triển cao độ về khoa
học, kỹ thuật, triết học, văn hóa và một truyền thống
tâm linh cứng nhắc, lỗi thời, mang nặng tính cách giáo điều.
Cái gia tài khoa học, triết học, kỹ thuật và văn hóa cao
độ của phương Tây đã góp phần không nhỏ trong việc xây
dựng một nền Phật giáo gọi là “Phật giáo phương Tây”.
Chẳng
những Phật giáo là một tôn giáo phi giáo điều mà còn là
một tôn giáo phi biên giới. Không giống như một số các
tôn giáo khác mang tính cách quốc gia, chẳng hạn như Ấn Độ
giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo.... Phật giáo đã hội nhập vào
các quốc gia phương Tây một cách khá tự nhiên. Vì thế người
dịch không hoàn toàn đồng ý với tác giả bài viết trên
đây khi ông cho rằng sự tương quan giữa Phật giáo và phương
Tây chưa được rõ rệt, tuy rằng phải công nhận có những
sự hiềm khích, mặc dù không đáng kể.
Người
dịch cũng không hoàn toàn đồng ý với cái nhìn quá nghiêm
khắc của tác giả về tình trạng của Phật giáo ở phương
Tây và cả ở Á châu. Bài viết của ông rất bộc trực,
thẳng thắn và uyên bác, biểu lộ một phần tính khí của
ông, đồng thời cũng bày tỏ những lo âu và hoài vọng của
ông mong muốn cho tinh túy giáo lý của Đức Phật được tôn
trọng, nguyên vẹn và rốt ráo, việc tu học phải nỗ lực,
chuyên cần và lương thiện.
Tuy
nhiên, con người thật là phức tạp, từ tính khí cho đến
trình độ hiểu biết là đa dạng và khác nhau. Vô minh dày
đặc và cùng khắp, nhưng giáo lý của Phật và lòng từ bi
của Ngài thì không phân biệt và loại bỏ bất cứ một chúng
sinh nào.
Chú
thích:
1.
Fabrice Midal: Tấn sĩ Triết học, giảng dạy về Phật giáo
tại các Đại học Paris. Ông là một cư sĩ khá trẻ, tu theo
Phật giáo Tây Tạng, ông cạo đầu và quy y khi còn đang là
sinh viên, ông viết khá nhiều sách về Phật giáo và thường
được phỏng vấn trên Đài Truyền hình Pháp. Ông cũng là
Chủ tịch một hiệp hội Phật giáo tại Pháp.
2.
Alexandre de Rhôdes (1591-1660): A-lịch-Sơn Đắc Lộ, còn gọi
là cha Đắc Lộ, là một nhà truyền giáo thuộc dòng Tên.
Ông đã từng bị các chúa nhà Nguyễn trục xuất ra khỏi
Việt Nam sáu lần trong vòng 20 năm, nhưng mỗi lần ông đều
lén lút tìm cách len lỏi trở lại để truyền giáo. Ông có
công chuyển cách viết tiếng Nôm sang mẫu tự La tinh và từ
đó đã khai sinh ra chữ Quốc ngữ. Ngày nay, một đường phố
và ít nhất có một trường học tại thành phố Hồ Chí Minh
mang tên ông, đồng thời chân dung của ông cũng được treo
tại Viện Ngôn ngữ học Việt Nam để tỏ lòng biết ơn ông.
3.
Alfred Foucher (1865- 1952): không phải là một tác giả vô danh,
ông đã hai lần làm Giám dốc Trường Viễn Đông Bác Cổ
(Ecole d’Extrême orient) vào những năm 1901, 1905 đến 1907,
Giám đốc Trường Ecole Pratique des Hautes Etudes (1974), Giáo sư
Trường Collège de France (1919). Giám đốc Trường Văn minh Ấn
Độ (1928-1938)... tất cả đều là những cơ quan nghiên cứu
và giáo dục uy tín và cao cấp của nước Pháp.
4.
Jule Ferry: (1832- 1893): là một luật gia, nhà báo và chính trị
gia, từng là dân biểu Quốc hội. Bộ trưởng và Chủ tịch
nhà nước (Tổng thống) ông đã đưa ra một số những đạo
luật tách rời nền giáo dục Pháp ra khỏi nhà thờ. ban hành
giáo dục cưỡng bách và miễn phí cho cấp tiểu học, v.v...
ông được người Pháp xem là cha đẻ của nền giáo dục
thế tục và cũng là một người tiên phong khai sáng nền Cộng
hòa Pháp. Ngày nay rất nhiều trường học và đường phố
của nhiều tỉnh thành lớn trên đất Pháp mang tên ông. Bài
viết trên đây là một bài viết cho độc giả Pháp nên tác
giả Fabrice Midal không nói rõ Jules Ferry là ai, vì các người
Pháp có ít nhiều hiểu biết về lịch sử đều biết đến
Jules Ferry.
5.
Hai trăm triệu người là có ý nói đến số Phật tử trên
toàn thế giới vào thế kỷ XIX, ngày nay con số này cao hơn
nhiều. Hai mươi ba thế kỷ thật ra cũng không chính xác lắm,
vì từ khi có Phật giáo đến thế kỷ XIX của Jules Ferry ít
nhất cũng phải hai mươi bốn thế kỷ.
6.
Kinh luân của đạo Bà La Môn.
7.
Hai họa sĩ trứ danh của thế kỷ XIX, các bức họa của họ
đã trở nên vô giá.
8.
Taisen Deshimaru (1914-1982): là một thiền sư người Nhật, thường
được xem như là “Bồ đề Đại ma” của Tây phương vì
chính ông đã đưa Thiền học zen (học phái Tào Động) vào
Pháp và Âu châu.
(Đây
là bài viết của ông Fabrice Midal đăng trong tạp chí Le Monde
des Religions, số ngoại lệ 5, phát hành tháng 6, 2007, đặc
diệt dành riêng cho chủ đề về Phật giáo. Đây là một
tạp chí thuộc tổ hợp báo chí Le Monde. một trong những cơ
quan thông tin lâu đời và uy tín của nước Pháp).
Fabrice
Midal
(Nguyệt
san Văn Hoá Phật Giáo)
11-30-2007
11:23:12