Phật
giáo được truyền vào Nhật Bản qua ngõ Bách Tế, tiểu quốc
trên bán đảo Triều Tiên. Theo sử thư Nihon Shoki (Nhật
Bản Thư Kỷ, 720), có lẽ vào giữa khoảng năm 538-552, vua
Bách Tế là Seimei-ô (Thánh Minh Vương) đã đem tượng Phật
Thích Ca và kinh Phật tặng thiên hoàng Kinmei (Khâm Minh, tại
vị khoảng từ 531-538 đến 571) và nhờ đó người Nhật biết
đến đạo Phật. Sau đó, trong triều đã bùng ra cuộc tranh
chấp giữa hai phái sùng Phật và bài Phật (chủ trương thờ
thần tức tôn giáo bản xứ). Phái thứ nhất thắng thế và
Phật giáo trở thành lá chủ bài chính trị. Việc xem Phật
Giáo như quốc giáo (đốc kính tam bảo = dốc lòng thờ ba
báu: Phật, Pháp, Tăng) trong Hiến Pháp 17 Điều tương truyền
là do thái tử Shôtoku soạn khoảng năm 604 là một bằng chứng
ảnh hưởng Phật Giáo đã đến rất sớm trong định chế
Nhật Bản. Và kể từ đó, Phật Giáo không ngừng thẩm thấu
vào mọi sinh hoạt của người Nhật và nếu dành nguyên một
chương sách của tập văn học sử chỉ này để bàn về màu
sắc của Phật Giáo trong văn học Nhật bản mà thôi thì cũng
chưa chắc đã đủ.
TIẾT
l : QUÁ TRÌNH PHẬT GIÁO TRUYỀN VÀO NHẬT BẢN:
Tư
tưởng Phật giáo kể từ thế kỷ thứ 9 đã đóng vai trò
quyết định trong việc đặt cơ sở cho mỹ học Nhật Bản
vốn rập theo khuôn mẫu nhà Đường cho đến lúc đó. Chúng
ta không thể bỏ qua và những nhân vật mà tư tưởng trở
thành mực thước cho thời buổi ấy. Trước hết phải kể
đến các tăng Saichô (Tối Trừng), Kuukai (Không Hải) và Kyôkai
(Cảnh Giới) thời Heian. Tăng Saichô và Kuukai đều là học
tăng từ nhà Đường trở về trong khi thân thế Kyôkai thì
không ai biết rõ .
A)
Tăng Saichô (Tối Trừng, 767-822) và phái Tendai
(Thiên Thai):
Tăng
Saichô, khai tổ phái Tendai
(Thiên Thai), là người
thời Heian, sau khi thụ giới (785), tu ở Hieizan (Tỉ Duệ Sơn)
gần Kyôto. Năm 804 (Diên Lịch thứ 23) sang Trung Quốc nhà Đường
tu học phái Tendai và năm sau trở về truyền giáo ở Nhật.
Trước tác có Hiển Giới Luận, Thủ Hộ Quốc Giới
Chương, Sơn Gia Học Sinh Thức.
Năm 866, được tặng thụy hiệu là Dengyô Taishi (Truyền Giáo
Đại Sư) và là người Nhật đầu tiên được danh hiệu đại
sư. Còn được gọi là Duệ Sơn Đại Sư, Căn Bản Đại Sư
hay Sơn Gia Đại Sư.
Phái
Tendai dựa lên Kinh Pháp Hoa (Pháp Hoa nhất thừa tư tưởng)
và dạy tu học bằng đường lối niệm Phật (nenbutsu),
có một lý thuyết nhu nhuyễn dễ được mọi người chấp
nhận (như xem các thần của Thần đạo là hoá thân của chư
Phật) nên có tầm hoạt động và ảnh hưởng rất lớn từ
chính trị, kinh tế đến quân sự. Về sau, các chi phái vào
đời Kamakura như Jôdo-shuu (Tịnh Độ Tông) của các tăng Genshin
(Nguyên Tín, 942-1017) và Hônen (Pháp Nhiên, 1133-1212), Nichiren-shuu
(Nhật Liên Tông) của tăng Nichiren (Nhật Liên, 1222-1282) đều
phát xuất từ đấy cả.
B) Tăng
Kuukai (Không Hải, 774-835) và phái Shingon (Chân Ngôn):
Tăng
Kuukai, thụy hiệu Hoằng Pháp Đại Sư (Kôbô daishi) người
đất Sanuki, trước đi học quốc tử giám để ra làm quan,
sau vào cửa Phật ở đảo Shikoku quê nhà. Năm 804 theo phái
bộ sang nhà Đường, trở thành đệ tử của hoà thượng
Huệ Quả, làm quen với giáo lý Mật Tông (Esoterism). Sau ông
về nước (806) trụ trì ở Tôji (Đông Tự) rồi Kongôbuji
(Kim Cương Phong Tự) trên ngọn Kôyasan (Cao Dã Sơn), gần kinh
đô. Lập nhiều viện nghiên cứu Mật Giáo Chân Ngôn trong
cung và cũng có ảnh hưởng đến triều chính. Ông là mẫu
người hoạt động : xây cất và kinh doanh chùa chiền, lập
đàn cầu đảo, làm thủy lợi, mở trường dạy học... Ông
còn viết chữ đẹp, làm thơ hay, viết nhiều sách lý luận.
Các tác phẩm chính có tập nghị luận về giá trị 3 tôn
giáo Nho, Thích, Lão nhan đề Sangôshiki (Tam giáo chỉ
qui, 797) viết lúc mới 24 tuổi, các tập nghiên cứu ngữ học
Trung Quốc như Shiseiron (Tứ Thanh Luận), tập thơ Hán
văn viết theo phong cách Lục Triều Shôryô-shuu (Tính
linh tập, 828) mà đệ tử là Shinzei (Chân Tế, 800-860) thu thập
lại, tập phê bình thơ Đường và Lục Triều Bunkyô hifuron
(Văn
kính bí phủ luận, 809-820) và tập lý luận tôn giáo
Juujuu
shinron (Thập trú tâm luận, 830)...
Kuukai
viết 10 quyển Juujuu shinron vào lúc cuối đời. Dù ra
đời chỉ có 300 năm sau khi Phật giáo truyền vào Nhật Bản,
tác phẩm nầy được đánh giá là rành mạch và sáng sủa.
Trong mười chương sách, ông trình bày luận điểm các tôn
giáo (Nho, Lão, các triết thuyết Ấn Độ) và các tông phái
Phật giáo như Tendai (Thiên Thai), Kegon (Hoa Nghiêm), Shingon (Chân
Ngôn)…. Dĩ nhiên ông vạch ra cái hay của phái mình nhưng
không bao giờ bài bác các lý thuyết khác kể cả giáo lý
Tendai.
Trong
Bunkyô
hifuron (Văn kính bí phủ luận) và Bunpitsu ganshin-shô
(Văn bút nhãn tâm sao, 820, rút gọn từ tác phẩm trước) ông
phân tích về thi ca một cách có hệ thống ( chia ra các mục
thanh vận, thể tài, đối ngẫu, văn ý, bệnh, đối thuộc)
mà ngay ở Trung Quốc cũng chưa thấy có tác phẩm có giá trị
tương đương. Ông chủ trương phải dùng một “ con dao ”
để cắt xén hết những chỗ rườm trùng lập hoặc quá trừu
tượng trong cách viết. Đời sau, các cây viết karon (ca
luận) tức lý luận về waka thường bắt chước lối
phê bình văn học của ông.
Tuy
tư tưởng của ông không thấy đâu nói đến ý định “
Nhật Bản hóa Phật giáo ” nhưng các nhà phê bình thường
nghĩ như thế. Chủ trương Phật giáo “ nhập thế ” hộ
quốc, tham dự triều chính và công việc xã hội như dạy
học, cầu mưa... là những hành động cụ thể đi trong chiều
hướng đó.
Về
mặt sáng tác thi ca, Không Hải có nhiều thơ chữ Hán. Ông
được Thiên hoàng thứ 52 Saga đặc biệt kính nễ và thường
xướng họa với nhau. Xin đơn cử một bài thơ của ông có
ghi lại trong Keikoku-shuu (Kinh quốc tập, 827) nhan đề
“Tại Đường quan Sưởng Pháp hòa thượng tiểu sơn” (Ngắm
hòn núi nhỏ trong vườn hòa thượng Sưởng Pháp bên nhà Đường)
làm trong thời du học ở Trường An:
Khan
trúc khan hoa bản quốc xuân,
Nhân
thanh điểu lộng Hán gia tân.
Kiến
quân đình tế tiểu sơn sắc,
Hoàn
thức quân tình bất nhiễm trần.
Hoa
kia trúc nọ, ngỡ quê nhà,
Chim
kêu người nói, biết xuân xa.
Nhìn
hòn núi nhỏ vườn sư cụ,
Mớirõ
lòng ông sạch bụi tà.
C) Dị
biệt giữa hai phái Shingon (Chân Ngôn) và Tendai (Thiên Thai):
Phái
Shingon không đi xa để vơ cả thần lẫn Phật vào chung
như Tendai nhưng siêu hình hơn, bí mật hơn, chủ trương có
thể tu thành Phật ngay trong đời nầy
nếu theo đúng 3 bí quyết họ đề ra. Tendai có bản bộ đóng
trên ngọn Hieizan trong khi Shingon trên Kôyasan nhưng cả hai đều
tham dự triều chính như là đại diện cho quốc giáo (như
thế, tư tưởng tôn giáo hộ quốc đã thành hình). Trong thời
gian đó, bên Trung Quốc, hoàng đế Vũ Tông nhà Đường lại
đàn áp Phật Giáo (845) mãnh liệt. Sự thể cuộc đàn áp
này còn được ghi lại trong nhật ký
của học tăng phái Tendai tên là Ennin (Viên Nhân, 794-864, còn
được gọi là Jikaku Taishi (Từ Giác Đại Sư, học trò Saichô).
Năm 894, Nhật Bản không gửi sứ bộ sang Đường nữa. Điều
này chứng tỏ có một sự khác nhau trong đường lối chính
trị giữa Nhật Bản và Trung Quốc và do đó, Nhật Bản độc
lập hơn trong lãnh vực văn hóa..
D) Tăng
Kyôkai (Cảnh Giới, ?- ? ) và Nihon Ryôi-ki (Nhật Bản
Linh Dị Ký):
Không
ai biết gì về thân thế Kyôkai (cũng có thể đọc là Keikai),
chỉ biết ông tu ở chùa Yakushiji (Dược Sư Tự) và đã soạn
ra Nihon ryôi-ki (Nhật Bản linh dị ký, 810-824) , một
tác phẩm quan trọng ra đời đầu thế kỷ thứ 9. Sách gồm
3 tập viết bằng chữ Hán theo lối biến thể để giúp người
Nhật cũng hiểu được. Sách thu thập 111 truyện quái dị
của Trung Quốc nói về nhân quả ứng báo. Theo như tựa sách,
những truyện này có một phần lấy từ Minh báo ký
“ Ghi chép việc ứng báo ở cõi u minh ” (tác phẩm đời
Đường, vào khoảng giữa thế kỷ thứ 7, do Đường Lâm soạn)
và Kim Cương Bát Nhã Kinh tập nghiệm ký “ Chuyện linh
ứng của kinh Kim Cương Bát Nhã ” (cũng do người đời Đường
tên Mạnh Hiến Trung soạn năm 718).Tuy nhiên phần lớn nội
dung của nó có lẽ là truyện mà chư tăng dùng khi thuyết
pháp cho quần chúng. Điển hình có truyện “ hối lộ quỉ
sứ đến bắt hồn bị bại lộ ” hay “ hai người đàn
bà mạnh bạo choảng nhau ” có thể chỉ là truyện dân gian
mà Kyôkai đem lồng khung trong luân lý nhà Phật. Có khi chính
Kyôkai cũng đã từng sử dụng đến nó trong công việc giảng
đạo của mình.Ta có thể hiểu là truyện tuy phản ánh chủ
trương của người soạn nhưng cũng phải hợp theo sở thích
và khẩu vị của người xem thì mới có hiệu quả thuyết
phục. Điều nầy cho ta thấy là, ở Nhật Bản, ngay đối
với một tác phẩm văn học thời trung cổ, vai trò của đại
chúng không phải là không đáng kể.
Truyện
thường dài từ một trăm chữ đến mươi trang. Đặc điểm
của nó là có cốt truyện hẳn hoi và lối miêu tả nhân vật
sống động với nhiều chi tiết. Ngay cả những truyện rút
ra từ Minh báo ký đều có những thêm thắt làm nó đặc
sắc hơn truyện gốc. Như thế, khuynh hướng đi vào chi tiết,
chuộng trang trí, một đặc điểm Nhật Bản, đã nhìn thấy
được qua Nihon ryôi-ki. Phong cách Kyôkai đi ngược lại
với tinh thần giản ước thấy trong cách thức làm việc của
Kuukai, cũng là một đặc điểm khác của thế kỷ thứ 9 ở
Nhật.
E) Genshin
(Nguyên Tín, 942-1017) và Ôjô Yôshuu (Vãng Sinh Yếu Tập) :
Genshin,
sinh ở đất Yamato gần kinh đô, vốn người thời Heian trung
kỳ, học tăng thuộc phái Tendai. Thường được gọi là (pháp
chủ) Eshin hay Eshin sôzu (Huệ Tâm tăng đô). Trước ông theo
học tăng Rôgen (Lương Nguyên, 912-985), sau về ẩn cư ở Yokawa.
Được biết nhiều về tài nghi luận. Chủ trì hội Nijuugo
Zammai (Nhị Thập Ngũ Tam Muội). Trước tác một số tác phẩm
cơ sở cho Jôdo-shuu (Tịnh Độ tông) như Ôjô Yôshuu
(Vãng sinh yếu tập), IchijôYôketsu (Nhất thừa yếu quyết).
Ông là người có ảnh hưởng quan trọng đến văn học (loạt
bài giảng ở Yokawa được xem như là những di tích về các
“ pháp ngữ ” hay hôgo đầu tiên) và chính trị thời
Heian.
Chùa
trên Hieizan, ngọn núi thiêng của Phật Giáo Nhật Bản
TIẾT
ll : ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO VỚI VĂN HỌC HEIA
A) Ảnh
hưởng trên thi ca :
Trong
thơ chữ Hán của Sugawara no Michizane chẳng hạn, ta cũng thấy
màu sắc Phật giáo. Sau đây là một bài ngũ ngôn trong Kanke
kôshuu (Quản gia hậu tập, 903) viết trên đường lưu đày
xuống miền Nam, nghe như một tiếng kêu tuyệt vọng, trong
đó, ông nhắc đến Phật Quan Âm cứu khổ cứu nạn:
Bệnh
truy suy lão đáo,
Sầu
sấn trích cư lai.
Thử
tặc đào vô xứ
Quan
Âm niệm nhất hồi.
(Ngẫu
tác , trong Kanke Kôshuu, bài 513)
(Bệnh
giục già nua đến,
Sầu
lưu đày tội thân.
Giặc
ấy làm sao trốn,
Quan
Âm niệm một lần)
“
Giặc ” là cái chết cận kề ông.
B)
Đối
với văn xuôi :
Ta
đã thấy Nihon ryôi-ki ảnh hưởng lên văn học đại
chúng vì các giai thoại răn đời giảng trong khi thuyết pháp
đã được in thành sách. Sau đó, ta còn thấy văn học “
răn đời ” có tính cách thế tục nữa. Tuy nhiên, màu sắc
của Phật Giáo tuy không nắm phần chủ đạo nhưng cũng đã
tiềm ẩn trong tùy bút của Sei Shônagon, Yoshishige Yatsutane ,
tiểu thuyết của Murasaki Shikibu... chứng tỏ giới quí tộc
cũng chấp nhận nó như một giải pháp cho cuộc sống.
Chẳng
hạn như trong Makura no sôshi (Chẩm thảo tử) “Sách
gối đầu”, bà Sei đã thấy ảnh hưởng của triết lý Jôdo
(Tịnh Độ) trong xã hội phụ nữ cung đình. Chẳng hạn bà
viết : “ Những ngôi chùa tôi thích là chùa Tsubosaka, Kasagi
và Horin ” (đoạn 208). “ Những quyển kinh tôi hay đọc
là Pháp Hoa và Phổ Hiền thập nguyện ” và 5 bộ khác
tuy không có mối liên hệ giữa tên chùa và tên các bộ kinh.
Khi bà kể đến “ Những cái xa lại ở gần ” có
nhắc đến “ cõi cực lạc Tây Phương ”, nơi tưởng
thì thật xa nhưng nếu niệm A Di Đà thì sẽ thấy gần. “
Tình
cảm nam nữ hiểu nhau ” cũng thế. Cùng lúc, bà liệt
kê “ xích mích giữa thân tộc gia đình ” như một
nguyên nhân có thể làm “ những cái ở gần lại thấy
xa ” (đoạn 166).
Nếu
niềm tin Phật giáo của bà Sei không sâu sắc lắm thì bên
cạnh, trong Shijibu nikki (Nhật ký của Shikibu), trước
sự ghen tuông về tài học của người chung quanh đối với
mình, bà Murasaki Shikibu cho mình “ đã làm điều gì không
phải trong kiếp trước ” và chỉ muốn bỏ “ đi tu ”.
Tượng
Murasaki Shikibu, tài nữ thời Heian, bên bờ sông Uji gần Kyôto.
Phật
giáo cũng là nguồn an ủi cho giới quí tộc Heian sa sút trong
đó có tác giả Chiteiki (Trì đình ký). Yoshishigeno Yatsutane
(Khánh Từ Bảo Dận (? – 997) tìm nguồn vui trong tiếng mõ
lời kinh. Ngoài ra, đối với một người như hoàng tử Kaneakira
(Kiêm Minh thân vương) là sự tự do trong cuộc sống thanh nhàn
và những buổi đàm đạo với các nhà sư.
Trong
tiểu thuyết, tư tưởng Phật giáo là nồng cốt của Truyện
Genji. Murasaki Shikibu đã coi những việc xảy ra ở đời
như cái nghiệp của kiếp trước (tư tưởng gô = nghiệp
hay karma và sukuse = túc thế).Những nhân vật của
bà như Murasaki no Ue, Fujitsubo đều muốn đi tu và trình bày
việc đi tu như một lối thoát và cũng là một phương pháp
dùng để “lý tưởng hóa” nhân vật. Bà còn vẽ ra một
hình ảnh lý tưởng nữa qua nhân vật cao tăng Yogawa (mà người
ta nghĩ rằng lấy mẫu từ tăng Genshin). Trong phần cuối Truyện
Genji, pháp chủ Genshin đã không ngần ngại hy sinh danh tiếng
đạo cao đức trọng để cứu một người con gái xấu số
là nàng Ukifune.
TIẾT
lll: PHẬT GIÁO KAMAKURA:
Sự
suy sụp của chính quyền quí tộc vừa làm bọn công khanh
sống bám vào chế độ mất chỗ đứng, và tạo nên một
lớp vũ sĩ địa chủ (zaichi ryôshu = tại địa lãnh chúa )
đã dành được quyền lực từ phía ngoài cung đình. Sự suy
sụp nầy đã gieo rắc tư tưởng mappô (mạt pháp) cho
rằng Phật giáo đang ở vào thời kỳ thứ ba sau thời shôhô
(chính pháp) và zôhô (tượng pháp). Con người mất lòng
tin muốn tìm một giải pháp mới để cứu giúp mình. Trước
mặt họ có hai thứ phải chọn một: một tân Phật giáo đại
chúng hứa hẹn một cõi cực lạc vĩnh sinh sau cái chết và
một Phật giáo Thiền Tông tiếp tục không nhìn nhận sự
hiện hữu của một cõi đời sau.
Tân
Phật giáo Kamakura không chấp nhận tinh thần “thử ngạn”
(bờ bên nầy) có tính cách công lợi ( đi tìm những lợi
ích) ngay trong đời nầy (giống như mục đích của bùa phép
Phật giáo Heian) nhưng cương quyết tách đời sau ra khỏi đời
nầy, nhấn mạnh vào tính cách siêu việt, “bỉ ngạn” (bờ
bên kia) của lý thuyết mình.
Phật
giáo Kamakura đã tràn ngập và trở thành ý thức hệ chủ
lưu ở Nhật suốt mấy trăm năm, điều mà Khổng giáo, Ki
Tô giáo, đạo Tin Lành, chủ nghĩa Marx không làm nổi. Có thể
so sánh vai trò Phật Giáo Kamakura với đạo Công giáo ở Âu
châu nếu ta xem Phật giáo Heian, đặc biệt phái Tendai (Thiên
Thai) như là Công giáo, Jôdo Shinshuu (Tịnh Độ chân tông) của
Shinran (Thân Loan, 1173-1262) phát xuất từ Hônen (Pháp Nhiên,
1133-1212) như đạo Tin Lành kiểu Luther và Hokkeshuu (Pháp Hoa
tông) của Nichiren (Nhật Liên, 1222-1262) như Tin Lành kiểu Calvin.
Sở dĩ Phật Giáo Kamakura có thanh thế vì nó không giới hạn
tôn giáo trong bối cảnh cung đình mà chiêu mộ tín hữu trong
mọi tầng lớp xã hội từ samurai cấp thấp cho đến
phú nông địa phương.
A)
Hônen (Pháp Nhiên, 1133-1212) và Nenbutsu (Niệm Phật) :
Sau
khi Ôjô yôshuu (Vãng sinh yếu tập) ra đời, lý
thuyết phái Jôdo (Tịnh Độ tông) được tóm tắt trong 3 điểm:
1-Xem
việc thác sinh vào cõi Tây Phương cực lạc làm mục đích.
2-Tin
tưởng vào giáo lý A Di Đà qua 3 bộ kinh của giáo phái là
Kammuryôjuu-kyô (Quán vô lượng thọ kinh) Muryôjuu-kyô (Vô lượng
thọ kinh) và Amida-kyô (A Di Đà kinh)
3-nhấn
mạnh sự niệm Phật (nenbutsu) như một trong những phương
tiện để được thác sinh vào cõi cực lạc
Lý
thuyết nầy được giới quí tộc tán thưởng vì họ quan
niệm trên cõi cực lạc, họ sẽ tiếp tục sống sung sướng,
trên trước như trong cõi đời nầy. Trước Hônen, niệm Phật
chỉ là một phương tiện tu hành, ngoài ra còn phải làm điều
thiện như cúng dường, xây chùa, dựng tháp...v.v... Hônen,
con nhà hào tộc địa phương, sau khi cha bị một kẻ cai quản
thái ấp giết chết, đã tìm thấy sự mâu thuẫn của chế
độ ritsuryô tức chế độ hành chánh đương thời
rập theo khuôn mẫu nhà Đường. Ông lên núi Hieizan tu theo
phái Jôdo, và đã tìm ra một giáo lý thích hợp cho tất cả
mọi người. Ông đặt trọng tâm vào kinh A Di Đà và xem việc
niệm Nam Mô A Di Đà Phật là cách tốt nhất để tu đạo,
chứ không cần phải làm gì khác. Ông cho rằng không thể
“tự lực” tu mà phải “nhìn về” (hồi hướng) và dựa
vào quyền lực của Phật A Di Đà nên cần kêu gọi Phật
giúp đỡ. Và chuyện “chuyên tu niệm Phật” là việc dễ
làm, người không có phương tiện cúng dường, bố thí, không
theo nghi thức chùa chiền… cũng làm được.Lý thuyết nầy
sau đó đã được Shinran hoàn thiện. Riêng Hônen đã viết
Senchaku
Hongan Nembutsu-shuu “Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật
tập) (1198) để làm sáng tỏ lập luận của mình.
B) Thiền
Tông vào đất Nhật :
Bên
cạnh Tân Phật Giáo, phải kể đến Thiền Tông mà ngày nay
tư tưởng của nó đã trở thành một yếu tố tiềm tàng
trong văn hóa Nhật Bản. Thiền Tông là một chi phái của Phật
Giáo chủ trương dùng phương pháp thiền định để trực
tiếp thu nhận nghĩa lý sâu sắc của nhà Phật. Có bốn nguyên
tắc chính :
-
giáo ngoại biệt truyền (dạy thêm riêng ngoài giáo lý)
-
bất lập văn tự (không để lại lời dạy bằng chữ viết)
-
trực chỉ nhân tâm (đi thẳng vào lòng người)
-
kiến tính thành Phật (giác ngộ thì thành đạo)
Vào
hậu bán thế kỷ thứ 6, Thiền được Đạt Ma Sư Tổ truyền
bá vào Trung Quốc. Đến đời tổ thứ 5 là Hoằng Nhẫn thì
đồ đệ chia làm 2 phái.Tổ thứ 6 Huệ Năng lập Nam Tông,
Thần Tú khai sáng Bắc Tông.Từ cửa đồ đệ của Huệ Năng
là Nam Nhạc phân ra thành hai chi Lâm Tế, Vi Ngưỡng, từ cửa
một đồ đệ khác là Thanh Nguyên lại xuất hiện 3 tôn phái
khác: Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. Cả năm phái gọi là
“ngũ gia”.Thêm vào đó, phái Lâm Tế lại đẻ ra hai phái
Dương Kỳ, Hoàng Long, kết cục có tất cả 6 nhánh.
Ở
Nhật, có tăng Eisai (Vinh Tây, 1141-1215) vào đất Tống năm
1168 (Nhân An thứ 3) về truyền phái Rinzai (Lâm Tế) , tăng
Dôgen (Đạo Nguyên, 1200-1253) cũng nhập Tống năm 1223 (Trinh
Ứng thứ 2) đem về tư tưởng phái Sôtô (Tào Động). Hai
danh tăng nhà Tống là Rankei Dôryuu (Lan Khê, Đạo Long, 1213-78)
và Mugaku Sogen (Vô Học Tổ Nguyên, 1226-86) thuộc phái Rinzai
cũng đến Nhật và làm thầy các quan Chấp quyền (Shikken,
một hình thức quan phụ chánh cho Shôgun) họ Hôjô (Bắc Điều)
như Tokiyori (Thì Lại) và Tokimune (Thì Tông). Sau đó mạc phủ
Ashikaga theo học thiền Rinzai, bảo trợ nhóm thiền tự Gozan
(Ngũ Sơn) và họ đã ảnh hưởng mạnh lên cả Kyôto lẫn
Kamakura. Năm 1654 (Thừa Ứng thứ 3), dưới thời Edo, còn có
tăng người Nguyên tên Ẩn Nguyên ở Hoàng Bích Sơn đến Nhật,
khai sáng Hoàng Bích Tông.
C) Thiền
và vũ sĩ thời Kamakura và thời Sengoku (Chiến Quốc):
Nhắc
qua về liên hệ giữa vũ sĩ Kamakura và Thiền, ta được biết
biết chức Shikken (Chấp quyền) Tokiyori (Thì Lại, 1227-1263)
thường mời các thiền sư Nam Tống và Nhật Bản đến Kamakura
hỏi đạo. Sau 21 năm chân chỉ, ông đã được hòa thượng
Gottan (Ngột Am,1197-1276) cho qui y. Hòa thượng húy là Phổ Ninh,
người nhà Tống, sống ở Nhật từ năm 1260 đến 1265, vốn
là tổ phái Ngột Am, tương truyền có đọc cho người học
trò đặc biệt của mình bài kệ như sau :
Ngã
vô Phật pháp nhất thì thuyết,
Tử
diệc vô tâm vô sở đắc.
Vô
thuyết vô đắc vô tâm trung,
Thích
Ca thân kiến Nhiên Đăng Phật.
Phật
pháp ta chưa từng phát biểu,
Người
lại vô tâm, không thấu hiểu.
Không
nói, không hiểu, lòng trống không,
Mới
gặp Thích Ca, Nhiên Đăng thật.
Tokiyori
giữ chính quyền một cách chu đáo, năm 1263, mới có 37 tuổi
thì hết số. Biết mình sắp chết, bèn mặc áo tăng, ngồi
tọa thiền và đọc bài thơ từ giã cuộc đời:
Nghiệp
kính cao huyền,
Tam
thập thất niên.
Nhất
chùy đả toái,
Đại
đạo đản nhiên.
Băm
bảy năm trời,
Kính
nghiệp cao vời,
Một
chày đập nát,
Đường
lớn nay khơi.
Con
của Tokiyori là Tokimune (Thì Tông, 1251-1284) lên chấp chính
năm 1268 lúc mới 18 tuổi. Ông này là người đã đánh bại
giặc Nguyên Mông.
Cũng
như họ, hai danh tướng thời Chiến Quốc Nhật Bản là Takeda
Shingen (Vũ Điền, Tín Huyền, 1521-1573) và Uesugi Kenshin (Thượng
Sam, Khiêm Tín, 1530-1578) đều là những vũ sĩ thấm nhuần
văn hóa thiền tông. Kenshin có lần đem muối giúp dân của
Shingen, địch thủ một mất một còn của mình. Thật ra tên
tục của hai ông là Takeda Harunobu (Vũ Điền, Tình Tín) và
Uesugi Terutora (Thượng Sam, Huy Hổ) nhưng ngày nay chỉ được
người đời nhớ tới bằng pháp danh Shingen (Tín Huyền) và
Kenshin ( Khiêm Tín).
Thơ
thiền của Shingen có những câu như trong bài kệ lúc lâm chung:
Đại
để hoàn tha cơ cốt hảo,
Bất
đồ hồng phấn tự phong lưu.
Xương
thịt sinh ra, về chỗ cũ,
Chẳng
tô hồng phấn cũng xinh tươi.
Bài
thơ “ từ thế ” của Kenshin:
Nhất
kỳ vinh hoa nhất bôi tửu,
Tứ
thập cửu niên nhất thụy mộng.
Sinh
bất tri tử diệc bất tri,
Tuế
nguyệt chỉ thị như mộng trung.
Một
kiếp vinh hoa một chén say,
Bốn
mươi chín tuổi mộng hồ đầy.
Sống
không biết, chết làm sao biết,
Năm
tháng hơn chi giấc bướm dài.
D) Thiền
thẩm thấu vào văn hóa Nhật Bản:
Thiền
đã ảnh hưởng đến mọi hình thức văn hóa Nhật Bản từ
hội họa, kiến trúc, viên nghệ, âm nhạc, diễn kịch. Dưới
thời Muromachi, nghệ thuật uống trà, cắm hoa, cơm chay…đã
ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày của người Nhật.
Đó là “văn hóa thiền lâm” mà “văn học thiền lâm”
là một bộ phận của nó. Chúng ta biết học giả Suzuki Daisetsu
(Linh Mộc, Đại Chuyết, 1870-1966) là người đã dày công nghiên
cứu về ảnh hưởng của Thiền trong sinh hoạt tinh thần và
tu dưỡng của người Nhật. Hai người ngoại quốc (mà Suzuki
Daisetsu nhắc đến) cũng đã nhận ra rất sớm điều đó là
Sir Charles Elliot, một người có thẩm quyền về lịch sử
Phật Giáo Nhật Bản và Sir. George Sansom, chuyên gia về lịch
sử và văn hóa sử Nhật Bản.
E) Tăng
Dôgen (Đạo Nguyên) và phái Sôdô (Tào Động):
Tăng
Dôgen (1200-1253) là một thiền tăng tên tuổi đầu thời Kamakura,
khai tổ của phái Tào Động Nhật Bản. Ông người đất Kyôto,
sinh trong nhà quyền quí nhưng đã sớm đi tu trong núi Hieizan,
lấy hiệu là Hy Huyền (Kigen), học với tăng Eisai (Vinh Tây).
Năm 1223, qua triều đình nhà Tống, thụ giáo tăng Như Tĩnh,
về nước năm 1227, tu ở chùa Hưng Thánh ở Fukakusa gần Kyôto.
Năm 1244, mở đạo trường Tào Động ở vùng Echizen. Ngoài
việc là một nhà tư tưởng uyên áo, ông còn là một văn
nhân có tầm cỡ, đáng được đặt bên cạnh Saigyô (Tây
Hành), Ikkyuu (Nhất Hưu) và Ryôkan (Lương Khoan).
Tác
phẩm chính của ông là Shôbô genzô (Chính pháp nhãn
tàng) trước tiên được xem như một tập lý luận, sau là
một văn tập thuyết pháp, lại ghi chép nhiều công án (kôan)
nổi tiếng của phái Tào Động. Những lời bàn của tăng
Dôgen đối với những công án này vừa có giá trị triết
lý lẫn văn chương. Tuy nhiên vì dùng nhiều từ hoa của lối
văn chương biền ngẫu Trung Quốc nên có tính cách thần bí
khó hiểu, trong một khoảng thời gian dài, Shôbô genzô
không được phổ cập đến quần chúng mà chỉ thu hẹp trong
vòng một số đệ tử.
Sau
khi mất, tăng Dôgen được phong thụy hiệu Shôyô Daishi (Thừa
Dương Đại Sư).
F)
Văn học Ngũ Sơn (Gozan-bungaku):
Từ
cuối đời Kamakura, ngoài việc hai danh tăng Rankei (Lan Khê)
và Mugaku (Vô Học) đến Nhật, giữa Trung Quốc và Nhật còn
có nhiều trao đổi học tăng giữa các thiền viện hai nước.
Đến đời Nam Bắc Triều, có phái của tăng Musô Sôseki (Mộng
Song, Sơ Thạch, 1275-1351) một nhà viên nghệ và nhà thơ waka
từng
trụ trì Nam Thiền tự (Nanzenji) và Viên Giác tự (Enkakuji),
hai ngôi chùa trong nhóm Ngũ Sơn
vốn có ảnh hưởng hơn cả đối với mạc phủ Muromachi.
Hai đồ đệ của ông buổi vãn niên, Gidô Shuushin (Nghĩa Đường,
Chu Tín, 1325-1388) và Zekkai Chuushin (Tuyệt Hải, Trung Tân, 1336-1405)
là hai nhà thơ xuất sắc hơn cả. Bên cạnh hai người, phải
kể thêm danh tăng Chuugan Engetsu (Trung Nham, Viên Nguyệt, 1300-1375)
đã đến triều đình nhà Nguyên năm 1325, học thiền rồi
về nước tu ở các chùa Vạn Thọ (Banju-ji) và Kiến Nhân
(Kennin-ji). Ông là học giả lỗi lạc về Chu tử học và là
một đại biểu của văn học Ngũ Sơn, ảnh hưởng nhiều
đến thế hệ sau. Ông còn là tác giả của tập “Một cánh
chim âu biển Đông” Tôkai ichiô-shuu (Đông hải nhất
âu tập).
Có
thể định nghĩa văn học Ngũ Sơn như dòng văn học chịu
ảnh hưởng của phái thiền Rinzai, phổ biến cả tư tưởng
Tống Nho lẫn Thiền tông và diễn tả phần lớn bằng Hán
văn, xuất phát từ 5 ngôi chùa thiền được các chính quyền
Kamakura (1185-1333) và Muromachi (1336-1573) bảo bọc bởi vì nó
đáp ứng được việc tạo lập một ý thức hệ vũ sĩ đạo
cho họ.
Ba
lối diễn đạt chính của văn học Ngũ Sơn là cổ văn, văn
biền ngẫu và thi ca.
1)
Cổ văn:
Cổ
văn là văn xuôi thuần túy, trong sáng, chính xác theo phong cách
Hàn Dũ (768-824) và Liễu Tôn Nguyên (773-819) đời Đường và
phổ biến trong giới thiền tăng đời Tống (960-1276). Loại
này thích hợp cho văn nghị luận, văn bia, tự và bạt, phê
bình thơ hay thi thoại.Nó còn được sử dụng để ghi chép
(sao) các lời bình tác phẩm cổ điển. Ở Nhật gọi là shô-mono
(sao vật, như Sử Ký sao, Mông Cầu sao, Mao thi sao, Ngọc Trần
sao, Tứ hà nhập hải sao) v.v…). Có điều các shô (sao)
thường viết bằng văn nói và bằng tiếng Nhật nên có thể
xem như ngoai lệ của văn học Ngũ Sơn mà phần lớn vốn biểu
hiện bằng Hán văn.
2)
Văn biền ngẫu:
Văn
biền ngẫu (benbun) nằm giữa văn xuôi và thơ, còn gọi là
tứ lục biền lệ văn (shiroku-benreibun). Biền là xếp ngựa
thành cặp cho nên văn biền ngẫu thường có đối ngẫu (parallel)
Nó có những qui luật về khổ (ví dụ như khổ bốn / sáu),
về âm vận (bình / thượng/ khứ / nhập) và về ngữ vị
(điển cố / thành ngữ). Cũng như thơ, nó được làm ra để
cao giọng ngâm nga vào những dịp lễ lạc, hội hè quan trọng.
Loại văn này thích hợp cho hình thức ngữ lục (goroku) hay
pháp ngữ (hôgo) nghĩa là những lối diễn tả cô động và
có tính cách răn dạy.
3)
Thi ca:
Thi
ca của phái Ngũ Sơn cũng giống như thơ thế tục Trung Quốc,
thường là loại luật thi (risshi) như thơ ngũ ngôn hay thất
ngôn tuyệt cú đời Đường. Khởi đầu thơ Ngũ Sơn còn đậm
mùi vị Phật giáo vì thi nhân phần lớn là tăng lữ, nhưng
trong giai đoạn sau, ảnh hưởng tôn giáo đã phai nhạt đi
và nó không khác gì thơ thế tục, nếu không nói là có cả
thơ tình.
Văn
học Ngũ Sơn rất phong phú, ngày nay tuy đã sưu tập được
trên một vạn trang nhưng người ta ước đoán số lượng
đó mới chỉ là phân nửa các tác phẩm đã có. Phạm vi của
văn học Ngũ Sơn rất rộng, đi từ lãnh vực tôn giáo qua
triết học, chính trị, ngoại giao. Nó đã ảnh hưởng đến
các thiền viện cấp dưới (được gọi là “lâm hạ” (rinka)
nghĩa là “dưới bóng rừng cây”) và chỉ tàn dần sau khi
đụng độ với tư tưởng kogaku (cổ học), một luồng
tư tưởng Nho Giáo mới của người Nhật, vào những năm cuối
thế kỷ 17 đầu 18 dưới thời Tokugawa.
G)
Gidô (Nghĩa Đường) và Zekkai (Tuyệt Hải):
Gidô
Shuushin (1325-1388) hiệu là Không Hoa Đạo Nhân, người Tosa,
thuộc đảo Shikoku, vì bị bệnh lỡ dịp sang du học Trung
Quốc, lúc đầu lên Kyôto, sau đến Kamakura tu hành.Tinh thông
Hán, Phạn, được sự tín nhiệm của Tướng Quân Ashikaga
đời thứ ba là Yoshimitsu, ông trụ trì ở chùa Nanzen và hoạt
động để bành trướng thiền tông ở miền Đông. Ông đã
hoàn thiện nỗ lực của những tăng nhân đi trước như Kokan
Shiren,
Sesson Yuubai
và Chuugan Engetsu
trong lãnh vực văn chương . Về thơ, ông có viết Kuuge-shuu
(Không hoa tập). Bài “Loạn hậu khiển hứng” “Bày tỏ
tâm tư sau thời loạn ly” sau đây là một bài thơ chữ Hán
trích từ đó:
Hải
biên cao các ỷ thiên phong,
Minh
diệt lâu đài thần khí hồng.
Thảo
mộc thê lương binh hỏa hậu,
Sơn
hà phảng phất chiến đồ trung.
Hưng
vong hữu số tùng lai sự,
Phong
nguyệt vô tình tự mãn không.
Liêu
tịch thi biên ký thê trắc,
Sa
trường chiến cốt hóa vi trùng.
Tạm
dịch:
Tâm
sự sau thời chiến
Lầu
cao gió lộng biển linh lung,
Thấp
thoáng thành ma ánh chớp hồng.
Cây
cối võ vàng qua cuộc chiến,
Núi
sông còn tưởng buổi tranh hùng.
Được
mất việc đời là số phận,
Gió
trăng hờ hững lượn từng không.
Sa
trường, gửi chút thơ thương cảm,
Đến
nắm xương khô mồi lũ trùng.
Zekkai
Chuushin (1336-1405) cũng người vùng Tosa, du học bên nhà Minh,từng
được yết kiến hoàng đế Hồng Vũ (Thái Tổ Chu Nguyên Chương),
và làm thơ thù tạc. Đó là một cơ hội hãn hữu, từ trước
về sau không tăng nhân Nhật Bản nào có vinh hạnh như thế.Về
nước năm 1376, ông trụ trì ở chùa Tướng Quốc, lo việc
soạn thảo văn thư ngoại giao. Trong khi Gidô thiên về cái
đơn sơ như khuynh hướng của Kokan Shiren (Hổ Quan Sư Luyện
hay hòa thượng Hải Tàng), Zekkai tuy cũng hùng hồn trang trọng
nhưng dụng công hơn và trở thành đại biểu cho trường phái
kỹ xảo của văn học Ngũ Sơn. Có thi tập Shôkenkô
(Tiêu kiên cảo) và tập sách Zekkai oshô goroku (Tuyệt
Hải hoà thượng ngữ lục).
Sau
Gidô và Zekkai, hai nhà sư yêu văn chương, truyền thống Hán
học được hai chùa Tướng Quốc và Kiến Nhân tiếp nối,
trong đó có việc thu thập và nghiên cứu thơ văn chữ Hán.
Việc chú thích thơ của Đỗ Phủ, tuyển tập thơ Đường
nhan đề Santaishi ( Tam thể thi) hay Kobun Shinpo (Cổ
Văn Chân Bảo), thơ Tô Thức, Hoàng Đình Kiên đời Tống là
những thành quả đáng kể. Những tác phẩm ấy cũng nằm
trong khuôn khổ các shô-mono (sao vật).
Ngoài
văn học, thiền lâm cũng đóng góp vào việc phổ biến tranh
thủy mặc. Văn hóa Muromachi (kết hợp văn hóa Bắc Sơn hay
Kitayama bunka và văn hóa Đông Sơn hay Higashiyama bunka, hai giai
đoạn của nó)
có sự đóng góp rất lớn của thiền gia. Mặc khác, các thiền
gia đã vượt ra ngoài khuôn khổ khép kín của họ trước
đây.
Vùng
Arashiyama (Lam Sơn) trên đất Kyôto, một cái nôi của văn học
Ngũ Sỏn.
H) Tăng
Ikkyuu (Nhất Hưu, 1394-1481) và tăng Banri (Vạn Lý, 1428-1502)
:
Tăng
Ikkyuu là người tiếp nối văn hóa thiền tông phái Ngũ Sơn,
vốn được xem như một tăng nhân thông minh, có tài ứng biến.
Tên thật là Ikkyuu Sôjun (Nhất Hưu, Tông Thuần), tương truyền
là con rơi của thiên hoàng Go-Komatsu (1377-1433). Ông tu hành
ở chùa Kiến Nhân (Kennin-ji) từ khi còn bé, sau được vào
chùa Đại Đức (Daitoku-ji) . Ông có tinh thần phê phán cả
thiền môn lẫn xã hội và có một thi phong độc đáo. Qua
tác phẩm, ông tự bộc bạch về mình như một ông sư phá
giới, nổi loạn và thái độ ấy ngày nay được đánh giá
cao vì nhờ hành trạng kỳ dị của ông, thiền tông đã thoát
khỏi khuôn khổ cứng nhắc của cung đình và của năm chùa
chính thống (Ngũ Sơn) mà đi về địa phương và được phổ
biến rộng rãi trong dân gian. Mặt khác, nhà chùa cũng nhờ
đó là trở nên lành mạnh hơn (từ chối bằng sắc, chức
tước và đuổi những sư sải tham ô, vô lại), tiếp thu được
nghệ thuật dân gian trong cách sống của mình (như đem trà
đạo vào thiền viện). Có nhiều truyền thuyết về bản thân
ông nhưng ấn tượng chung thì mọi người đều xem ông là
một nhân vật khácphàm.
Thơ ông thu thập lại trong Kyôun-shuu (Cuồng Vân Tập),
với những bài kỳ lạ như sau :
Như
Ý Am thoái viện ký Dưỡng Tẩu Hòa Thượng
Trú
am thập nhật ý mang mang,
Cước
hạ hồng ty tuyến bất kham.
Tha
nhật quân lai như vấn ngã,
Ngư
hàng tửu tứ hựu dâm phường
Nhân
thôi việc trông coi am Như Ý, gửi hòa thượng Dưỡng Tẩu
Giữ
am mười bữa nghĩ loanh quanh,
Tu
vụng đường tu, mãi chẳng thành.
Mai
mốt nếu huynh tìm chỗ tớ,
Không
hàng đồ nhắm cũng lầu xanh.
Ngoài
Ikkyuu, còn có nhà sư Banri Shuuku (Vạn Lý Tập Cửu, 1428-1502),
trước tu ở chùa Shôkoku (Tướng Quốc), sau vì cuộc nội
loạn năm Ônin (1467-1477), lui về quê ở vùng Mino (nay gần
Gifu), lấy vợ sinh con, chú thích cổthi
và đi khắp nơi dạy văn thơ chữ Hán mưu sinh. Để lại tập
Baika
mujinzô (Mai hoa vô tận tàng). Thơ ông cũng nhiều thiền
vị vì đơn sơ, thành thực, như bài sau đây viết trong chuyến
lữ hành:
Huyền
Chủng nhập dục thất phí dụng bách phiến.
Nghĩ
thuyền Huyền Chủng thoát hành trang,
Bách
phiến thanh đồng mại dục thang.
Hải
phạn sa đa thực vô vị,
Tinh
phong bác tỵ tiểu ngư phường
Đến
vùng Kakezuka đi tắm tốn trăm tiền
Đỗ
thuyền , ghé bến cởi hành trang,
Tốn
mất trăm tiền tắm nước thang.
Cơm
biển cát đầy không nuốt nổi,
Mũi
nồng chợ cá thối hoăng hoăng.
Sau
khi cuộc loạn Ônin tàn phá kinh đô Kyôto, thế lực mạc phủ
Muromachi (1333-1568) suy yếu. Các chùa thiền phái Ngũ Sơn, để
sống còn, phải trông cậy vào sự giúp đỡ của các lãnh
chúa địa phương và triều đình. Ngôi chùa có liên lạc mật
thiết nhất với Mạc Phủ là chùa Đại Đức (Daitokuji ) cũng
phải nương tựa các nhà có của ở Kyôto cũng như ở Sakai,
một thị trấn buôn bán sầm uất gần bên. Nhưng nhờ thế
mà văn hóa trung ương đã lan ra địa phương và ảnh hưởng
của thiền tông đã đi vào thời cận đại bằng con đường
đại chúng hóa, bắt đầu với thời kỳ Azuchi-Momoyama (An
Thổ, Đào Sơn, 1568-1600) xán lạn.
TIẾT
lV : PHẬT GIÁO THỜI EDO:
A) Ảnh
hưởng gián tiếp đến chính trị Mạc Phủ:
Từ
thế kỷ thứ 14 đến thế kỷ 18, Phật Giáo không ngừng thế
tục hóa và đến đời Tokugawa, nó đã trở thành một định
chế quốc gia. Đầu thế kỷ 17, với đạo luật Shie Hatto
(Tử Y Pháp Độ) chính quyền Tokugawa tách chùa chiền ra khỏi
triều đình Kyôtô và sử dụng nó như một công cụ chống
lại đạo Ki-Tô. Theo lệnh cải cách tôn giáo có tên Shuumon
Aratame (Tông Môn Cải), tất cả chùa nhỏ đều phải lệ
thuộc vào một chùa lớn là mỗi người dân đều phải ghi
tên qui y ở chùa địa phương. Như thế chùa chiền trở thành
cơ quan nhằm tập trung quyền lực cho quốc gia. Chế độ này
chỉ bị bãi bỏ vào năm Meiji thứ 6 (1873) mà thôi.
Di
sản tinh thần mà chính quyền Tokugawa thừa hưởng được
đó là Phật Giáo Ngũ Sơn. Như đã trình bày, Phật Giáo này
có đặc điểm là đậm màu sắc Nho Giáo vì do các tăng Trung
Quốc mang vào và thường xuyên giao lưu với đại lục. Do
đó, Tống Nho theo Chu Hi và tư tưởng của Vương Dương Minh
được chính quyền vũ sĩ đem ra áp dụng. Trí thức Tokugawa
là những nhà Nho có quan hệ gần xa với cửa Phật chứ không
phải thiền sư thuần túy như dưới đời Muromachi. .
Trong
số những trí thức cấp cao cộng tác với mạc phủ (goyô-gakusha
= ngự dụng học giả) có thiền tăng Suuden (Tông Truyền, 1569-1633)
và tăng phái Thiên Thai tên Tenkai (Thiên Hải, 1536?-1643). Hai
người đã thờ 3 đời Tướng Quân Tokugawa đầu tiên (Ieyasu,
Hidetada và Iemitsu) và ảnh hưởng đến chính trị buổi ấy
nhưng không đóng vai trò văn hóa then chốt như nhà Nho Hayashi
Razan.
B) Phê
phán ảnh hưởng Tây Phương :
Trí
thức Nhật Bản cuối thế kỷ 16 và đầu 17 có hai thái độ
trước nền văn hóa Tây Phương mới được các nhà truyền
giáo du nhập vào. Đó là hô hào hay khích bác. Fukan Fabian (Bất
Can Trai, 1565-1621 ?) đã làm cả hai chuyện. Ông ta trước là
sư, sau nhập dòng Jesuit (1586), theo học trường đạo và thành
người dạy Nhật ngữ cho các giáo sĩ. Lúc đó, ông viết
tập Myôtei mondô (Diệu Trinh
vấn đáp) để giải thích đạo Ki-Tô và vào năm 1606 có lần
bút chiến với hai anh em “Nho quan” Hayashi Razan (Lâm, La Sơn).
Thế nhưng , ông lại bỏ đạo và, một năm trước khi chết,
viết tác phẩm Ha-Daiusu (Phá Đề-Vũ-Tử) “ Chống Thiên
Chúa ” (1620) để bài báng đạo Ki-Tô. Để trả lời câu
hỏi tại sao Fukan lại có hành động “ bội đạo ” như
thế thì học giả Katô Shuuichi đã thử giải thích bằng sự
cấm đạo khắt khe của Tướng Quân Ieyasu và quan hệ không
tốt đẹp của ông với những nhà truyền giáo mà ông bảo
“ ngạo mạn, không coi dân Nhật ra con người ”.
Sách
viết ra để bài xích đạo Ki-Tô do các tăng lữ Phật Giáo
thì phải kể đến Ha-Kirishitan (Phá Kiết-Lợi-Chi-Đan,
1642 ?) của Suzuki Masamitsu (Linh Mộc, Chính Tam, 1579-1655) tức
tăng Shôzan (Chính Tam), Taiji-jashuu-ron (Đối trị tà chấp
luận, 1648) của Sessô Sôsai (Tuyết Song, Tông Thôi, ?-
?). Hai người đều là thiền sư. Trong tác phẩm của Shôsan,
ông xem việc coi đạo Ki-Tô xem thân thể là hữu tử và linh
hồn bất tử là tà thuyết. Sôsai lại cho rằng “Jesus
trước đã là kẻ đã qui y theo Phật nhưng vì chỉ hiểu sai
lời dạy nên trở thành tà đạo”. Cả hai đồng
ý ở điểm đạo Ki-Tô chỉ “mưu toan xâm lược đểcướp
nước dâng cho bọn Nam Man.”
C)
Thiền và vũ sĩ thời Edo :
Đứng
sau lớp trí thức Phật Giáo cao cấp phục vụ mạc phủ như
hai ông Suuden (Tông Truyền) và Tenkai (Thiên Hải), còn có lớp
trí thức phục vụ giai cấp vũ sĩ. Do đó, ta thấy vào thời
nầy, nhiều tác phẩm nói đến ảnh hưởng của Phật Giáo
Thiền Tông đối với kiếm đạo. Ví dụ như Fudôchi shinmyô-roku
(Bất động trí thần diệu lục) của thiền tăng Takuan (Trạch
Am, 1573-1645) và Gorin no Sho (Ngũ luân
thư) của kiếm khách Miyamoto Musashi (Cung Bản, Vũ Tàng, 1584
?-1645).
Takuan
thuộc phái thiền Rinzai (Lâm Tế), có một thời gian bị Mạc
Phủ bắt đi đày vì chống đối chính lệnh nhưng sau được
Tướng Quân Iemitsu cho về trụ trì chùa Tôkaiji (Đông Hải
Tự). Ông đã so sánh kỷ thuật đánh kiếm với thực hành
tu thiền và cho biết bí quyết thắng lợi không phải chỉ
giỏi kiếm pháp mà còn phải biết giữ được cái “ tâm
bất động ” (bất động trí, fudôchi) như thiền gia.
Kiếm khách Musashi trong Gorin no sho (Ngũ luân thư),
sau khi biện luận về bốn vòng tròn Thổ (đại cương về
binh pháp), Thủy (kiếm thuật), Hỏa (chiến thuật), Phong (đối
phó với các trường phái khác), đã bàn đến trong Không (kết
luận) điểm cao nhất của binh pháp là “ khi tìm ra được
chân lý rồi thì phải quên cái chân lý ấy đi ” nghĩa là
dạy người ta phải hành động một cách tự do tự tại và
tự phát thì mới có thể thắng được địch thủ. Musashi
đã quyết đấu với trên 60 tay kiếm đủ các trường phái
mà chưa từng thua ai bao giờ. Ông coi trọng trực giác hơn
thị giác, yếu tố xa hơn là yếu tố gần. Ví dụ ông xem
việc quay lưng về phía mặt trời khi quyết đấu hay việc
quan sát phản ứng của địch thủ mỗi khi bị mình đánh
nhứ là những điều quan trọng. Trường phái của ông sử
dụng hai thanh kiếm nên được gọi là Nitôryuu (Nhị đao lưu).
D) Thiền
và đại chúng :
Tăng
Suzuki Shôsan (Linh Mộc, Chính Tam) nhắc đến ở trên là một
thiền tăng gần gũi với đại chúng dù ông xuất thân vũ
sĩ vùng Mikawa (Tam Hà, gần Nagoya bây giờ, phong ấp đầu tiên
của họ Tokugawa) và đã theo chủ dự trận quyết chiến ở
Sekigahara (1600) và trận vây hãm thành Ôsaka (1614-1615), dứt
tuyệt dòng họ Toyotomi. Ông bỏ kiếm, tu thiền, viết sách
Ha-Kirishitan
chống đạo Ki-Tô như đã nói nhưng cũng viết Banmin tokuyô
(Vạn dân đức dụng, hoàn thành năm1631 và in ra năm 1661),
dạy cách xử thế (chính đạo) cho các giới sĩ, nông, công,
thương. Trong đó ông đề ra cho họ những nguyên tắc đạo
Nho và đạo Phật cần phải theo.
Bên
cạnh Shôsan có Bankei Yôtaku (Bàn Khuê, Vĩnh Trác, 1622-93), cũng
xuất thân từ một gia đình vũ sĩ vô chủ. Ông người đảo
Shikoku và cũng như Shôsan, đã bỏ kiếm tu thiền, không theo
đường văn chương mà chủ trương giáo hóa quần chúng. Bằng
một giọng văn giống văn nói nên lời giảng của ông rất
dể hiểu. Chủ trương của ông được thu thập lại trong
Bankei
Bucchi Kôsai Zenji Oshimeshi Kikigaki, Bàn Khuê Phật Trí Hoằng
Tế Thiền Sư ngự thị văn thư, 1757). Lý thuyết của ông
nằm trong hai chữ “ Phật tâm ”, một yếu tố bất động
và bất tử, không bị hũy hoại như thân xác. Ông cho rằng
con người bỏ được lòng dục (ngã dục, gayoku) và
chấp niệm (trước tích, kiguse) thì có thể thành Phật.
Lòng dục do ý chí tự do chứ không dính dáng gì đến nghiệp
(karma) cả. Nếu không bỏ lòng dục bây giờ thì muôn
nghìn năm sau cũng không bỏ nổi. Tư tưởng ông còn có đặc
sắc là xem nam nữ ngang hàng, đều có Phật tâm như nhau.
Đương
thời còn có những danh tăng như Enkuu (Viên Không, 1632 ?-95
), một nhà sư vân du kiêm điêu khắc gia có lối khắc bằng
búa đẽo (natabori) và nhà sư kiêm điêu khắc gia tượng Phật
Mokujiki Gogyô (Mộc Thực, Ngũ Hành, 1718-1810). Hai người đều
muốn gần gũi với đại chúng. Điểm quan trọng cần nêu
lên ở đây là các thiền sư dù phục vụ trực tiếp Mạc
Phủ hay thân cận đại chúng, đều có chủ trương duy trì
trật tự có sẵn.
E) Thiền
và thơ văn thời Tokugawa :
Nếu
có các thiền sư lo việc phục vụ xã hội thì cũng có những
người lui về ẩn dật và trở thành thi nhân. Hầu hết họ
là vũ sĩ từng tham gia chiến đấu trong thời Chiến Quốc
(1467-1568). Nổi tiếng nhất trong bọn có lẽ là Ishikawa Jôzan
(Thạch Xuyên, Trượng Sơn, 1583-1672) trước là tiểu đồng
hầu cận Tướng Quân Ieyasu, vì mắc vào tội trái quân lệnh
giết lầm một tướng địch trong trận đánh thành Ôsaka nên
bỏ đi tu. Tu được ít lâu, ông chuyển qua theo Tống Nho của
Fujiwara Seika (Đằng Nguyên Tinh Oa, 1561-1619) và học trò Seika
là Hayashi Razan (Lâm, La Sơn, 1583-1657) nhưng về già, sống ở
Higashiyama (1640). Tuy từ Shidendô (Thi Tiên Đường), nơi trú
ngụ, ông có thể nhìn thấy khói từ Kyôto ngay gần bên nhưng
không vượt sông Kamo để vào thành nữa. Ông là một thư
gia và viên nghệ gia, có để lại hai tập thơ Fushôshuu
(Phúc
Tương Tập) và Shinpen Fushôshuu (Tân Biên Phúc Tương
Tập), ca ngợi cuộc sống ẩn dật, ảnh hưởng đến các
nhà thơ thời Tokugawa khác như Ogiu Sorai (Địch Sinh, Tồ Lai,
1666-1728), Kan Chazan (Quản, Trà Sơn, 1748-1827), Okubo Shibutsu (Tiểu
Oa, Phật Sinh, 1767-1837).
Sau
Jôzan có nhà sư phái Nichiren tên Gensei (Nguyên Chính, 1623-68).
Ông trước cũng là samurai, sau đi tu, ẩn cư trong thôn
Fukakusa (Thâm Thảo) gần Kyôto nên lại có biệt hiệu Thâm
Thảo thượng nhân. Ông viết nhiều, từng xướng họa với
Kumazawa Banzan
(Hùng Trạch, Phiên Sơn, 1619-91) và nổi tiếng là người thờ
cha mẹ rất có hiếu. Thơ của ông được lưu lại trong Sôzan
Wakashuu (Thảo sơn hòa ca tập) và thơ chữ Hán của ông
trong Sôzanshuu (Thảo Sơn tập) gồm 30 tập.Thơ waka
của ông có nhiều câu hay như :
Cúc
trắng soi mình trên mặt nước,
Ao
thu như đọng một nghìn thu.
(Bài
Shiragiku no)
Về
thơ chữ Hán, có hai câu cuối sau đây trong một bài thất
tuyệt:
Vô
hạn thu quang vô hạn ý,
Bích
thiên lương lãnh bạch vân nhàn.
(Cao
Khuy đạo trung)
Nắng
thu tràn, ý muôn ngàn,
Trời
xanh se lạnh mây nhàn trắng trôi.
(Trên
đường đi Takatsuki)
F) Sekkyosetsu
và đại chúng :
Cho
dù trong xã hội Nhật Bản có nhiều truyện tiếu lâm lấy
sư sãi làm trò đùa, màu sắc Phật giáo tìm được trong tiếng
khóc nhiều hơn tiếng cười của người bình dân. Hình thức
kể những truyện cảm động đệm bằng đàn shamisen,
kèn ống trúc sasara và đàn nhị kôkyuu (hồ cung)
tên là sekkyôsetsu (thuyết kinh tiết) do những người
ăn xin gọi là Ise kojiki kể lể khắp hang cùng ngõ hẻm.
Những truyện như Sanshô-dayuu (Sơn Tiêu đại phu), Karukaya,Shuntoku-maru
và Oguri-hangan (Tiểu Lật phán quan) tả những cảnh ngộ
cơ cực đến trào nước mắt mà các nhân vật chính gặp
phải và sự phục thù kinh khủng của họ. Với văn thể 5-7
chữ trầm bổng du dương, sekkyôsetsu (thuyết kinh tiết)
nguyên ngữ có nghĩa là “bài hát (tiết) để giảng kinh Phật
(thuyết kinh)” có nội dung thần kỳ và liên quan đến sự
tương giao của thế giới hiện tại và thế giới địa ngục.
Hai nhân vật trong Karukaya là hai cha con sau đều đi tu, tuy không
biết nhau nhưng đến lúc chết hồn họ biến thành chòm mây
tím, hòa hợp với nhau rồi cùng bay về cõi Tây Phương. Quan
án Oguri bị sát hại, được Diêm Vương cho nhập xác để
trở về trần thế.
Như
thế, người nghe kể truyện cảm thấy xúc động dễ dàng
trước những khổ cảnh của nhân vật trong truyện và xem
sự phục thù tàn khốc như chuyện dĩ nhiên. Zushiô, vai chính
của Sanshô-dayu (Sơn Tiêu đại phu) mà mẹ bị cướp
bán vào nhà thổ và hai chị em làm nô lệ, khi trở thành quan
trấn thủ, đã cho chôn kẻ thù dưới đất đến tận cổ
và bắt con trai đương sự phải chặt đầu bố với một
lưỡi cưa bằng tre. Quan án Oguri cột kẻ thù vào chiếc bè
rồi thả trôi ra biển. Nhân vật chính trong sekkyoosetsu
chỉ chấp hành quả báo chứ không có lượng hải hà tha thứ
kẻ thù như vai chính của Ochikubo monogatari, một quyển
tiểu thuyết của thời Heian, chẳng hạn.
Nhân
vật nữ trong các sekkyôsetsu có khí phách chứ không
phải là hạng người đàn bà ẩn nhẩn. Terute, nữ nhân vật
chính trong Oguri Hangan, khi bị bắt làm nô tì, có lần
châm rượu cho khách (chính là vị hôn phu của cô mà cô không
dè), lúc khách hỏi tên thì cô đã trả lời: “Thiếp đến
đây là để dâng rượu hầu ngài chứ không phảI để kể
lể về đời thiếp. Nếu ngài không dùng rượu thì cho thiếp
đem đi!”. Điều đó chứng tỏ phụ nữ đời Tokugawa có
ý thức về vai trò của mình, khác với người phụ nữ nhu
thuận thời Heian. Sự độc lập của người phụ nữ ngày
một rõ hơn cùng với sự phát triển của thế giới của
các xóm ăn chơi kuruwa, nơi mà tuổi tác và giai cấp
không còn được đếm xỉa.
TẠM
KẾT:
Chúng
ta đã đề cập một cách gián tiếp đến ảnh hưởng Phật
Giáo trong tiểu thuyết cổ điển (các bài 5, 6, 14), trong truyện
kể dân gian (bài 10), trong tùy bút và nhật ký (bài 7), trong
dao khúc tuồng Nô và kabuki (bài 11 và 12), trong
haiku
và tanka (bài 8, 9, 13, 27). Điều đó chứng tỏ ảnh hưởng
Phật Giáo đối với văn học Nhật Bản vô cùng to lớn và
vượt hẳn ra khỏi phạm vi của bài viết này vốn chỉ tập
trung vào văn học thiền tông.
Hơn
nữa, cho đến ngày nay, ảnh hưởng của Phật Giáo vẫn bàng
bạc trong văn chương Nhật Bản hiện đại. Lý do là Phật
Giáo và nếp sống Nhật Bản đã hòa hợp làm một tuy người
Nhật trên đường phố bình sinh không có ý thức rõ rệt
về tôn giáo. Ngoài ra không thiếu chi những nhà văn nhà thơ
xuất thân từ cửa thiền hay lấy chủ đề Phật Giáo làm
cơ sở cho tác phẩm của họ.
(Trích:
Tổng quan Lịch sử Văn học Nhật Bản, Nam Trân)
[1]Tư
tưởng của Saichô (Tối Trừng) của phái Thiên Thai
đã
đưa đến sự thành lập một phái thần đạo gọi là Lưỡng
Bộ Thần Đạo (Ryôbu shintô ) với ý định muốn tập hợp
thần phật lại làm một. Bị cấm từ thời Meiji với lý
do gây lộn xộn về tư tưởng.
[2]
Sokushinjôbutsu (tức thân thành Phật) nghĩa là vẫn giữ
nhục
thân, nhờ ngộ đạo (satori) mà thành Phật trong đời nầy
chứ không đợi chết để “ lên ” Niết Bàn.
[3]Nittô
kyuuhô junrei kôki (Nhập Đường cầu pháp tuần lễ hành ký)
“Ký sự hành hương cầu đạo ở Trung Quốc nhà Đường”.
Chuyến du hành của Ennin là đối tượng nghiên cứu của học
giả Mỹ Edwin O. Reischauer (1910-1990).
[4]Khai
tổ của Jôdo-shuu (Tịnh Độ Tông) là tăng Hônen (Pháp Nhiên,
1133-1212). Phái Jôdo ra đời sau thời bà Sei nhưng theo nhà phê
bình
Katô Shuuichi, tư tưởng tịnh độ (tĩnh thổ ) đã có từ
đời Đường và xuất hiện trong lý thuyết phái Tendai.
[5]Suzuki
Daisetsu, Zen to Nihon Bunka (Thiền và văn hóa Nhật Bản,1940,
do Kitagawa Momoo dịch từ Anh ngữ).
[6]Ngũ
Sơn tức 5 chùa Thiền Tông lớn chung quanh Kyôto (Thiên Long
Tự, Tướng Quốc Tự, Kiến Nhân Tự, Đông Phúc Tự, Vạn
Thọ Tự và trên 5 chùa nầy, còn có Nam Thiền Tự). Đặt
theo Trung Quốc vì bên đó, Thiền Tông vốn có 5 chùa Thiền
nổi tiếng quanh vùng Hàng Châu và Minh Châu : Vạn Thọ Tự,
Quảng Lợi Tự, Cảnh Đức Tự, Linh Ẩn Tự và Tĩnh Từ Tự.
[7]Tức
Hổ Quan, Sư Luyện (1278-1346) hay Hải Tàng
hoà
thượng, tăng phái Lâm Tế, một người tiên khu của văn học
Ngũ Sơn. Học trò của tăng nhân gốc nhà Nguyên tên là Issan
Ichinei (Nhất Sơn Nhất Ninh,
1247-1317),
một trong những cao tăng Ngũ Sơn. Kokan Shiren là tác giả “
Chú giải về Phật giáo đến thời Genkô ” Genkô Shakusho
(Nguyên Hưởng thích thư) bằng Hán văn gồm 30 quyển kể lại
truyện trên 400 vị tăng từ thời Phật giáo truyền vào Nhật
Bản đến năm Genkô (1322).
[8]Tuyết
Thôn, Hữu Mai (1290-1346), đến triều Nguyên năm 1329, sau về
tu ở chùa Kiến Nhân (Kenninji), một thiền viện trong Ngũ Sơn.
[9]Trung
Nham, Viên Nguyệt (1300-1375), xem tiểu truyện ở trên.
[10]Tên
hai vùng núi non nằm ở hướng bắc và hướng đông Kyôto.
[11]Không
hiểu Diệu Trinh có nghĩa là gì ? Myôtei đọc theo âm Hán của
chữ Diệu Đế thì có nghĩa là “ chân lý ”.
[12]Nam
Man chỉ người Bồ vì họ đến từ phía Nam so với
Nhật.
Phân biệt với Hồng Mao là Anh hay Hòa Lan. Thời Muromachi còn
dùng từ Nam Man để chỉ Xiêm La, Lữ Tống (Phi Luật Tân).
[13]Năm
nguyên tố tạo nên thế giới theo quan điểm của Phật Giáo
Mật Tông.
[14]Banzan
là nhà nho đời Edo, người Kyôto. Viết sách phê bình chính
trị Mạc Phủ, bị giam trong thành Koga (phía tây tỉnh Ibaraki
bây giờ) và chết ở đó.
[15]Takatsuki,
tên thành phố nhỏ gần Ôsaka.
*
Nguyễn Nam Trân :
Một
trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần
Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn
An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước khi đến
Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of
Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học
truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris.
E-mail: nntran@erct.com