Những
khái niệm chính về tịnh độ
Để
hiểu phật giáo tịnh độ, cần có một kiến thúc tương
đối về phật học:
Công
đức và chuyển hoá công đức. Có những lợi ích bất nguồn
từ sự tu tập từ bi và trí huệ; những sự thực hành này
gồm trì giới, yếu tố tối cần thiết cho sự giác ngộ
của mỗi chúng sanh. Những lợi ích đó, hay công đức, có
thể được tích luỹ và sau đó chuyển đến cho mỗi hay tất
cả chúng sanh với tâm nguyện hết thảy chúng sanh đều được
lợi lạc.
Các
vị Phật khác. Đức Phật Thích ca Mâu Ni, vị Phật lịch
sử của chúng ta, không phải là vị Phật duy nhất xuất hiện
ở thế gian. Thật ra, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh
để thành tựu giác ngộ viên mãn. Ngoài đức Phật Thích
Ca, một trong số các vị Phật được biết đến trong truyền
thống Phật giáo là Phật Di Lặc, ngài sẽ xuất hiện và
thành Phật ở thế giới Ta bà của chúng ta.
Cõi
Phật hay Phật Quốc. Chư Phật cảm hoá thế gian bằng sự
chuyển pháp luân và tinh thần trắc ẩn. Đức Thích Ca là
giáo chủ thế giới ta bà của chúng ta. Nên hiểu Phật Quốc
theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Quan
hệ giữa Bồ Tát và Phật. Bồ tát là vị giác ngộ đang
trên lộ trình đến Niết Bàn, nơi không còn khổ đau, cảnh
giới an lạc tối thượng. Chư Bồ tát không chỉ tầm cầu
giác ngộ cho tự thân, mà còn tìm giác ngộ cho tất cả
hữu tình. Một khi đã thành tựu quả vị Bồ tát, vị Bồ
tát sẽ được Phật dìu dắt, như Phật Thích Ca được Phật
Nhiên Đăng thọ ký , và rồi Phật Thích Ca sẽ thọ ký cho
ngài Di Lặc thành Phật.
Nguồn gốc
tịnh độ
Theo
lời dạy của đức Phật Thích Ca, Cõi Cực Lạc (Vô lượng
Quang hay Vô lượng Thọ, cũng được biết đến bằng Amitayus
) do đức Phật A Di Đà làm giáo chủ, là cảnh giới hoàn
toàn không có chướng ngại cho sự giác ngộ. Thế giới này,
hay tịnh độ, là do công đức tu tập trong vô lượng A tăng
kỳ kiếp của Bồ tát Pháp Tạng (Dharmakara) trước khi thành
Phật hiệu A Di Đà. Bồ tát Pháp Tạng nguyện rằng khi ngài
thành tựu chánh đẳng giác, thế giới do ngài làm giáo chủ
sẽ gồm hết thảy những thứ tốt đẹp nhất của tất cả
các cõi Phật khác. Các cõi Phật khác do thầy của Pháp Tạng,
Phật Lokesvararaja , giảng cho ngài.
Phật
giáo tịnh độ được mô tả là đức tin trong sáng (Path of
Serene Trust), hay prasada trong tiếng Phạn. Từ này được giải
thích rộng là “tín”, nghĩa rằng người có đức tin thuần
tịnh vào trí tuệ và thần lực của chư Phật, hay tin rằng
những lời nguyện của chư Phật là dìu dắt chúng sanh sẽ
được thành tựu.
Trong
kinh Bát – chu tam muội (Pratyutpanna), một kinh rất xưa của
Phật giáo, đức Thích Ca giảng về sự thực hành tam muội,
theo đó hành giả có thể trực tiếp diện kiến chư Phật
trong mười phương. Cho nên, quy y Phật là đặt niềm tin tron
vẹn nơi Phật, xem Phật là đấng cha lành (từ phụ), tán
thán phẩm hạnh và tâm luôn nhớ niệm Phật ở mọi lúc bắt
đầu từ ngày đến với Phật pháp.
Mục
đích của tu tập Phật giáo tịnh độ là để được tái
sanh về cảnh giới cực lạc (Sukhavati), hay tự thân chứng
nghiệm cảnh giới cảnh giới tịnh độ khi tâm thanh tịnh.
Lúc đó hành giả đồng nhất với từ bi và trí huệ vô biên
của Phật A Di Đà. Phật giáo tịnh độ được lập trên
3 tiêu chí sau đây:
Tín:
Nguyện,
hay sự khát vọng, được tái sanh về tịnh độ
Hành,
nghĩa là tập trung tâm chuyên nhất vào việc quán tưởng "Buddhanusmrti"
trong tiếng phạn, và "Nien-Fo" trong tiếng hoa. Buddhanusmrti có
nghĩa là niệm Phật một cách chân chánh, chuyên nhất, và
là sự thực hành chính yếu của Phật giáo tịnh độ ngay
từ khi mới phát tâm. Nien-Fo cũng nói đến niệm danh hiệu
Phật lúc đang làm những công việc khác.
Ba
tiêu chí gồm tín, nguyện và hành của Phật giáo tịnh độ
được giản lược vào thế kỷ thứ 12 ở Nhật Bản. 18 lời
nguyện của ngài Pháp Tạng được giải thích là, chỉ cần
niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà thì sẽ được tái sanh.
Thiền sư Shinran giải thích ngắn gọn rằng, niệm Nembutsu
(theo tiếng nhật thay vì Nien-Fo của tiếng hoa) cho đến khi
niềm tin hiển lộ rõ mồn một nơi tâm, và niềm tin nơi Phật
Amida (tiếng nhật là Phật A Di Đà - Amitabha), thì đủ vãng
sanh. Các tông phái tịnh độ Nhật Bản được biết đến
dưới tên gọi những tông phái “duy tín (faith-only)”, còn
Phật giáo tịnh độ nói chung được lập trên 3 tiêu chí
tín, nguyện và hành
Nguyện
Bồ
tát Pháp Tạng phát 48 lời nguyện khi ngài chưa thành Phật.
Trong đó có 4 lời nguyện chính là nguyện thứ 18, 19, 20 và
22. Những nguyện này được chép trong kinh Vô Lượng Thọ
(Larger Sukhavati Sutra), một trong 3 kinh chính của Phật giáo
tịnh độ.
Nguyện
thứ 18 là giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến
mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác.
Nguyện
thứ 19 giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương
phát Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn
sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng
vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì
tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
Nguyện
thứ 20 là giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng
những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước
tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác.
Nguyện
thứ 22 là giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi
nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực
nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa
độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức
độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng
dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng
chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng,
vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu
công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy
ngôi chánh giác.
Những Kinh
chính của Phật giáo tịnh độ
Kinh
Tiểu Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm (The Smaller Sukhavati Sutra).
Trong kinh này đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng về thế giới
cực lạc cho ngài Xá-lợi-phất, đức Phật mô tả đầy xúc
tích về cõi của Phật A Di Đà. Kinh này có lẽ được tụng
nhiều nhất trong 3 kinh chính của tịnh độ.
Kinh
Đại Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm (The Larger Sukhavati Sutra). Trong
kinh này đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng rất chi tiết về
thế giới tịnh độ cho ngài A-nan. Phật Thích Ca kể về lịch
sử Bồ tát Pháp Tạng và giảng giải 48 lời nguyện một
cách rất chi tiết.
Kinh
Quán Vô Lượng Thọ (The Visualization Sutra). Kinh này sáng tác
tại Trung Hoa, cũng được xem là kim chỉ nam cho thiền, mô
tả chi tiết về những đặc trưng của tịnh độ. Đồng
thời, cũng mô tả những phẩm hạnh của Phật A Di Đà cùng
với nhị vị Bồ tát Quan Âm (Avalokitesvara), tiêu biểu cho
từ bi, và Thế Chí (Mahasthamaprapta), tiêu biểu cho trí huệ.
Avalokitesvara nghĩa là người quán xét tiếng kêu khổ của
thế gian, và Mahasthamaprapta nghĩa là người rất có sức mạnh,
đấng đại hùng.
Tự lực
và tha lực.
Nói
đến tịnh độ tất phải nói đến hai khái niệm tự lực
và tha lực. Tự lực nói đến phương pháp chúng ta thực hành
cho tự thân, dựa vào nội lực của chính tâm chúng ta. Tha
lực nói đến những lời nguyện của đức Phật A Di Đà
tiếp dẫn chúng ta tái sanh vế thế giới cực lạc, cũng như
chuyển hoá công đức của Phật A Di Đà cho chúng ta được
thể hiển qua những lời nguyện của ngài.
Trong
Phật giáo tịnh độ truyền thống, tự lực và tha lực cùng
được tu tập song hành với nhau. Qua tu tập kết hợp niệm
Phật, thiền, và quán tưởng, thì nguyện được tái sanh về
thế giới cực lạc và niềm tin tái sanh sẽ luôn hiển hiện
nơi tâm, hành giả sẽ đạt được tam muội của Phật, đồng
nhất tự lực của vị ấy với tha lực của Phật A Di Đà,
yếu tố làm nên từ bi và trí tuệ của vũ trụ.
Tuy
nhiên, Phật giáo tịnh độ Nhật Bản chỉ có dựa vào tha
lực mà thôi. Niệm danh hiệu Phật A Di Đà với tất cả niềm
tin là đủ, và tất cả những sự thực hành tha lực khác
được xem thật sự vô bổ. Hành giả hoàn toàn dựa vào những
lời nguyện chính của Phật Amida; về cơ bản, danh hiệu Phật
chỉ được biết đến qua những lời nguyện của Phật Amida.
Điều này khiến cho Phật giáo tịnh độ Nhật Bản giống
một hình thức dựa trên sự cứu rỗi (a salvation-based form),
không như Phật giáo tịnh độ truyền thống phát xuất từ
Trung Hoa.
Sự thực
hành
Niệm
danh hiệu Phật là một trong những sự thực hành trung tâm
của Phật giáo tịnh độ. Niệm Phật bao hàm niệm “Namo
Amitabha Buddha (Nam Mô A Di Đà Phật)”, nghĩa là thành kính
đảnh lễ Phật vô lượng từ bi và trí tuệ, mà theo tiếng
hoa là "Namo Omito-Fo" và tiếng nhật là "Namu Amida Butsu"
Niệm
Phật từ lâu đã được nhìn nhận dễ tu tập, sẽ thu thập
những ích lợi mà các tông phái chính của Phật giáo đưa
ra.
Niệm
Phật bao gồm cả việc thiền định, vì nhất tâm niệm Phật
giúp hành giả tự đoạn tận si mê và tham ái.
Niệm
Phật gồm cả việc nghiên cứu kinh điển, vì những từ thiêng
liêng “Phật A Di Đà” chứa đựng những ý nghĩa cao siêu
không thể kể xiết.
Niệm
Phật gồm cả việc trì giới, vì niệm Phật đến cấp độ
nhất định sẽ tịnh hoá và lắng động thân nghiệp, khẩu
nghiệp, và ý nghiệp.
Niệm
Phật gồm cả tu tập mật tông, vì niệm những từ “A Di
Đà Phật” cũng có hiệu nghiệm nhiệm mầu như khi tụng
chú mantra vậy.
Quán
cũng là sự tu tập trọng yếu trong Phật giáo tịnh độ.
Hầu hết quán tưởng trong tịnh độ là quán Phật A Di Đà
cùng với 2 vị Bồ tát Quan Âm và Thế Chí, và cả chính cõi
cực lạc. Có tất cả 16 loại quán, được mô tả chi tiết
trong kinh Quán Vô Lượng Thọ
Nhưng
một sự thực hành khác nữa là tụng kinh Tịnh Độ (kinh
A Di Đà). Tụng kinh giúp người hành trì luôn tưởng nhớ
vững chắc Phật A Di Đà trong tâm và khiến cho nguyện tái
sanh về thế giới tịnh độ ngày càng tăng trưởng.
Các
thành phần của hầu hết nghi lễ tịnh độ đều dựa trên
thuyết ngũ môn công đức của ngài Thế Thân
•
Đảnh lễ và tán thán
•
Quán tưởng đức Phật A Di Đà
•
Tụng kinh A Di Đà
•
Lập nguyện tái sanh về cực lạc
•
Chuyển hoá công đức
Một
sự thật không thế phủ nhận là việc thực hành pháp môn
tịnh độ có thể thích ứng với bất kỳ ai và bất kỳ
căn cơ nào đi nữa. Đó là lý do tại sao Phật giáo tịnh
độ là lối tu tập tuyệt diệu cho những ai tầm cầu giải
thoát trong thời đại ngày nay, thời đại có quá nhiều chướng
ngại và xao nhãng cho việc tầm cầu giác ngộ.
Người
dịch : Thích Nguyên Đăng
Emaile
address: thichngdang@yahoo.com
nguồn:
http://www.cloudwater.org/pureland.html
Tài
liệu tham khảo
Đại
Thừa Phật giáo tư tưởng luận , HT Thích Quảng Độ dịch
http://en.wikipedia.org/wiki/Pure_Land_Buddhism
http://en.wikipedia.org/wiki/Buddhist_texts#Pure_Land_Sutras
Tịnh
Độ Thập Nghị Luận, Trí Giả Đại Sư, HT Thích Thiền Tâm
dịch
11-20-2007
04:23:34