Sự
có mặt của Phật giáo trên 2552 năm không phải lâu dài so
với các tôn giáo cổ đại tại Ấn và một số nơi trên
thế giới, nhưng cũng không phải quá non trẻ như một số
tôn giáo xuất hiện trên dưới 2.000 năm nay, một điều
mà Phật Giáo tồn tại và phát triển tuy chậm trên thế giới,
hoà nhập bất cứ xã hội nào, đó là tính thích nghi, không
những trên mặt giáo thuyết, ngay cả cung cách ứng xử!
Trước
đây, dưới mắt một số người quen tính thực dụng và xốc
vác, đánh giá hình thức sinh hoạt tu sĩ Phật Giáo như một
thái độ cầu an yếm thế, giáo lý của đức Bổn sư bi quan
bạc nhược, Phật giáo thích nghi nơi chốn thâm sơn cùng cốc…vì
vậy, sau đệ nhị thế chiến, PG Nam Hàn bị đẩy lên núi
rừng khi Tin Lành thống lãnh xã hội,nhưng, những gì mà PGVN
và các quốc gia Phật Giáo có mặt ngầm trả lời cho
những quan niệm phiến diện đó. Nhất là tình thế bắt
buộc để giải quyết sự tồn vong cho một dân tộc hay cho
chính tự thân Phật giáo, ngoài ra, những khía cạnh văn
học nghệ thuật, khoa học, tâm lý học, y học, triết học…Phật
giáo cũng có mặt bàng bạc một cách khiêm cung nhưng vững
chải và sâu lắng!
Khi
Thái tử Tất Đạt Đa chứng kiến bốn cảnh thường hằng
của đời người: Sanh –Già- bệnh - Chết, không ai thoát
khỏi, ngài cảm thấy cuộc sống vô vị cứ mãi trôi lăn
trong khổ đau, Ngài cương quyết xả bỏ tất cả để
tìm phương cách giải thoát cho loài người, đó không
phải là chí khí của đại trượng phu? ngược lại bị
xem là yếm thế bi quan! Suốt 6 năm chịu đựng bao gian khổ,
khí hậu khắc nghiệt, thú dữ rừng hoang, ăn uống thất thường,
một thân một bóng giữa rừng già, mạng sống như chỉ mành
treo chuông, thỉnh thoảng cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con
ngoan, cung phi mỹ nữ và thân phụ vùi mình trong chốn
hưởng lạc hiện về trong tâm tưởng, ngài phải phấn đấu
từng giờ trước những cám dỗ trong ký ức như thế, phải
chăng người thiếu nghị lực mà có thể vượt qua để đi
đến thành công một cách vẻ vang? Điều đó nói lên chí
khí của đấng trượng phu quân tử, tâm hồn cao thượng,
lòng dũng cảm vì Đại Nghĩa đối với nhân loại. Kinh nghiệm
tự thân, Đức Thế Tôn đã khuyến giáo các Tỳ kheo
phải phấn đấu với chính tự thân qua các pháp hành tâm
lý và sinh lý:
Tiểu
Bộ kinh:Luật học cơ bản, Kinh Phật thuyết như vậy, chương
một, phẩm một, một pháp: Điều nầy đã được Thế
Tôn nói đến, đã được bậc A la Hán nói đến và tôi đã
được nghe: Nầy các Tỷ kheo hãy từ bỏ một pháp, ta bảo
đảm cho các thầy không tái sanh.Thế nào là một pháp: THAM,
nầy các Tỳ kheo là một pháp..Tham là tham đắm, chúng sanh
đi ác thú..từ bỏ tham ái đó..Hai, điều nầy được Thế
Tôn nói đến, các bậc A la Hán nói đến…giới Sân…từ
bỏ sân hận ấy, ta bảo đảm các thầy không trở lại tái
sanh.Giới Si Thế tôn đã nói lên ý nghĩa nấy, tôi đã được
nghe. Bốn…Nầy các Tỳ Kheo..giới phẩn nộ, phẩn uất..từ
bỏ phẩn nộ…từ bỏ không bao giờ trở lại đời nầy.Năm,
nầy các Tỳ kheo.. nầy là một pháp: Dèm pha,.. dèm người,
từ bỏ dèm pha ấy từ bỏ sẽ không trở lại tại đời
nầy…Sáu, …nầy các Tỳ kheo, hãy từ bỏ một pháp: giới
kiêu mạng kiêu sanh, từ bỏ kiêu mạng nầy, ta bảo đảm
các thầy sẽ không tái sanh.. ý nghĩa nầy đã được thế
tôn nói đến đã được A La Hán nói đến…
Giới
Hoà Hợp... Bố thí..không phóng dật…nói láo…
Các
nghiệp sự đưa đến sanh y, không bằng một phần mười sáu
của từ tâm giải thoát…chỉ có từ tâm giải thoát vượt
qua chúng mới bừng sáng, rực sáng …Thế tôn đã nói lên
ý nghĩa nầy, ai tu tập…từ tâm không phóng dật chánh niệm..,
công đức thật vô lượng..
Hộ
trì các căn và tiết độ trong ăn uống…
Làm
điều ác, không thực hiện việc lành sẽ sa vào khổ đau
Làm
điều thiện, không làm điều ác tương xứng được sanh lên
thiên giới…
Đây
là những trãi nghiệm trong quá trình phấn đấu với tự thân
để đạt thành chánh giác,làm chủ tâm thân, không thể gọi
là bi quan yếm thế! Vì thế Phật dạy: Thắng một vạn quân
không bằng tự chiến thắng mình, chiến thắng mình là chiến
công hiển hách nhất!
Con
đường phấn đấu với tập khí và nghiệp lực, một tu sĩ
hay một cư sĩ có lý tưởng thánh hoá đời mình, bắt buộc
phải tự nguyện hành trì, đòi hỏi nghị lực. Kẻ có nghị
lực và lý tưởng, không thể là bi quan, yếm thế!
Một
khi đạt được thánh tính tự thân, tình thương sẽ bàng
bạc trong cuộc sống, có như thế mới đem lại an lạc cho
mọi người, giúp mọi người từ bỏ xấu ác, tăng trưởng
thánh thiện, đức Phật đã thực hiện và thể hiện, nhân
loại đã công nhận thành quả đó, bằng chứng hàng ngàn
năm qua, đệ tử đã tiếp nối một cách hoà bình và kiên
trì, dù trước bạo lực và bạo động, lòng từ bi và bất
bạo động đó, không những ngay khi Phật còn tại thế, thế
kỷ 13 sau Tây lịch tại Ấn, thế kỷ 20-21 tại Tibet,Myanmar,Việt
Nam…
Bởi
Phật dạy: Lấy ân báo oán, oán tiêu tan, lấy ấn báo oán,
oán chập chùng
Đó
là tinh thần Bất Bạo Động, biểu lộ sức mạnh nội tâm
chứ không phải vì bất lực trước bạo lực. Trong sự bất
ổn hiện nay bằng bạo động tại một số vùng trên thế
giới, nhân loại càng thấy giá trị của tính chất Hoà Bình
và Bất Bạo động của Đạo Phật, vì thế Liên Hiệp quốc
đã chọn Đạo Phật là một tôn giáo mang tính Văn Hoá và
Hoà Bình.
Tự
thân an tịnh và hoà bình chưa đủ nói lên tính chất tích
cực đóng góp cho cuộc sống, vì chúng chỉ là sức mạnh
tiềm ẩn nội tâm; lúc sanh tiền, Đức Thích Ca Mâu ni từng
hoá giải nhiều cuộc xung đột của các quốc gia lân bang
khi vua Tỳ Lưu Ly muốn đánh chiếm Vaisaly, nhà vua lên
Linh Thứu sơn vấn ý đức Phật; Phật quay lại hỏi đức
Anan:
- Xứ
ấy dân chúng có hiếu thảo với cha mẹ?
- Anan
đáp: Dạ, bạch thế tôn, dân xứ ấy rất thảo kính cha mẹ!
- Dân
xứ ấy vợ có thương chồng, chồng có thương vợ không?
Phật hỏi
- Bạch
Thế tôn, Vợ chồng biết thương nhau ạ !
-Xứ
ấy
vua và dân có tôn trọng , đoàn kết nhau chăng?
- Bạch
Thế Tôn, nhân dân nước đó biết tôn kính vua, vua biết thương
dân và họ đoàn kết nhau lắm ạ!
- Thế
thì nước đó có sức mạnh lắm, không nên đụng đến. Đức
Phật đáp .
Vua
Tỳ Lưu Ly đành vâng ý bỏ mưu định đánh chiếm và gây
đổ máu cho dân chúng Vesaly.
Trong
cuộc chiến 30 năm của Việt Nam, một tăng sĩ đơn thân độc
ảnh vào ngay chính quốc gia khai chiến và Liên Hiệp Quốc
để kêu gọi hoà bình cho Việt Nam, ngày nay được biết dưới
tên Thiền sư T, Nhất Hạnh
Hiện
tại, Nepal và Maoist lâm chiến suốt nhiều chục năm, đưa
đến chết chóc và bế tắt, một tu sĩ Việt Nam, noi gương
đức Phật, thầy trò tìm cách góp ý, sau nhiều cam go, hai
bên đồng ý giải giới,đã thống nhất ngưng chiến và sẽ
có bầu cử trong năm 2008 nầy.
Trong
lịch sử Việt Nam, Thiền sư Khuông Việt, TS Pháp Thuận,
Ts Vạn Hạnh…đã đóng góp chính trị không ít giúp Việt
Nam ổn định sơn hà, tuyệt nhiên các ngài không tham gia chính
quyền sau khi hoàn thành công việc, cũng không hề vì công
trạng mà khống chế vương cung, Không những các ngài trong
quá khứ, ngay cả hiện tại, có những bậc thầy không
hề khom mình trước quyền lực, sẳn sàng góp ý xây dựng
quê hương nếu cần tham vấn. TS Nhất Hạnh những chuyến
về quê hương, cũng thẳng thắn nêu ra 10 điểm góp ý xây
dựng một đất nước vững mạnh, tuy rằng lời góp ý có
khó khăn và đầy nghi ngại cho đối tác.
Trong
các thời đại Đinh Lê Lý Trần Lê, Phật giáo gíup đất
nước thạnh trị suốt bốn thế kỷ; Tu sĩ phần nhiều thuộc
giới trí thức, y nho, lý số cầm chắc trong tay mà Đồ Nho
còn phải bái phục, vì thế, vua Đại Hành đã nhờ Khuông
Việt làm người chèo đò và Pháp Thuận là người tiếp đón
Lý Giác của Tàu. Khi Lý Giác làm hai cầu thơ tức cảnh sanh
tình nhắm vào đôi thiên nga: Nga Nga lưỡng nga nga- ngưỡng
diện hướng thiên nha, Pháp Thuận liền tiếp hai câu: Bạch
mao phô lục thuỷ, Hồng trạo bãi thanh ba, làm cho Lý Giác
khâm phục người Việt Nam, sau đó, khi trở về Tàu, Lý Giác
đã làm thơ khen ngợi vua dân nước Nam.
Liên
tục các triều đại đã sản sinh ra nhiều thánh tăng cao đức
để phò trì đất nước, nhưng đến thời bạo chúa Lê Long
Đỉnh ăn chơi trác tác, bại hoại quốc gia, buộc lòng Vạn
Hạnh phải đưa Lý Công Uẩn lên thế vị. Đây là thời đại
mà Phật giáo chủ đạo trong ngành văn hoá của đất nước.
Từ
khi Phật giáo truyền vào Việt Nam và Trung Hoa, để thích nghi
với xã hội mới, PG cải tiến trang phục và cách sống,
thay hạnh khất thực bằng tự thân lao động, các sư biến
lao động sản xuất thành những nông thiền mà tổ Bách Trượng
là một Thiền sư gương mẫu về lao tác.
Trước
kia, thời Bắc thuộc, Phật Giáo hoà nhập vào xã hội bắng
Nho-y-lý-số thì sau khi Pháp xâm lược, Phật giáo cũng đã
hoà nhập vào xã hội bằng những động thái Từ Thiện, giáo
dục, chính trị, môi sinh…Một số kỷ xảo thủ công, hội
họa, mỹ nghệ cũng được một bộ phận tu sĩ và cư sĩ
góp mặt.
Hầu
như các nước có mặt Phật giáo sinh hoạt trong cộng đồng
lâu đời, đều được lưu tồn những tác phẩm nghệ thuật
có giá trị, hội hoạ, điêu khắc, đặc biệt tại Afghanistan,
trong các hang động đã có những bức tranh sơn dầu cổ xưa
nhất hiện nay, nhất là hang động nổi tiếng Bamian, chứng
tỏ Phật giáo nơi đây tồn tại khá lâu trước khi bị Hồi
giáo xâm chiếm.
Tại
Indonesia
cũng thế, dấu tích văn hoá Phật Giáo cũng lưu dấu
chứng tích thời cực thịnh của Phật giáo tại xứ sở nầy
Sau
1975, cũng không phát triển khá hơn về cuộc đóng góp
cho xã hội ngoài những thành tựu đơn lẻ như thế.
Trong
quá khứ, ít nhiều Phật giáo đã năng động đem lại hoà
bình cho quê hương, giờ đây, trách nhiệm nặng nề của Phật
giáo là xây dựng đạo đức cho những thế hệ kế thừa
đã bị trống chân, ngoài công tác từ thiện phổ cập.
Một
ít Tu sĩ Việt Nam cũng đang chung tay chăm sóc một số nạn
nhân cai nghiện và bị nhiễm Aid/Hiv, căn bệnh xã hội hiện
nay. Một số chùa nuôi dạy trẻ khuyết tật và làm nhà dưỡng
lão.
Sai
gòn đã quy tụ khá nhiều tổ chức từ thiện cứu tế, trong
đó, Ban từ thiện của Thiền Viện Vạn Hạnh đã chi trên
10 tỷ hơn 15 năm hoạt động, mỗi tháng đều đến các nơi
khốn khó xa thành phố.
Phật
Giáo hiện nay, cũng đã có mặt trong các trại giam để cảm
hoá tội phạm và an ủi, khích lệ về tính thiện lành trong
mỗi người sẳn có do vài giảng sư trẻ có khả năng.
Sau
1990, Phật giáo trong nước cũng như PGVN hải ngoại nở rộ
phong trào cứu trợ vùng bảo lụt thiên tai hoặc cứu đói
thường kỳ vùng sâu vùng xa và cao nguyên, chia cơm xẻ áo
cùng đồng bào. Còn nhiều nhóm bác sĩ Phật tử khám
chữa bệnh từ thiện thường xuyên như tại Đà Nẵng.
Một số tín đồ Phật Quang cũng phát tâm bố thí hành thiện
một cách nhiệt thành, nhiều chùa cũng âm thầm làm từ
thiện như thế.
Đặc
biệt, Phật giáo tại Bà Rịa Vũng Tàu và Cư sĩ PG miền Tây
còn gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã thành lập bếp cơm từ
thiện một số nơi, phát hàng ngàn xuất cơm chay mỗi ngày
cho các bệnh viện, kể cả y bác sĩ và nhân viên bệnh viện,
người thăm nuôi bệnh tại TP HCM, ngoại ô và tỉnh lẻ.
Gần
đây, một bộ phận nhỏ tu sĩ và cư sĩ phát triển Thư pháp,
điêu khắc, hội hoạ, thi ca, kịch nghệ mang sắc màu Phật
giáo thông thoáng.Một ít tu sĩ trẻ biết làm kinh tế tự
túc, nhưng vẫn còn hạn chế và đơn độc.
Trong
những thời kỳ quê hương bị thống thuộc, phân hoá, cộng
đồng tu sĩ Phật Giáo Việt Nam cũng sát cánh cùng đồng bào
để bảo tồn văn hoá bản địa, đối kháng kẻ thù, hành
xử theo khả năng và khuynh hướng nhận thức của riêng mình,
tuy cũng có một số chư vị cao niên ẩn dật nơi
sơn lâm để làm biểu tượng đạo đức duy trì giềng mối
tâm linh cho quần chúng. Có những nhận xét sai lầm khi bảo
những bậc chân tu đó là trốn lánh trần tục tìm nguồn
vui cho riêng mình, về phương diện tâm linh, ngoại tướng
tuy vô tác như thế, thật ra họ đóng góp rất nhiều cho xã
hội bằng tâm lực gia trì, đó là lối hành xử vô vi.
Trong
bất cứ thời đại nào, luôn có những bậc chân tu phát triển
tâm linh đều ẩn tu, gia lực cho đất nước, đây là một
đóng góp to lớn hơn cả những hoạt động mà mình thấy
qua hành trạng!
Tại
Hàn
Quốc, Phật Giáo tuy bị đàn áp vào thế kỷ thứ 14, nhưng
đến cuối thế kỷ 16, tu sĩ Phật giáo vẫn khoát chiến bào
do một thiền sư lãnh đạo để cứu nguy đất nước trước
cuộc xâm lăng của Nhật Bản. Chính Thiền sư Từ Minh Đường
thay mặt chính phủ qua Nhật ký hoà ước giữa Nhật và Triều
Tiên. Phật giáo Triều Tiên có công trong việc giáo dục
phổ cập. luôn sát cánh cùng quần chúng, sau đệ nhị thế
chiến, Tin Lành phát triển bằng phương tiện vật chất và
tổ chức linh hoạt, nên Phật giáo phần lớn nhường
sân chơi cho bạn, tuy nhiên, ngày nay PG Triều Tiên bắt đầu
phục hoạt. Vào đầu kỷ nguyên XX, Phác Trọng Bân, người
Hàn Quốc sáng lập Phật Giáo Viên, mở rộng giáo dục, giáo
hoá, từ thiện, sản nghiệp, văn hoá, nông nghiệp, thương
nghiệp, tiền tệ, báo chí, y dược…phát triển khá
thành công. Một tổ chức cố vượt thoát tính thụ động
của PG với xã hội. Với tiêu đề: Phật Pháp là đời sống,
đời sống là Phật Pháp, vì thế tổ chức nầy chuyển tải
Phật pháp vào đời sống thường nhật - vật chất và tâm
linh song hành, rất uyển chuyển linh động; hiện nay phát triển
ra cả nước ngoài. Gồm có 108 cơ sở , Tín đồ trên dưới
2 triệu và trên 10 ngàn nhân viên giới chức phục vụ trong
hệ thống của Phật Giáo Viên. Tuy chưa tròn 100 tuổi và hết
30 năm dưới ách thống trị của Nhật Bản, thế mà
hội Phật Giáo nầy phát triển bền vững và uy thế nhất
hiện nay tại Hàn Quốc. Tổ chức nầy đã giáo dục và nâng
cao mức sống quần chúng, đóng góp khá nhiều cho xã hội
Triều Tiên .
Tuy
chưa có một tổ chức vũng mạnh như Nam Triều Tiên, vì đất
nước bấy giờ đang lâm chiến, PG VN bị động giữa
2 thế chế đệ nhất và đệ nhị Cọng hoà.
Cùng
thời ảnh hưởng cuộc chiến thế giới thứ 2, Phật giáo
Việt Nam tuy không rút sâu vào rừng núi như Nam Triều Tiên,
nhưng việc hoà nhập không theo kịp Kitô giáo. Phật Giáo vẫn
bàng bạc trong xã hội, hòa hợp với quần chúng trong khía
cạnh tế tụng phần lớn
Tuy
nhiên, lúc quần chúng còn là nạn nhân khốn khổ của chiến
cuộc, một tu sĩ Phật giáo can đảm thành lập trường Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội để giúp dân xây dựng nhà cửa đổ
nát vì chiến cuộc, giúp quần chúng có kiên thức vệ sinh
và điều hướng tâm linh để họ có được an ổn trong niềm
tin, nhưng , không thành, vì bạo lực không tha cho bất
cứ ai!
Riêng
Phật
Giáo Hồng kông, tuy không có tổ chức quy mô như Nam Triều
Tiên, nhưng PG cũng có nhà dưỡng lão, trường học, bệnh
viện để góp tay cùng xã hội.
PG
Thái tuy là quốc giáo, phần đóng góp xã hội khiêm tốn
ở giáo dục khi bộ giáo dục đã lãnh phần đảm trách. Gần
đây, HT Chamroon, chùa Thamkrabok, tỉnh Saraburi đã bào chế dược
phẩm chửa trị cho chứng nghiện ma tuý. Tuy nhiên, nhà chùa
là tụ điểm sinh hoạt của cộng đồng dân cư, hội họp.
lễ lộc…
Tại
Marylan,
Phật tử Đài Bắc chung góp mua một Thánh đường Good
Shepherd ở Reston làm cơ sở từ thiện. Đây là một tổ chức
Phật Giáo có tầm hoạt động rất mạnh trên nhiều lãnh
vực do một Ni sư tên Dhama Master Cheng Yen sáng lập, gọi là
hội Từ Tế (Tzu Chi ) Đài Loan. Tầm hoạt động không
thua Phật Giáo Viên của Hàn Quốc; Hầu như hội Tzu Chi có
mặt khắp các lãnh vực trong xã hội. Giúp cho xã hội rất
nhiều, và quần chúng cũng nhờ hội mà cuộc sống an cư lạc
nghiệp.
Dhamapala
không những có công chấn hưng Phật giáo Tích Lan, còn góp
phần phục hưng cho Srilanka, giúp chính quyền trên nhiều phương
diện xã hội.
Thiền
sư Nhật làm giám đốc công ty phần mềm của Computer coporation,
góp phần không nhỏ trong kỷ nghệ tin học thế giới.
Một
số Phật tử trên các nước tiên tiến tham dự nhiều khóa
tu thiền, đã đổi mới phong cách phục vụ cho nhiệm sở
một cách hiệu quả.
Từ
ngày Phật giáo có mặt và phát triển tại Âu tây, góp phần
cân bằng tâm lý xã hội mà nhiều thế kỷ xã hội đã bị
hụt hẩng, mất cân bằng giữa tâm linh và vật chất.
Những
quốc gia mà Phật giáo chớm bén rễ, Đạo phong và văn hoá
Phật giáo giúp nơi đó nẩy sanh niềm tin.
Một
quốc gia cưu mang Phật giáo lâu đời, sinh khí Phật Giáo sẽ
trở thành hơi thở của dân tộc đó xuyên qua chính trị,
văn hoá, học thuật, nghệ thuật, nhân bản, và cá tánh đặc
thù cho một dân tộc, biến thành tố chất của một dân tộc
như các quốc gia tồn tại Phật giáo lâu đời hiện nay.
Như
những quốc gia mà Phật Giáo đã đồng hành lúc thái cũng
như lúc bĩ, Phật Giáo Việt Nam từng là điểm son để đất
nước được độc lập an bình. Thời Bắc thuộc Phật giáo
từng giúp vua đối đầu phương Bắc, thời Pháp đô hộ,
ngoài tu sĩ tham gia cứu quốc, cư sĩ Phật giáo miền Tây cũng
thành lập lực lượng chống Pháp. Từ Nam chí Bắc Tăng tín
đồ đã lấy xương máu để tẩm tưới cho cây tổ quốc
được sum suê.
Qúa
khứ như thế, hiện tại đứng trước những nhu cầu mà một
quốc gia không thể là một vu đảo, Phật giáo phải làm gì
và đóng góp thế nào? Đó là vấn đề đặt ra không chỉ
cho PGVN mà Phật Giáo thế giới nói chung.
Cái
quan tâm hiện nay của nhân loại về kinh tế liên đới tới
dầu hoả, môi sinh, khí hậu, nhiệt độ gia tăng bởi
hiệu ứng nhà kính, nước sạch, bạo động, vũ khí hạt
nhân, băng cực tan chảy…
Phật
giáo cũng đã có những cuộc hội thảo khoa học về
môi sinh, hiệu ứng nhà kính, đó cũng chỉ là tiếng kêu
giữa sa mạc.
Điều
mà một số nước đang phát triển bị quốc tế lên
án vế Nhân Quyền- Tự do – Dân chủ, Phật giáo vẫn chưa
trả lời dứt khoát về những vấn đề nóng bỏng đó từng
tiềm ẩn mà giáo lý Phật giáo đã cung ứng trên gần
ba ngàn năm nay.
Do
một quan niệm định chế tính xã hội, ý niệm về Nhân Quyền-
Tự Do- Dân chủ cũng bị hạn chế từ đó, dẫn đến mỗi
quốc gia có cái hiểu khác nhau về cùng một vấn đề, đưa
đến hành xử cũng khác nhau, gây khó cho nhau.
Từ
thời Đức Phật sinh tiền, khi nhận một đệ tử xuất gia
hay giải quyết vấn đề liên quan đến Tăng đoàn, Phật thường
hội chúng thỉnh ý, tôn trọng quyết định của đại chúng,
tập quán đó vẫn còn duy trì trong các Thiền môn ,tu viện
nghiêm túc chuẩn mực khi xét xử một sai phạm
nào đó của một tu sĩ. Như vậy tinh thần Dân chủ đã sớm
xuất hiện từ Giáo đoàn của Đức Phật. Tuy luật của
Tỳ kheo tăng 250 giới, ni nhiều hơn một tí, 5 giới cho cư
sĩ, thập giới cho Sa Di…đều là tiêu chuẩn tịnh hoá tự
thân, tự nguyện thọ lãnh theo khả năng và phát lồ theo tự
giác trong buổi Bố Tát, phải chăng đó là bản chất của
Nhân Quyền đã có trong cộng đồng tu sĩ Phật giáo xưa nay?
Thế nào là Tự Do? Một định nghĩa khó dứt khoát và rõ
ràng; dẫu biết rằng Tự do không có nghĩa muốn làm gì thì
làm, luật pháp xác định tự do trong khuôn khổ, đó cũng
chỉ là một ước lệ, vì khuôn khổ tuỳ thuộc vào quy định
của mỗi quốc gia, mỗi tập quán và mỗi thời đại. Anh
có thể tự do đặt tên cho con mà không được phạm húy vương
tộc. Anh có thể tự do biểu tình phản đối mà không xâm
phạm an ninh quốc gia. Một quốc gia khác thì bảo anh chỉ
được biểu tình khi có giấy phép…Tự do muôn hình vạn
trạng như thế, nên không ai đồng thuận ai, luôn có sự chống
báng nhau, bất hoà nhau.
Đối
với Phật Giáo, Tự do được quan niệm thông thoáng và sâu
sắc hơn: Tự do là mình không bị dục vọng khống chế. Tự
do là mình làm chủ chính mình.Tự do là mình thoát khỏi màn
vô minh. Tự do chỉ đúng nghĩa khi tuệ tri trong mọi hành xử…
nghĩa là mình còn bị tác động, bị chi phối bởi tâm và
cảnh thường tình đưa đến tham sân si phiền não…là chưa
có tự do!
Tự
do- Nhân quyền – Dân chủ như thế đều là tiêu chuẩn và
tính chất chung của mỗi con người, làm gì có sự mâu thuẩn
giữa các quốc gia, giữa những thế hệ và giữa những thời
đại!
Muốn
giải quyết rốt ráo vấn đề cơ bản nầy, Phật giáo phải
có nhiệm vụ phổ cập vào đời sống quần chúng và xã hội
học đường. Một khi nền tảng nhân cách được giải quyết
thì vấn đề môi sinh- khí hậu – vũ khí -bạo động và
những cơn khủng hoảng khác tự nó được hoá giải.
Bởi
vì, do thiếu tinh thần trách nhiệm và lương tâm mà xí nghiệp
phế thải chất độc hại.Do tham đắm lợi nhuận mà phá
hủy môi trường. Do quyền lợi vật chất mà xâm chiếm gây
chiến lẫn nhau.
Dầu
hỏa không giải quyết rốt ráo vấn đề kinh tế.Vũ khí sinh
học, hoá học, hạt nhân… không đe doạ được cực đoan
bạo động. Chế tài, bao vây kinh tế không đem đến cho nhóm
lãnh đạo cực đoan chùn bước; Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp
Quốc không đem lại an ninh toàn cầu, vì thế mỗi ngày thế
giới càng đi đến căng thẳng nóng bỏng do cơ bản những
quan điểm chưa đồng thuận.
Liên
Hiệp quốc từng chú trọng đến các nước chậm phát triển,
thế nhưng lục địa đen vẫn chiếm phần lớn thân phận
kẻ nghèo đói, suy dinh dưỡng. Ấn Độ từng làm cách mạng
xanh, nổi tiếng về kỷ thuật phần mềm và một số lãnh
vực khác, thế nhưng tiện dân vẫn còn quá nhiều cơ cực.
Như thế, làm kinh tế không có nghĩa giải quyết được những
vấn đề xã hội, nếu kinh tế không đặt trên nền tản
đạo đức tình người, phân phối lương thực thiếu hợp
lý, chưa nói đến nền kinh tế phồn thịnh của một số
quốc gia tân tiến vẫn tồn tại những bất ổn thuộc
tâm lý và đạo đức trong xã hội!
Tinh
thần Lợi Hoà đồng quân trong lục hoà của Phật giáo, hay
Bố thí trong tứ nhiếp pháp của Đạo Phật là nền tản
quân bình lợi nhuận của xã hội, là đạo đức cơ bản
trong mọi phúc lợi của một đất nước.
Ngày
nay, đối diện trước những vấn đề mang tính toan cầu,
Phật giáo không thể thụ động co mình trên phương diện
hoằng pháp: Ai có duyên thì đến với đạo, đến cầu đạo,
đạo không phải món hàng cần đi chào mờ!i
Chính
quan niệm đó mà Phật giáo trì trệ trước bước chân chủ
động của những tôn giáo khác.
Ngày
nay phát sanh quá nhiều vấn đề mà nửa thập kỷ trước
không hề có, Phật giáo không thể thụ động : Bệnh đâu
chữa đó, hữu cầu tắc ứng, hữu cảm tắc thông, công đâu
đi làm chuyện thiên hạ! mà cần có phướng án ngăn chận
trước khi những tiêu cực phát tác
Hoằng
pháp lợi sanh của những thời đại kinh tế còn thoải mái,
dân số chưa báo động, ngày nay cuộc sống đảo lộn mọi
thứ, quan niệm đạo đức cũng xét lại trên bình diện
lớn hơn thì phải Lợi sanh trước khi hoằng pháp, Đài Loan
và Nam Triều Tiên đã làm, một bộ phận Phật giáo trong nước
đang làm. Tịnh Độ cư sĩ đóng góp thiết thực trong cuộc
sống song hành với việc tu tập, do đức Tông sư Minh Trí
khai sáng năm 1934, sống và hoà mình giữa bệnh khổ của chúng
sanh mà lập công bồi đức.
Trong
lúc đất nước bị nô lệ, nhân dân điêu linh thống
khổ, Phật Thầy Tây An xuất hiện năm 1849 trị bênh cứu
dân, khuyến dạy nông nghiệp, chủ trương tự túc kinh
tế để mà tu và giúp người khốn khó chứ không hưởng
của bá tánh, vì thế có câu: Có thực mới vực được
đạo.
Hiện
nay, một số tín đồ Phật giáo tu tập theo tinh thần Di Lạc,
cũng tự túc cuộc sống, áp dụng tinh thần Lục hòa, đem
lại an vui cho huynh đệ và người chung quanh, ẩn tàng giáo
lý vừa thực tế, vừa sâu nhiệm, gọi là Hỷ Tông.
không
chủ trương phải nghèo khổ.An bần lạc đạo không có nghĩa
phải sống cảnh nghèo, người Phật tử có quyền làm giàu
để giúp đỡ kẻ khó,góp phần chấn hưng xã hội, riêng
bản thân sống thì đơn giản, tri túc, luôn vui tươi!
Tại
một số nước như Dài Loan, Đại Hàn, Phật giáo không còn
quan niệm Cúng dường Tam Bảo, ngược lại, để PG đi vào
quần chúng, phải là Tam Bảo cúng dường trước sự đói
khổ của người dân, tu sĩ Phật giáo không thể bảo họ
niệm Phật mà no.
Đó
là phong thái nhập cuộc giúp đời của Phật Giáo ngày nay
mà Tin Lành, Thiên Chúa Giáo họ đã thực hiện hàng thập
kỷ vể trước.
Trước
những vấn nạn toàn cầu, Phật giáo không thể chỉ thấy
cộng nghiệp chi phối mà không có phương án chuyển hoá, vì
giáo lý các tôn giáo Thần học không quán xưyến nổi vấn
đề Tâm và Pháp như đạo Phật.
Một
Phật giáo không chỉ giải thoát luân hồi cá nhân mà giải
quyết luôn những bất cập trong hiện thực của cộng đồng
sống. Một giáo lý xưyên suốt Tam giới chả lẽ bế tắt
trước những vấn đề do con người tạo ra? Đó là những
vấn nạn toàn cầu hiện nay, Phật giáo phải góp phần giải
quyết. Sự đóng góp riêng lẻ cho từng quốc gia trong quá
khứ mà Phật giáo có mặt, ngày nay đối diện với ngôi nhà
chung của nhân loại, Phật giáo phải có tầm nhìn và phương
án toàn cầu. Đó là trách nhiệm mà nhân loại ngày nay đang
cần tới Đạo Phật.
Trong
lục đạo, Phật giáo luôn có mặt;
trong
tam giới, Đạo Phật vẫn song hành để giúp chúng sanh;
mỗi
cảnh giới đều có vấn đề riêng của cảnh giới đó,
mỗi
thời đại đều có nhu cầu của thời đại đó,
vì
thế sự hiện diện của đạo Phật ắt phải đủ khả
tính cho những vấn đề xã hội toàn cầu ngoài giải quyết
tâm linh cá thể.
Phật
giáo trong mọi thời đại phải đối diện nhiều thách thức
để áp dụng giáo lý khả thi vào cuộc sống. Bởi lẽ, không
phải sự có mặt của Phật giáo để đem nhân loại đến
với Đạo mà Phật Giáo phải đem Đạo đến với nhân loại,
có như thế mọi vấn nạn mới có cơ may hoá giải!
MINH
MẪN
01/3/08
04-08-2008
04:34:55