Trong
chương vừa rồi, chúng tôi đã đề cập đến tình trạng
cùng với Ấn giáo chính thống, có phát triển một số trường
phái tư tưởng phi chính thống, đặc biệt thịnh hành tại
vương quốc Magadha (Ma kiệt đà) ở miền bắc nước Ấn.
Trong các trường phái ấy, có hai hình thức cực đoan, một
có tính kỷ luật tâm linh, chủ nghĩa khổ hạnh; một là triết
phái Carvaka/Lokayota có tính duy vật chủ nghĩa và khoái lạc
chủ nghĩa. Một trong phái đối lập nhau ấy thăng hoa và tự
kiến lập thành hai truyền thống tách biệt: Phật giáo và
Kỳ Na giáo.
1.
Ðức
Phật
Bối
cảnh phong phú
Nếu
sống ở bắc Ấn trong thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên,
chắc chắn chúng ta có nhiều cơ hội làm quen với ba triết
thuyết căn bản về cuộc sống:
1.
Ấn giáo chính thống. Ngày càng chịu sự khống chế của
đẳng cấp tư tế thẩm quyền Bà la môn, Ấn giáo đặt cơ
sở trên các kinh Veda và sự thể hiện đúng cách những qui
định trong kinh ấy về nghi lễ.
2.
Khá đông hiền giả độc lập giảng dạy về quán tưởng
và tu tập khổ hạnh. Những tôn sư tâm linh này không chấp
nhận thẩm quyền tuyệt đối của các kinh Veda nên họ bị
xem là phi chính thống.
3.
Sau cùng, các triết thuyết duy vật và duy khoái lạc chủ nghĩa
của trường phái Carvaka/Lokoyata, cũng bị xem là phi chính thống.
Họ cổ vũ tích cực việc theo đuổi khoái lạc như một mục
đích có giá trị của cuộc sống, rất được đại chúng
tán thưởng.
Cuộc
sinh hoạt tư tưởng ấy nở rộ nhờ đúng vào thời kỳ phát
triển về thương mại và gia tăng đô thị hóa. Hợp thành
ba tác nhân làm lỏng lẻo mối liên kết giữa cá nhân với
quê hương bản quán của gia tộc mình và ảnh hưởng của
truyền thống làng xã, đồng thời nuôi dưỡng và khuyến
khích tinh thần tra vấn, thăm dò về tâm linh.
Phật
Thích Ca Mâu Ni
Ðức
Phật — Ðấng hoàn toàn giác ngộ — thuộc họ Gautama tên
là Siddartha. Danh xưng Tất-đạt-đa có nghĩa là Nhất thiết
nghĩa thành, Thành tựu chúng sinh, phiên âm từ dạng dài của
tên Phạn ngữ là Sarvarthasiddha.
Tất-đạt-đa
sinh khoảng năm 566 (hay 663) TCN tại Kapilavatsu (Ca-tì-la-vệ).
Phụ thân là Sudhodana (Tịnh-Phạn), vua của tiểu quốc Kapilavatsu,
dưới chân Hi mã lạp sơn, thuộc lãnh thổ Népal ngày nay.
Năm 19 tuổi, ngài lập gia đình rồi có một con trai. Cho tới
năm 29 tuổi, ngài sống cuộc đời vương giả khép kín của
một thái tử được truyền ngôi. Thế rồi đột nhiên chứng
kiến cảnh sinh lão bệnh tử của người dân, ngài lặng lẽ
từ bỏ hoàng thành và gia đình để dấn thân vào cuộc sống
của một tu sĩ khổ hạnh.
Mục
đích hành trình tu tập của Tất-đạt-đa là tìm cho ra nguyên
nhân của khổ não của con người và phương cách chế ngự
nó. Trong những kinh sách của thời kỳ đầu này, được ghi
nhớ và viết lại theo lời giảng của Ðức Phật, chúng ta
khám phá thấy một thế giới thương mại với nhiều của
cải. Trong đó, có hiện tượng rất nhiều người tự nguyện
từ bỏ các quan hệ trần gian để theo đuổi cuộc tìm kiếm
có tính tôn giáo riêng tư. Những con người tâm linh ấy, thường
được đề cập tới trong kinh sách như các nhà đạo sĩ khổ
hạnh và các Bà la môn. Ðặc biệt, các cộng đoàn tu tập
cũng thường được sự yểm trợ vật chất của giới nghiệp
chủ thành đạt.
Trên
đường tìm kiếm ấy, Ðức Phật kể lại là đã theo đuổi
nhiều pháp môn khổ hạnh khác nhau của các đạo sư Ấn Ðộ
trước khi tự tu luyện theo cách của mình, và thành đạo
vào năm 35 tuổi. Từ đó, ngài được gọi là Phật, nghĩa
là người giác ngộ, hiểu thấu đáo nguồn gốc của đau
khổ và sinh tử. Ngộ đạo rồi, Ðức Phật tới thành
Varanasi, ngày nay là Benares, vào vườn Lộc Uyển, khởi sự
giáo hóa chúng sinh, bắt đầu với năm người từng có thời
tu khổ hạnh với ngài. Ðó cũng là thời điểm được gọi
theo thuật ngữ Phật giáo là ‘chuyển pháp luân’ và Ðức
Phật có danh hiệu Thích-ca Mâu-ni, nghĩa là Trí giả thuộc
dòng dõi Thích-ca. Theo ghi nhận của Will Durant trong sách đã
dẫn, tr. 92, thì:
‘Ngài
có một cách đặc biệt để thuyết pháp, mặc dầu cách đó
phần nào chịu ảnh hưởng của các nhà ngụy biện lang thang
đương thời. Ngài đi từ châu thành này tới châu thành khác,
cùng với một nhóm đệ tử thân tín và phía sau là cả một
đám đông, có khi tới 1.200 tín đồ. Không bao giờ lo tới
ngày mai, những kẻ ngưỡng mộ dâng thức gì thì Ngài ăn
thức đó, có lần Ngài nhận lời dùng cơm trong nhà một ả
giang hồ, làm cho kẻ tả hữu của Ngài bực tức. Thường
thường Ngài ngừng lại ở đầu một làng nào đó, cắm trại
trong một khu vườn hoặc một khu rừng hoặc bên bờ sông.
Buổi chiều và buổi tối Ngài thuyết pháp. Ngài đặt những
câu hỏi như Socrates, hoặc kể một ngụ ngôn có tính cách
luân lý, hoặc cùng đàm đạo, biện luận một cách lễ độ,
đưa ra những câu ngắn, cô đọng, tóm tắt được đạo của
Ngài để mọi người dễ nhớ. Sutra Ngài thường nhắc tới
nhất là sutra về “Tứ diệu đế”’.
Sau
45 năm giảng dạy như thế, trước khi tịch vào lúc 80 tuổi,
Ðức Phật tuyên bố rằng mình chưa từng nói lời nào. Câu
dạy cuối cùng của ngài là: ‘Tất cả các pháp đều vô
thường, hãy tinh tiến tu học.’
Các
lần kết tập kinh điển
Sinh
thời, Ðức Phật chỉ dùng ngôn từ để thuyết giảng, không
ghi chú thành văn tự, và cũng không có đệ tử nào viết
lại tại chỗ. Ngài thường dùng tiếng Pali. So với Sanskrit
là thứ tiếng có văn bản ngữ pháp, tinh tế và có tính văn
học, tiếng Pali thiếu văn phạm, không tế nhị bằng nhưng
đó là ngôn ngữ bình dân được đại chúng thường dùng.
Theo lịch sử Phật giáo, kinh điển sau đó hình thành và tu
chính qua bốn lần kiết tập.
1.
Tám tháng sau khi Ðức Phật diệt độ, khoảng năm 486 TCN,
có 500 Tì kheo họp đại hội tại thành Rajagrha (Vương Xá)
để cùng nhau tụng đọc những lời nói và việc làm của
ngài. Ðây là lần kết tập kinh điển thứ nhất, dưới sự
chủ tọa của Ma ha Ca-diếp (Kasyapa), nhưng chỉ hợp tụng
chứ chưa viết thành văn. Lần này thành hình Luật tạng và
Kinh tạng. Diễn tiến đại hội được tường thuật trong
Luật tạng.
2.
Lần kết tập thứ hai xảy ra một trăm năm sau, tức khoảng
năm 386 TCN tại Vaisili (Vệ-xá-li) với khoảng 700 Tì kheo. Lần
này cũng vẫn trong hình thức tụng đọc. Biên bản đại hội
này có ghi lại trong Luật tạng.
3.
Lần kết tập thứ ba xảy ra khoảng năm 244 dưới thời vua
Asoka (A-dục) tại kinh đô Pataliputra (Hoa-thị-thành), ngày nay
là Patna. Tuy đã có những phân rẽ bộ phái, nhưng lần kết
tập này, kinh sách được viết thành văn, có đủ cả Tam
tạng: Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.
4.
Lần kết tập thứ tư được tổ chức tại Kashmir, xảy ra
dưới đời vua Kaniska (Ca-nị-sắc-ka) khoảng giữa thế kỷ
thứ nhất và thứ hai SCN. Theo nhiều tư liệu thì lần này,
có khoảng 500 Tì kheo tham dự, mục đích là giảng lại Luận
tạng theo các quan điểm phóng khoáng hơn. Nhiều người cho
rằng đây chỉ là đại hội của Nhất thiết hữu bộ phái;
nhưng về sau, vì phái ấy có ảnh hưởng lớn nên kết quả
của lần kết tập này dần dần được thừa nhận chung.
Tôn
giáo hay triết học
Khó
có thể xếp loại Phật giáo một cách rõ rệt vào một phạm
trù nhất định. Nói chung, ngày nay, Phật giáo được đề
cập như một tôn giáo thế giới, và thường đi kèm với
một số luận cứ chứng minh. Ðã có thời, nhiều người
xem Phật giáo chỉ như một triết thuyết có tính đạo đức
học.
Rất
nhiều người Tây phương, đặc biệt các tín đồ độc thần
thường lấy đức tin và sự tôn thờ Thượng đế làm
tiêu chuẩn ưu tiên để xác định một tôn giáo. Nhìn từ
viễn cảnh ấy, Phật giáo dường như có tính triết học
hơn là tôn giáo vì đạo Phật không đòi hỏi phải có đức
tin vào Thượng đế, cũng như vào sự bất tử, thậm chí
vào sự hiện hữu của linh hồn. Trong các từ điển Phật
học, hầu như không có ba đề mục Thượng đế, Linh hồn
và Ðức tin. Bên cạnh đó, đạo Phật kỳ vọng những người
theo Phật giáo chỉ chấp nhận lời giảng của Ðức Phật
trong chừng mực thân chứng, tức là mỗi người có thể hiểu,
cảm nghiệm và tín nhiệm vào những lời ấy.
Ngược
lại, từ điểm nhìn của triết học Tây phương, dường như
Phật giáo hoàn toàn có tính tôn giáo, đặc biệt bởi chính
Ðức Phật không khích lệ sự suy tưởng trừu tượng các
vấn đề siêu hình. Ngài tuyên bố mình chỉ cống hiến một
con đường thực tiễn, dẫn tới cái nhìn hoàn toàn thấu
suốt vào những gì thật sự hiện hữu. Với cái nhìn thấu
suốt ấy, những tra vấn có tính suy tưởng trở nên không
cần thiết. Và trong sự cống hiến của mình, Ðức Phật
cung cấp một chuỗi các giáo huấn và các thực hành.
Khái
niệm tương liên nối kết
Như
chúng ta sẽ thấy ở phần sau, đặc điểm chủ chốt của
triết học Phật giáo là ý tưởng rằng mọi sự mọi vật
đều phát sinh trong tùy thuộc vào các điều kiện. Ðiều
ấy không chỉ ngụ ý tới thế giới vật lý mà còn tới
khía cạnh đạo đức và con người. Do đó, có thể mô tả
các giáo huấn và thực hành của Phật giáo trong tương quan
với hành động tạo ra các tình huống trong đó có thể phát
sinh cái nhìn thấu suốt và hạnh phúc đồng thời có thể
chế ngự khổ não.
Như
thế, khi nhìn vào triết học Phật giáo, có lẽ ta cần ghi
nhận rằng, nên xem triết học Phật giáo như một sự mô
tả cái nhìn thấu suốt chứ không phải chỉ đơn giản là
kết luận đối với luận cứ có tính lý đoán hoặc sự
suy diễn trực tiếp từ kinh nghiệm. Trái lại, ngay ở cốt
lõi của Phật giáo, có một số lượng các khái niệm tập
trung trên ý tưởng về ‘trạng thái tương liên nối kết’
của hết thảy mọi sự vật; chúng cung cấp một đầu mối
có tính khái niệm cho toàn bộ lối tiếp cận đạo đức
và tâm linh, và chính các khái niệm ấy làm cho Phật giáo
khác một cách triệt để với Ấn giáo và các trường phái
phi chính thống khác.
Thân
chứng giác ngộ
Thực
thế, Phật giáo bảo rằng: ‘Bạn hãy nhìn cuộc đời theo
cách này. Ðấy, nó có làm cho bạn thấy có ý nghĩa hơn không?’
Theo thuật ngữ Tây phương, khi nói như thế, Phật giáo gần
với triết học hơn với tôn giáo vì nó không đòi hỏi trước
hết phải có sự cam kết, mà chỉ yêu cầu hãy khảo sát
trung thực các lời tuyên bố của nó.
Ðiều
đó không có nghĩa Phật giáo không đòi hỏi con người, một
khi đã chọn đi theo con đường đạo Phật, một sự cam kết
tiếp theo nào. Cả người theo chế độ tăng viện – Tì kheo
— cũng như người thế tục tại gia – cư sĩ — cũng phải
có cam kết, tuy nhiên, Phật giáo kỳ vọng sự cam kết ấy
dựa vào niềm xác tín cá nhân chứ không trên ‘đức tin’,
nói theo thuật ngữ Tây phương.
Cũng
cần nhận ra một điểm quan trọng nữa là ngay tự điểm
khởi đầu, triết học Phật giáo đặt cơ sở trên phân tích
kinh nhiệm. Trong Phật giáo, ta thường bắt gặp các từ ngữ
như chứng nghiệm, thân chứng, ấn chứng, chứng ngộ, v.v...
Mục đích của người đi theo đạo Phật được minh họa
bởi chính lời của Ðức Phật Thích-ca là giác ngộ, nghĩa
là vấn đề thấy sự vật đúng như chúng là chúng.
Liên
hệ với tư tưởng Ấn giáo
Một
số người Ấn đánh giá Phật giáo chỉ như một dạng phi
chính thống của Ấn giáo. Trái lại, người Phật giáo xem
những lời giảng họ đang theo là hoàn toàn tách biệt với
truyền thống Ấn Ðộ. Dù đánh giá theo cách nào đi nữa
cũng không thể phủ nhận có hai điểm khác biệt căn bản
giữa Ấn giáo chính thống và Phật giáo.
1. Ấn giáo chấp nhận ý tưởng về một thực tại thiêng
liêng và đơn nhất, đó là Brahman. Thực tại ấy có thể
phô diễn bằng nhiều hình ảnh khác nhau của các nam thần
và nữ thần. Ấn giáo cũng chấp nhận ý tưởng linh hồn
bất tử, tạm trú trong thể xác, và sau khi chết, linh hồn
ấy chuyển tiếp sang kiếp sống khác. Phật giáo bác bỏ cả
thực tại về một Thượng đế hằng cửu — Brahman — lẫn
bản ngã. Không cái gì thường tại: mọi sự đều tương
liên nối kết và ở trong trạng thái liên tục biến đổi.
2. Ấn giáo đặt căn bản trên truyền thống và sự chấp
nhận các kinh Veda. Phật giáo hoàn toàn từ khước mọi thẩm
quyền ngoại tại và quả quyết rằng chỉ nên dựa trên lý
trí và kinh nghiệm để chấp nhận lời giảng.
Chính
những khác biệt căn bản đó, chứ không phải bất cứ chi
tiết nào trong thuyết giảng đạo đức hoặc cách thức thờ
phượng, cho thấy sự tách biệt của Phật giáo với Ấn giáo.
2.
Các
khái niệm cốt tủy
Người
ta có thể tìm thấy thuật ngữ Phật giáo cả trong tiếng
Pali lẫn Sanskrit. Các kinh điển kết tập thành văn trong lần
thứ ba, được viết bằng tiếng Pali và vẫn tiếp tục cho
tới nay trong truyền thống Theravada. Riêng truyền thống Ðại
thừa thường sử dụng tiếng Sanskrit. Các từ ngữ bằng tiếng
Sanskrit hiếm hoi mà chúng tôi dùng ở đây, như đã nói tới
trong lời Dẫn nhập, chỉ để thuận tiện tra cứu và so sánh
với các Ấn giáo và Kỳ Na giáo cũng sử dụng tiếng Sanskrit.
Chỉ trong những trường hợp đặc biệt lắm, chúng tôi mới
dùng từ ngữ Pali để làm nổi bật các khái niệm khác nhau.
Thí dụ trường hợp atman (Sanskrit) dùng cho ‘ngã’ hiểu
theo Ấn giáo, và atta (Pali) dùng cho ‘ngã’ hiểu theo Phật
giáo.
Mười
hai nhân duyên
Mười
hai nhân duyên là khái niệm căn bản của toàn bộ triết học
Phật giáo, cũng là đặc điểm riêng của Phật giáo. Ở đây,
nhân là nguyên nhân chính, làm mầm, thí dụ hạt bắp. Nhưng
để phát triển thành cây bắp phải cần tới các thành tố
khác như dưỡng chất, chăm sóc, v.v... Các thành tố tác động
đó gọi là duyên. Theo Phật giáo, mọi sự vật trong thế
giới này đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra; tự thân mỗi
sự vật không có thực thể, tức là vô ngã, mà chúng ta sẽ
đề cập ở phần nói về ‘Bản ngã’.
Cũng
có thể diễn giải chữ nhân duyên thành:
1. Sự phát sinh có tính tùy thuộc;
2. Sự tương sinh bị điều kiện hóa;
3. Sự tương liên nối kết nhau.
Cũng
có thể diễn tả chúng theo hình thức đơn giản nhất là
‘Cái đang hiện hữu như thế thì phát sinh (khởi); cái không
còn hiện hữu thì chấm dứt (diệt)’. Nói cách khác, sự
vật chỉ thành hiện thực vì các điều kiện nhất định,
và nếu các điều kiện ấy biến đổi thì sự vật ấy sẽ
thôi hiện hữu. Các căn nguyên của chúng thì có tính tùy
thuộc.
Nhìn
bằng cách khác ta thấy, bất cứ cái gì sắp xảy ra thì sẽ
xảy ra như thế vì sự đa dạng của các thành tố đang hiện
hữu. Các thành tố ấy tự chúng tùy thuộc vào các sự vật
khác cũng đang hiện hữu như thế, tuy thế, những cái này
thì tùy thuộc vào những cái khác. Nói cách khác, hết thảy
mọi sự mọi vật đều tương liên nối kết với nhau.
Khi
nhìn vào thế giới, chúng ta — cách riêng những kẻ đứng
từ điểm nhìn của triết học Tây phương — thường có
khuynh hướng phạm trù hóa, phân chia thế giới thành các ‘sự
vật’, rồi xem mỗi sự vật có sự hiện hữu riêng rẽ
của chính nó. Người Phật giáo không nhìn như thế. Ðối
với họ, thế giới hợp thành một mạng lưới vô tận các
điều kiện, và mọi sự hiện hữu chỉ là biểu thị nhất
thời trong một thời gian và không gian đặc thù, của toàn
bộ mạng lưới đó.
Thí dụ minh họa:
Khi
nhìn tới cuốn sách triết này, bạn hãy nghĩ tới các điều
kiện làm cho bạn có khả năng đọc nó. Trước hết, bạn
cần có đủ không khí để thở và đủ ánh sáng để nhận
mặt chữ. Ngay cả mực in cũng phải đều, đừng chữ đậm
chữ nhạt. Sự sống của bạn lệ thuộc vào thức ăn và
thức uống, vào toàn bộ mạng lưới các sự vật thực tiễn
đang duy trì sinh mạng của bạn lúc này, cũng như vào các
thế hệ đôi lứa tiền bối đã gặp gỡ nhau từ trước
thời các vua Hùng, lấy nhau rồi sinh sôi nảy nở tới ông
bà nội ngoại của bạn, rồi họ lại sinh ra cha mẹ của
bạn, rồi cứ thế tới lượt bạn, v.v.
Thử
tưởng tượng một số lượng lớn lao các cơ hội đã quyết
định yếu tố di truyền của bạn. Nó không chỉ đơn giản
là sự hấp dẫn tính dục hoặc ‘ăn nằm’ giữa hai thân
xác, giữa các đôi lứa kéo ngược trở lên các thế hệ
thượng cổ, cứ mỗi đôi lứa trong một thế hệ lại gặp
gỡ nhau trong các tình huống thường ít khi giống hệt nhau,
và mỗi cái mỗi chút khiến họ kết đôi với nhau rồi truyền
đời xuống thế hệ của bạn, thành con người có hình vóc
‘không giống ai’ và tâm hồn ‘không ai giống’ của bạn
hôm nay.
Sau
khi xem xét bản thân, tới lượt bạn xem xét cuốn sách này.
Chất liệu của nó, việc xuất bản nó, việc phát hành nó,
các điều kiện khiến cho tôi viết nó, cuốn sách ghi tên
tôi là tác giả nhưng cái thật sự là ‘của tôi’ có được
mấy phần trăm, và các điều kiện đưa bạn tới việc đọc
nó.
Tóm
lại, về mặt lý thuyết, cần tới một số lượng vô tận
các cơ hội, hoặc các điều kiện, để làm cho bạn có khả
năng chào đời, và khiến cho bạn có mặt ở đây, để đọc
tới dòng chữ này. Và những cái đó tương liên nối kết
với nhau.
Nhân
duyên và định mệnh
Nếu
có cái gì đó trong vũ trụ này là khác thì đưa tới mọi
sự phải khác, vì mọi sự mọi vật tương liên nối kết.
Cũng thế, bạn không thể tách khỏi phần còn lại của thế
giới, bạn là thành phần của thế giới. Bạn hoàn toàn tùy
thuộc vào phần còn lại của thế giới. Khi những điều
kiện làm cho bạn có khả năng sống không còn ở đó nữa,
cũng là lúc bạn thôi hiện hữu.
Có
thể một quan điểm như thế nghe có vẻ định mệnh chủ
nghĩa và tất định chủ nghĩa, nhưng nó không phủ định
sự tự do của con người, vì những hành động hiện tại
của bạn góp phần làm thành cái mà tương lai chứa đựng.
Nếu quả thật mọi sự khác tạo ra sự khác biệt cho bạn,
thì cũng đúng khi nói chính bạn tạo ra sự khác biệt cho
mọi sự khác. Ðặc điểm này của quan điểm Phật giáo rất
đáng tán thưởng khi ta ngẫm nghĩ về mọi hệ quả khả thi
của chọn lựa hoặc hành động hiện thời.
Nội
dung các nhân duyên
Tuy
có vài giải thích khác nhau tùy bộ phái Phật giáo nhưng cả
Tiểu thừa lẫn Ðại thừa đều chấp nhận Mười hai nhân
duyên, cái trước tác động lên cái sau, theo thứ tự đời
sống quá khứ, hiện tại và tương lai. Ở đây, chúng tôi
mượn lối giải thích sáng sủa và ngắn gọn của Thích Minh
Châu & Minh Chi trong cuốn Từ điển Phật học Việt Nam
(NXB Khoa học Xã hội Hà Nội, năm 1991, tt. 426-427).
‘[1] Vô minh: Không hiểu hay hiểu sai sự lý, do đó mà có:
[2] Hành: Hành động tạo nghiệp (hai chi Vô minh và Hành thuộc
về kiếp sống quá khứ). Vì tạo nghiệp nên bị nghiệp lực
lôi cuốn tái sinh ở kiếp hiện tại.
‘Ðầu tiên là:
[3] Tâm thức: còn gọi là kết sinh thức là do đó có thức
mà kết sinh thành bào thai trong bụng mẹ.
[4] Danh sắc: sau đó có hình hài và một vài hoạt động tâm
lí sơ bộ nơi bào thai. Danh chỉ cho những hoạt động tâm
lý sơ khởi. Sắc chỉ cho những hình hài sơ khởi của bào
thai.
[5] Lục nhập: Bắt đầu hình thành đủ sáu căn năng: mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân hình, ý.
[6] Xúc: Bào thai ra khỏi lòng mẹ, sáu căn bèn tiếp xúc với
sáu trần: sắc, thanh, hương vị, xúc pháp.
[7] Thọ: Do tiếp xúc với ngoại cảnh mà sinh ra cảm xúc thích
thú hay không thích thú.
[8] Ái: Do có cảm xúc thích thú mà sinh ra ưa thích, đam mê,
[9] Thủ: Do ưa thích, đam mê mà vơ lấy vào mình, chiếm làm
của mình.
[10] Hữu: Nhưng khi vơ lấy vào mình, làm của mình thì có
hành động, có tạo nghiệp. Như vậy gọi là Hữu, tức là
hiện hữu, tồn tại.
‘Từ
chi [3] cho đến chi [10] là cả cuộc sống hiện tại. Trong
cuộc sống hiện tại này, chúng sinh vừa chịu nghiệp quả
của kiếp sống quá khứ như mang cái thân có sáu căn năng,
có xúc, có thọ, nhưng chúng sinh đồng thời cũng tạo nghiệp
nhân, dẫn tới kiếp sống tương lai. Những nghiệp nhân đó
là ái, thủ và hữu. Ðam mê, vơ lấy, rồi có hành động
tương ứng, là tạo nghiệp nhân cho kiếp sống tương lai.
Và bánh xe luân hồi cứ thế tiếp tục quay mãi. Do tất cả
những nghiệp nhân này mà có đời sống vị lại.
[11] Sinh.
[12] Tử (già chết).’
Ba
đặc điểm của hiện hữu
Mười
hai nhân duyên tác động, làm phát sinh ba đặc điểm phổ
quát của thế giới bị điều kiện hóa mà chúng ta đang sống
trong đó.
1/
Vô thường
Không
có gì cố định; mọi sự đang trong quá trình liên tục biến
đổi. Chúng ta có thể có khái niệm về cái có tính hằng
cửu, chúng ta có thể khao khát cái hằng cửu, nhưng trong thực
tế, mọi sự chúng ta trải nghiệm trong cuộc đời này đều
là đối tượng của biến đổi, và mọi sự đều tùy thuộc
vào các điều kiện đang đang duy trì nó trong sự hiện hữu
của nó.
2/
Vô ngã
Mọi
sự không chỉ đang biến đổi, mà không sự nào là thực
thể, nghĩa là hiện hữu tự thân nó và thuộc về chính nó.
Mỗi vật đang hiện hữu lệ thuộc, trong từng khoảnh khắc,
vào các vật khác. Nhưng sự tương liên nối kết đó còn
hàm ý hơn nữa, rằng không có cái bản ngã (cái tôi) cố
hữu — như cái được Ấn giáo gọi là atman. Cái dường
như, nói theo ngôn ngữ qui ước, là ‘bản ngã’ hay ‘ngã’,
khi nói bằng từ ngữ tuyệt đối, chỉ là ảo giác, trống
rỗng của thực tại.
Triết
học Tây phương đã khám phá ra rằng bản ngã thì khó nắm
bắt; chúng ta không bao giờ có thể tìm thấy cái được gọi
là bản ngã vì chúng đang bị trộn lẫn với cái gì đó khác.
Nói như David Hume, triết gia Anh, ‘khi tôi cố nhìn cho ra ‘cái
tôi’ thì thấy nó luôn luôn mắc míu với một cái gì đó
khác’. Do đó, phần lớn các triết gia Tây phương cho rằng
bản ngã là cái thường lẫn tránh nên khó có thể nắm bắt
nó.
Phật
giáo không có vấn đề ấy. Phật giáo nhìn cá nhân như một
tập hợp, một ‘bó’ của ngũ uẩn: thể xác, cảm xúc,
tri giác, ý muốn và ý thức. Chúng kết hợp với nhau lúc
ta sinh ra và được gọi một cách qui ước bằng một từ
ngữ tổng thể là ‘bản thân’. Khi ta chết, chúng ngừng
thao tác, và như thế, cái ‘bản ngã’ có tính qui ước ấy
thôi hiện hữu. Và thật ra, đối với Phật giáo, nhìn theo
khía cạnh tuyệt đối, người ta không thể tìm thấy một
cái gì không có thật, chưa hề có thật như cái ‘ngã’,
nên mới gọi là ‘vô ngã’.
Giống
như Mười hai nhân duyên, vô ngã đóng vai trò quan trọng tuyệt
đối trong triết học Phật giáo: không có cái gì cố hữu
do đó không có sự hiện hữu hoặc tồn tại độc lập và
thường trực; không có bản ngã cố định. Những nội hàm
có tính gốc rễ của ý tưởng đơn lẻ ấy không chế quan
điểm của Phật giáo về thực tại.
3/
Khổ
Nếu
chúng ta không có bản ngã thường tại và nếu mọi sự đều
đang biến đổi, đều tùy thuộc vào các điều kiện, thì
rõ ràng cuộc đời này không thể không liên quan tới chán
nản, đau đớn và cái chết. Những cái ấy không áp đặt
lên chúng ta từ bên ngoài, chúng là hậu quả tự nhiên của
các hữu thể bị tùy thuộc và cuộc sinh tồn hữu hạn.
Khổ,
hay thường được nói với âm thanh đôi gây ấn tượng: khổ
não, là một từ ngữ bao quát, được dùng để gồm vào tất
cả những gì bất như ý trong cuộc sống. Không có được
cái ta muốn: khổ. Có được cái ta không muốn: cũng khổ.
Thậm chí những cái sung sướng cũng có thể là khổ vì ta
biết chúng không kéo ra dài lâu và không sớm thì muộn, ta
cũng phải buông bỏ chúng. Việc giả vờ cho rằng cuộc đời
này không liên quan tới khổ não bị người Phật giáo đánh
giá là thái độ không chịu đối mặt với thực tế.
Việc
thừa nhận triệt để bản tính của cuộc hiện sinh bị điều
kiện hóa và khổ não từ đó mà ra, chi phối tất cả những
gì diễn ra trên con đường đi theo đạo Phật. Toàn bộ triết
học Phật giáo nhắm tới chế ngự cái khổ: diệt khổ. Cứu
cánh đó không hàm ý rằng Phật giáo tìm cách làm biến đổi
thế giới — điều đó hoàn toàn bất khả thi — nhưng Phật
giáo lập luận rằng việc am tường guồng máy hoặc cơ chế
khiến xảy tới khổ não cùng với phản ứng của con người
phải có đối với khổ não, sẽ tự nó giúp cho con người
chế ngự khổ não. Và vì mọi sự xảy ra là hậu quả của
các điều kiện, nên con đường đi theo đạo Phật là nỗ
lực tu tập để tinh tiến các khả năng tạo ra những điều
kiện trong đó khổ não bị khắc phục.
Tính
hiện sinh của Phật giáo
Ðôi
khi triết học Phật giáo bị giới thiệu bằng một lời phát
biểu ngắn gọn rằng ‘Ðời là bể khổ’, theo nghĩa toàn
bộ cuộc sống là khổ não. Trong ý nghĩa nào đó, câu nói
ấy đúng, vì Phật giáo dạy rằng mọi sự mọi vật đều
bị điều kiện hóa rồi cuối cùng bị hư hoại, và rằng
ngược lại, thái độ giả vờ không biết tới tình trạng
đó là một hành động ảo tưởng có chủ tâm, chỉ dẫn
tới tan vỡ và thất vọng.
Tuy
thế, người chỉ câu nói ấy có thể đưa tới ấn tượng
sai lạc hoàn toàn về triết học Phật giáo. Ðó là lý do
khiến chúng ta sẽ thấy ở phần sau trong chương này, rằng
Phật giáo không có tính tiêu cực mà có tính hiện sinh và
hiện thực. Lời phát biểu về toàn bộ cuộc đời có liên
quan tới khổ não không có hàm ý tán trợ khổ não, mà là
thừa nhận những cái tác động lên cuộc đời, nhằm mục
đích chế ngự chúng. Tự thân Phật giáo không đặt trọng
tâm lên khổ não, mà là trên phương thế chế ngự khổ não.
Tứ
Diệu đế
Có
phần tương tự với cách định bệnh và chữa trị của y
sĩ, Ðức Phật dùng hình thức lý luận thông thường mà đề
ra Pháp của ngài theo dạng các mệnh đề. Mỗi mệnh đề
là một chân lý cao cả và là gốc cơ bản của giáo pháp
nhà Phật. Mệnh đề này đi liền mệnh đề kia làm thành
Tứ Diệu đế, còn gọi là Tứ Thánh đế.
- Khổ đế: Toàn bộ cuộc sống liên quan tới khổ não, bất
như ý;
- Tập đế: Nguyên nhân phát sinh khổ não chính là muốn cho
các sự vật khác với hiện trạng của chúng;
- Diệt đế: Nếu ngưng ham muốn sẽ hết khổ;
- Ðạo đế: Cách loại trừ ham muốn là đi theo Bát chánh
đạo.
Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét nội hàm của mỗi chân lý,
dẫn từ lời giảng của chính Ðức Phật trong bài giảng
đầu tiên tại Lộc Uyển, trích từ Tương ưng bộ kinh.
1/ Khổ đế
‘
Này
chư tăng, bây giờ là chân lý về Khổ đế: sinh ra là đau
khổ, bệnh tật là đau khổ, chết là đau khổ, buồn rầu,
than van, chán nản, tuyệt vọng là đau khổ. Tiếp xúc với
những điều không thú vị là đau khổ, không đạt được
các mong muốn là đau khổ. Nói tóm lại, năm uẩn của dục
vọng là đau khổ’.
Như
đã phác thảo ở trên, chân lý này được xem là sự đánh
giá một cách thực tế thân phận con người. Khổ đế không
hàm ý rằng cuộc sống này trống rỗng hạnh phúc. Thật thế,
Ðức Phật thừa nhận rằng cuộc tìm kiếm hạnh phúc và
tránh đau khổ không chỉ có tính nền tảng của cuộc sống
con người mà còn là của mọi sinh linh. Nó đơn giản chỉ
là sự thừa nhận các nội hàm của việc sống trong một
thế giới mà mọi sự đều tương liên nối kết và đang
liên tục biến đổi. Thực tại có thể không bao giờ đi
đối với giấc mơ của ta, hoặc giả dụ các giấc mơ có
thành hiện thực đi nữa, trạng thái toại nguyện ấy cũng
không kéo dài thường trực.
Một
cách cụ thể, sinh lão bệnh tử và phải xa những gì mình
ưa thích, không đạt nguyện vọng, đều là khổ. Ngũ uẩn
— mà chúng ta sẽ nói đến ở phần sau — là cái giả hợp
thành cái ta, đều là khổ.
2/ Tập đế
‘Này
chư tăng, bây giờ là chân lý về Tập đế: rằng lòng dục
đưa tới sự luân hồi, gắn kết bởi thú vui và lòng tham
muốn, tìm kiếm thú vui ở nơi này nơi khác, đó chính là
dục vọng đam mê tình ái, dục vọng đối với sự sống
còn, dục vọng đối với sự diệt vong’.
Chân
lý thứ hai này, tập đế, không phải là lòng khao khát tự
nhiên những cái duy trì sự sống hoặc mang lại hạnh phúc
cho ta. Nó có nghĩa là khao khát cho cái gì đó được cố định
và cái gì đó có sẵn trong một thế giới không thể nào
có được khả năng ấy. Nói cách khác, nó là một hình thức
mong muốn có tính xung khắc tận nền tảng với cách thế
giới đang hiện hữu.
Có
thể có ba hình thức của tập đế:
a. Tham dục (kamatanha). Chỉ sự khao khát tính dục cũng như
niềm khoái cảm xác thịt. Ðức Phật xem ham muốn tính dục
là một trong những trở ngại chính trên con đường tinh tiến
tâm linh. Theo năm giác quan, có năm loại dục vọng là: dục
vọng dáng vẻ, âm thanh, mùi vị và cảm giác thân xác.
b. Tham sinh (bhavatanha). Tham sống, ao ước được tồn tại
như một cá thể.
c. Tham thành tựu (vibhavatanha). Hình thức tham muốn này có
thể ngụ ý hai điều rất khác nhau. Thứ nhất, có thể có
ý nói tới sự ‘thịnh đạt’. Trong trường hợp này nó
là khao khát có được sự thành công và của cải. Thứ hai,
có thể còn có ý nói tới sự ‘diệt vong’, và như thế
hẳn cũng có ý nói tới lòng thèm muốn được diệt tuyệt,
rời bỏ thế gian này một cách toàn bộ, kể cả tới độ
làm cho mình phải chết. Do đó, vibhatanha cũng có nghĩa là
lối tiếp cận ‘được tất cả hoặc không có gì’, một
thái độ ra sức né tránh bản tính vô thường và tùy thuộc
của cuộc sống bằng cách chọn lựa hoặc cực đoan này hoặc
cực đoan nọ.
Dạng thứ ba ‘tham thành tựu’ hẳn là thèm muốn có được
của cải, nhưng xét theo ngữ cảnh của bài giảng, trong đoạn
nhập đề Ðức Phật nói tới Trung đạo, thì có khả năng
ngụ ý nói tới chủ nghĩa khổ hạnh cực đoan của một số
nhóm phi chính thống mà ngài từng từ khước. Với lối đi
vào ‘Trung đạo’, Ðức Phật bác bỏ mọi cực đoan, trong
đó có hai cực đoan xa hoa và khổ hạnh.
3/
Diệt đế
‘Này
chư tăng, bây giờ là chân lý về Diệt đế: sự tiêu trừ,
dứt bỏ, từ khước, rũ bỏ, cách lìa hoàn toàn dục vọng
đó’.
Như
thế, ‘diệt đế’ có nghĩa là chấm dứt. Nếu tập đế
không còn thì khổ đế cũng không còn. Từ điểm nhìn của
người có đầu óc Tây phương, thường có khuynh hướng thông
giải một cách tiêu cực và lệch lạc chân lý này rằng ‘Nếu
ta không kỳ vọng điều gì vào cuộc sống, ta sẽ không bị
thất vọng’. Người Phật giáo không nhìn chân lý này theo
cách đó, bởi hai lý do dưới đây.
a. Hành động diệt tuyệt thèm muốn thì cũng giống y hệt
bất cứ hành động thèm muốn nào khác, cũng đều dẫn tới
khổ não; như thế, diệt đế không có nghĩa là triệt tiêu
mọi kỳ vọng;
b. Chân lý thứ ba này thường được ngụ ý nói tới như
là Niết bàn, ta sẽ thấy ở phần dưới, là một trạng thái
hạnh phúc và an hòa mà Ðức Phật tha thiết; nó đánh dấu
thời điểm ‘ngọn đuốc căp ba’ tham sân si bị dập tắt,
thay vào đó bằng từ bi, quảng đại và trí huệ.
Như
thế, hành động ‘chấm dứt’ trong chân lý này có hàm ý
để có hạnh phúc chứ không phải là đầu hàng, buông bỏ.
4/
Ðạo đế
‘Này
chư tăng, bây giờ là chân lý về Ðạo đế: con đường dẫn
tới sự tiêu diệt đau khổ, chính là Bát chánh đạo, tức
là nhìn nhận đúng, dự tính đúng, nói đúng, hành động
đúng, sống đúng, nỗ lực đúng, tư duy đúng, tập trung đúng...’
Ðây
là Trung đạo. Và Ðức Phật đề ra tám đặc điểm của
con đường nhà Phật — cách thức diệt khổ, con đường
tám nhánh mà ta sẽ bàn tới ở phần dưới.
Không
hư vô chẳng vĩnh cửu
Ðôi
khi thuật ngữ Trung đạo có thể được dùng để nói tới
con đường trung dung giữa hai cực đoan xa hoa và khổ hạnh,
đi theo gương mẫu của Phật Thích-ca. Nó còn có một bối
cảnh triết học hơn, như một con đường trung dung giữa hư
vô chủ nghĩa (nihilism) và vĩnh cửu chủ nghĩa (eternalism).
Người
hư vô chủ nghĩa phủ định thực tại của vạn vật, kể
cả bản ngã. Ngược lại, người vĩnh cửu chủ nghĩa quả
quyết rằng Thượng đế cùng với linh hồn là các thục tại
tự tồn tại vĩnh viễn, và như thế, tuy có thể nhìn con
người như một sự hiện hữu của linh hồn nhập thể trong
thế giới này nhưng tận nền tảng, nó độc lập với thế
giới.
Ý
tưởng về sự tương liên nối kết và không có sự hiện
hữu cố hữu dẫn tới con đường ở giữa (Trung đạo) này:
nghĩa là vạn vật có thực tại nhưng là một thực tại đầy
biến đổi, luôn luôn tùy thuộc vào các điều kiện.
Cũng
một cách như thế áp dụng cho các khái niệm về các giá
trị. Ðối với người hư vô chủ nghĩa, trong thế giới này
không có giá trị nào. Ðối với người vĩnh cửu chủ nghĩa,
các vật tương xứng với giá trị thường tại của chính
chúng. Ở đây, Trung đạo cho thấy rằng các vật có giá trị
một cách chính xác theo phát sinh của chúng, trong lệ thuộc
với các điều kiện và trong những quan hệ của chúng với
mọi vật khác.
Nói
theo thuật ngữ triết học, quân bình của Trung đạo không
đơn giản là quân bình thỏa hiệp mà là phản ánh cái nhìn
có tính nền tảng của Ðông phương về bản tính của thực
tại bị điều kiện hóa. Trong một thế giới mọi sự đều
tương liên nối kết, vạn vật có sự hiện hữu và sự sống
của chúng chừng nào chúng còn nối kết nhau. Thực tại không
có tính cố hữu trong một toàn bộ duy nhất, cũng không trong
một cá nhân duy nhất nhưng trong một chuỗi biến đổi bất
tận các mối quan hệ nằm giữa chúng.
So
với triết Tây:
Sự
chuyển đổi từ viễn cảnh Ấn giáo sang viễn cảnh Phật
giáo có điểm tương đồng thú vị với sự chuyển đổi
của việc am hiểu ngôn ngữ trong thế kỷ hai mươi của triết
học Tây phương.
Ðầu
thế kỷ hai mươi, người ta lập luận rằng (thí dụ Wittgeinstein
trong cuốn Tractatus) ngôn từ có ý nghĩa trong chừng mực chúng
tương ứng với một số dữ liệu giác quan. Nếu bạn không
thể chỉ tới một cái gì đó — cả về mặt nghĩa đen lẫn
về mặt siêu hình — và nói rằng ‘Ðó là cái mà chữ ấy
biểu hiện”, thì nó không có ý nghĩa. Về sau, người ta
đi tới việc thừa nhận rằng ý nghĩa của ngôn từ xuất
từ sự sử dụng theo các hình thức đa dạng của ngôn từ,
được gọi là ‘trò chơi ngôn ngữ’. Như thế, để hiểu
một từ ngữ, bạn cần nhìn ngữ cảnh sử dụng của nó;
nó đảm trách sự sống và ý nghĩa của chính nó trong ngữ
cảnh đó chứ không cần phải ghim nó vào một số dữ kiện
ngoại tại cố định.
Hai
ngàn năm rưỡi năm trước, Phật giáo đã đi qua một quá
trình tương tự liên quan tới sự hiện hữu của các sự
vật cá thể. Chúng không tự hiện hữu một cách độc lập
— giống như một từ ngữ mà ý nghĩa của nó được bảo
đảm bởi một sự việc ngoại tại nào đó; ý nghĩa của
chúng và thực tại của chúng đến từ sự tương liên nối
kết của chúng.
Bát
chánh đạo
Bát
chánh đạo là một phần trong bài giảng đầu tiên của Ðức
Phật tại Lộc Uyển. Một cách tổng quát, dù tám đặc điểm
của cuộc sống tu tập được Ðức Phật trình bày như những
bước cần đi trên con đường đạo hạnh, nhưng ngài không
dự kiến bước này nối tiếp bước kia, mà phải tìm cách
xúc tiến đồng bộ và đều khắp tám bước để mỗi ngày
một tinh tiến, thế nên cũng có thể hiểu một cách tượng
trưng đây là con đường tám nhánh nhưng chỉ dẫn tới một
điểm đến.
Bát
chánh đạo chủ yếu tiêu biểu cho những đặc điểm của
động thái, lối sống và thực hành tâm linh, nhằm góp phần
lập thành các điều kiện trong đó con người có thể ngày
càng chuyển động tới cùng đích của con đường Phật giáo,
nghĩa là ngày càng có được cái nhìn thấu suốt, thấy mọi
vật đúng như chúng là chúng.
1/
Chánh kiến, hay chánh tri kiến
Nhận
thức, hiểu biết đúng đắn về thiện và ác, khổ não và
nguyên nhân của khổ não, cảnh giới khổ tận và con đường
đạo dẫn tới diệt khổ. Nhánh đường này tham chiếu trở
lại trạng thái tương liên nối kết và các đặc điểm cốt
tủy của nhân sinh quan Phật giáo. Không có chánh kiến, con
đường đạo không có ý nghĩa.
2/
Chánh tư duy
Suy
nghĩ đúng đắn và lập chí hướng đúng đắn dựa trên nhận
thức và hiểu biết đúng đắn. Bước này đưa vào trạng
thái cam kết thực hiện riêng tư của mỗi cá nhân. Không
thể quan tâm tới con đường đạo một cách chữ nghĩa và
lỏng lẻo rời rạc; nó đòi hỏi sự đắm mình vào trong
đó. Cũng không phải là đưa ra những cơ sở đức cao siêu
để chống lại những hiểu biết phù phiếm hoặc suy tưởng
nông cạn, con đường đạo đòi hỏi người theo đạo phải
dấn mình tiến bước ngay cả trong ý nghĩ.
3/
Chánh ngữ
Suy nghĩ đúng đắn đưa tới lời nói đúng đắn. Tránh các
hình thức nói lời dối trá, nói lời cay nghiệt, nói lời
mất thuận hòa hay huyên thuyên líu lo vô nghĩa, v.v. Ngược
lại, phải trau dồi những lời nói trung thực, dịu dàng,
xây dựng, cẩn trọng và có ý tứ, v.v.
4/
Chánh nghiệp
Hành
động đúng đắn. Ở phần cuối chương này, chúng ta sẽ
đề cập tới những giáo huấn đạo đức làm thành nhánh
này. Nay chỉ có thể nói ngắn gọn về những lời ấy rằng:
không làm tổn hại sự sống mà trau dồi lòng từ bi, thiện
ý đối với mọi sinh linh; không trộm cắp mà trau dồi lòng
hào phóng; không nuông chiều các giác quan một cách có hại
mà trau dồi lòng an tĩnh; không nói thành quen những lời lẽ
lệch lạc mà trau dồi lòng trung thực; không làm u ám tâm
trí bằng say sưa đam mê nhưng thực hành sự chú tâm hoàn
toàn.
5/
Chánh mệnh
Sinh
sống đúng đắn, chân chính. Không mưu sinh bằng những nghề
buôn bán gian lận, buôn người, buôn vũ khí, buôn chất độc,
v.v. Rõ ràng người theo đạo được khuyến khích đi theo lối
sống phù hợp với quan điểm có tính nền tảng của Phật
giáo, cách riêng lời giáo huấn được đưa ra về Chánh nghiệp.
6/
Chánh tinh tiến
Nỗ
lực đúng đắn. Cố gắng để giữ cho tiến bộ đúng hướng.
Theo đây, có bốn loại nỗ lực được xem là đúng:
a. Loại trừ các tư tưởng cùng những khát vọng có hại,
đang có sẵn ở trong ta;
b. Ngăn chận không để chúng phát sinh trở lại trong tương
lai;
c. Khích lệ sự phát sinh các tư tưởng cùng những khát vọng
tích cực;
d. Duy trì các tư tưởng cùng những khát vọng tích cực đã
phát sinh ở trong ta.
7.
Chánh niệm
Hoài
tưởng và tâm niệm đúng đắn, dẫn tới trí tuệ bừng sáng.
Chúng ta cũng sẽ xem xét nhánh này trong mục ‘Chiêm nghiệm’
ở phần sau. Một cách căn bản, con đường thứ bảy này
đòi hỏi người theo đạo trau dồi sự nhận biết về thể
xác, cảm xúc, các quá trình diễn tiến tâm thần và các đối
tượng của ý nghĩ. Chánh niệm khởi từ quan điểm có tính
nền tảng của Phật giáo rằng sự thiếu nhận biết đưa
tới khổ não và rằng mục đích của con đường tâm linh
là thức tỉnh hoặc nhận thức đầy đủ — nói cách khác
là trở thành Phật: giác ngộ.
8/
Chánh định
Tập
trung đúng đắn các ý nghĩ, dẫn tới trí tuệ bừng sáng,
giác ngộ và giải thoát. Như chúng ta sẽ thấy ở phần bàn
tới ‘Chiêm nghiệm’ về những loại khác nhau, đóng vai
trò quan trọng trong con đường đạo. Một cách khái quát,
ta có thể nói rằng sự thuần hóa và dịu dàng kiểm soát
tâm trí, làm tâm trí tĩnh lặng và làm hòa điệu những dồn
thúc muôn hình muôn vẻ đến từ vô thức lẫn ý thức và
đang quyết định hoạt động của tâm trí, để qua đó, người
Phật tử có khả năng đi theo con đường đạo. Không có chánh
định, sẽ không có cái nhìn thấu suốt và sẽ thiếu quyết
tâm trong thanh thản tự nhiên — nghĩa là không mang tính cưỡng
bách, kể cả tự mình ép buộc mình. Các bước liên quan tới
ngữ, nghiệp và mệnh chỉ có thể phát sinh từ trạng thái
hội nhập tự nhiên của cái nhìn thông linh và khát vọng.
Con
đường ngã ba
Bát
chính đạo chỉ là một cách sắp xếp để tiện việc tiến
hành nghiệp theo đúng với quan điểm của Phật giáo. Người
ta cũng thường thấy có một lối phân chia khác thành ba phạm
trù Giới, Ðịnh và Tuệ (một lối phát âm khác của Huệ).
Theo Nguyễn Ðăng Thục trong sách đã dẫn, tt 228-229, thì:
‘Nếu
xếp lại đồ biểu Bát chính, căn cứ theo luận lý và tâm
lý của PHẬT, người ta có thể thu lại vào ba mục mật thiết
với nhau:
1. Giới. Gồm chính: ngữ, nghiệp, mệnh;
2. Ðịnh. Gồm chính: định, niệm, tư duy, tinh tiến;
3. Tuệ. Chính kiến.
‘Theo
quan điểm luận lý trí thức ngày nay, người ta đòi hỏi
phải biết rồi mới làm thì phân chia thành chính định lên
trước để đi đến Tuệ là chính kiến, sau cùng mới đến
chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh.
‘Còn
Tư duy và Tinh tiến đều thuộc vào ý chí. Giản dị hơn thì
muốn giải thoát chỉ phải
Tập trung tinh thần
Nhìn rõ sự thật
Ý chí ngay thẳng.’
Trí
huệ siêu việt
Như
thế, có lẽ Tuệ phản ánh hai bước đầu Giới và Ðịnh.
Nhưng theo lối nói thực tiễn, Tuệ là cái tinh tế nhất trong
cả ba vì Tuệ không thể cưỡng bách mà chỉ phát sinh một
cách tự nhiên vào khoảnh khắc tự động và thanh thoát có
cái nhìn thấu suốt, hoặc như là kết quả của việc thực
hành Giới và Ðịnh. Minh triết ấy còn được gọi là Bát
nhã ba la mật đa — Tuệ đáo bỉ ngạn: Trí tuệ độ con
người vượt sông mê sang tới bến giác, hoặc trí huệ siêu
việt — được xem là có thể thành tựu qua ba cấp bậc:
1. Văn tự bát nhã. Ðây là minh triết phát sinh như kết quả
của việc nghe và đọc kinh điển. Nó là minh triết xuất
phát từ và được chấp nhận bởi truyền thống ta đang đi
theo;
2. Thật tướng Bát nhã. Ðây là minh triết triển khai như
kết quả của sự phản tỉnh và ý nghĩ cá nhân riêng tư.
Ðoàn Trung Còn cho rằng đây là ‘Cái linh tri theo tự nhiên
mà mỗi người sẵn có, cái trí sáng thường tồn ở nơi
mỗi chúng sanh’, (Phật học từ điển, bản xuất bản năm
1963, đề mục: Bát nhã).
3. Quán chiếu bát nhã. Ðây là hình thức cao nhất của minh
triết, đến như kết quả của sự am hiểu trong quá trình
thực hành tâm linh. Theo Thích Minh Châu & Minh Chí, (sách
đã dẫn, đề mục: Bát nhã ba la mật đa) là ‘Dùng trí huệ
sáng suốt để suy xét, nhận thức rõ ràng thực thể các
pháp, phân biệt và loại trừ những tà chấp, vọng niệm,
phiền não’.
Rõ
ràng ba cấp bậc ấy đưa dẫn từ thấp lên cao, từ cấp
này lên cấp khác. Trước hết là xuất hiện sự am hiểu
có tính truyền thống, kế đó tới sự phản tỉnh riêng tư
và có ý thức về những am hiểu ấy, và sau cùng, ảnh hưởng
của minh triết được chấp nhận một cách riêng tư nhờ
vào quán tưởng, thiền định và các thao luyện khác, và đúng
thời điểm nhất định, trí huệ siêu việt thẩm thấu cả
tâm trí vô thức lẫn cảm xúc, đưa tới cái nhìn thấu suốt.
So
với triết Tây:
Ở
đây, cần chú ý và đánh giá cao một điểm rất quan trọng,
đó là ‘quá trình gấp ba’ của việc đào sâu trí huệ
trong Phật Giáo. Ðó là điểm làm nổi bật sự khác biệt
giữa triết học Ðông phương và triết học Tây phương.
Tại
phương Tây, nói chung, triết học được xem là vấn đề tranh
luận trí thức và luận lý. Các luận cứ được khảo sát
để đánh giá về mặt luận lý học chúng có nhất quán hay
không. Ngay cả đối với triết học hiện sinh là nơi chúng
ta thăm dò các nội hàm của sự chọn lựa và ý nghĩa cá
nhân riêng tư, mục đích cũng vẫn là đặt mối tương quan
của chúng với nhân sinh quan tổng thể theo cung cách hợp với
lý tính.
Phật
giáo chỉ xem toàn bộ cuộc khảo sát ấy như một điểm khởi
hành, không là sản phẩm chung cuộc. Các lời giảng của Phật
giáo được trình bày như một nền tảng để chiêm nghiệm,
và cho phép những ảnh hưởng vừa vô thức vừa riêng tư
cá nhân được soi rọi lên chúng. Hậu quả là phần lớn
triết học Phật giáo không xuất hiện như thể có tính luận
lý, được mài dũa với lối lập luận nghe có vẻ xuôi thuận
ngôn từ theo kiểu Tây phương.
Như
thế, triết Phật giáo dường như ít khắc nghiệt hơn triết
Tây vì người trình bày có thể sử dụng hình ảnh hoa mỹ
hoặc chuyển tải bằng trung gian của dụ ngôn, truyện kể.
Và nhất là phản ánh được ‘lối tiếp cận ba tầng”
vào chân lý triết học — ở cấp bậc sâu nhất thì không
nhất thiết là cấp bậc có thể diễn tả dễ dàng nhất
bằng ngôn từ hay ghi lại bằng các con chữ chạy trên mặt
giấy.
3.
Bản
ngã
Những
nội hàm của vô ngã
Lời
giảng của Ðức Phật phản ánh thực hành tâm linh và ngôn
ngữ Ấn độ trong thời của ngài, cả cách thức triển khai
lẫn cách thức tương phản. Do đó, có thể thấy quan điểm
của ngài về bản ngã tương phản với đa số các triết
gia Ấn như đã được trình bày ở chương 1.
Nói
chung, Ấn giáo chấp nhận có bản ngã hằng cửu. Atman tuy
liên hệ nhưng, một cách cốt yếu, độc lập với thể xác
vật lý. Thí dụ, trường ca Bhagavad Gita có một đoạn nổi
tiếng trong đó thần Krishna, trong lốt kẻ đánh xe ngựa, giải
thích với hoàng tử Arguna rằng con người không giết cũng
không bị giết trên chiến trường. Thân xác bị hủy diệt
nhưng atman tiếp tục sống mãi. Cũng thế, trong các Upanishad,
vốn có trước Gita, người ta đọc thấy mục đích của cuộc
sống tâm linh là hiệp nhất atman với Brahman — tiểu ngã
hòa nhập làm một vào Ðại ngã hay thực tại tuyệt đối.
Và bản tính của atman chỉ được vén lộ trong sự đồng
hóa của nó với cái tuyệt đối ấy.
Một
trong những nội hàm của quan điểm đó là con người, trên
qui mô lớn, bị cố định bởi bản sắc bất biến của mỗi
người, cái tới lượt nó củng cố những phân biệt đẳng
cấp thế tập và rồi, như có thể lập luận theo lối truyền
thống, dẫn tới định mệnh chủ nghĩa dưới dạng một tình
thế ta không có khả năng hình thành lẫn biến đổi định
mệnh của chính ta.
Trong
khi giảng dạy về vô ngã (anatta), Ðức Phật bác bỏ khái
niệm của Ấn giáo về atman. Bằng lời dạy về tình trạng
tương liên nối kết, ngài hàm ý rằng ‘bản ngã’ (atta)
nào cũng không có thực tại cố hữu và thường trực (thường
tại), nhưng nó phát sinh trong tùy thuộc vào các điều kiện;
vô ngã liên tục biến đổi theo theo các điều kiện biến
đổi, nó sẽ thôi hiện hữu trong hình thức mà nó đang có
vào lúc chết.
Ngũ
uẩn
Theo
lời giảng của Ðức Phật, atta (bản ngã) được mô tả
là sự hợp thành của năm uẩn — năm món tích tụ, hòa hợp
làm thành thân tâm con người. Chúng che khuất chân lý khiến
cho mỗi người phải chịu khổ não luân hồi.
Năm
uẩn ấy là:
1. Sắc uẩn. Sắc thân, chỉ chung mọi thứ vật chất hữu
hình, gồm các giác quan, bốn tay chân và ngũ tạng;
2. Thụ uẩn. Cảm giác. Tác dụng cảm thụ sự vật của tâm
đối với cảnh;
3. Tưởng uẩn. Tưởng tượng. Tác dụng tưởng tượng về
sự vật của tâm đối với cảnh;
4. Hành uẩn. Các hành tướng của tâm. Tác dụng về mọi
thứ thiện ác như tham sân si, v.v. của tâm đối với cảnh;
5. Thức uẩn. Phân biệt hoặc nhận thức, ý thức. Bản thể
hiểu biết phân biệt sự vật của tâm đối với cảnh.
Uẩn
và thân tâm
Nếu
lấy con người, một sinh linh hữu tình, mà xét thì Sắc uẩn
là Thân, còn ba uẩn kia là Tâm. Trong Tâm có Thụ, Tưởng,
Hành; còn Thức thì từ diễn tiến liên hợp giữa Thân và
Tâm. Chân Nguyên & Nguyễn Tường Bách, trong Từ điển Phật
học, NXB Thuận Hóa, năm 1999, phân tích nhân duyên của ngũ
uẩn như sau:
1. Sắc do tứ đại chủng tạo thành, đó là đất, nước,
lửa, gió. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của
các giác quan;
2. Thụ là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là
dễ chịu, khó chịu hay trung tính;
3. Tưởng là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc,
mùi vị..., kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện;
4. Hành là những hoạt động tâm lý sau khi có tưởng, ví
dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh
giác...;
5. Thức bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan:
ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Ngũ
uẩn giả hợp thành ‘cái tôi’
Mỗi
uẩn là một ‘bó’ các hiện tượng nhất thời và đang
biến đổi mà khi đặt cả năm uẩn liền vào nhau, tôi gọi
một cách qui ước là ‘bản thân tôi’.
Trong
khi khảo sát quan điểm của Phật giáo về bản ngã, điều
quan trọng là cần phải đặt sang một bên mọi khái niệm
mang tính nhị nguyên của Tây phương và của các tôn giáo
độc thần về tâm trí và thể xác hoặc linh hồn và thân
xác. Sau khi làm xong chuyện đó, câu hỏi chúng ta đặt ra là:
‘Tôi là cái gì?’
Trước
hết, theo Phật giáo, tôi là một thực thể vật lý đang biến
đổi trên đoạn đường từ lúc chào đời tới lúc lìa đời.
Một thể xác vật chất đòi hỏi thức ăn, nước uống và
dưỡng khí. Một thể xác đang chế biến thực phẩm thành
năng lượng để bảo lưu chính nó. Một thể xác mà sự tồn
tại của nó hoàn toàn tùy thuộc vào phần còn lại của thế
giới vật chất.
Tôi
cũng nhận biết sự nối tiếp của các cảm xúc đang biến
đổi liên tục. Một số dễ chịu; một số khó chịu; một
số không dễ chịu cũng chẳng khó chịu. Các cảm xúc ấy
phát sinh tương ứng với các tri giác, tức là tri thức đến
với chúng ta qua giác quan. Như là hậu quả của các cảm xúc
và các tri giác ấy, chúng ta khao khát, chúng ta quyết định
hành động, chúng ta lập quyết định. Tất cả những cái
đó là ý muốn của chúng ta, chúng lập thành nghiệp, (karma),
của chúng ta và phô bày phản ứng của chúng ta đối với
cuộc sống.
Nhưng
phát sinh như một kết quả của bốn uẩn kia là ý thức.
Có những hình thức khác nhau của ý thức tùy vào bộ phận
giác quan mà trong đó nó phát sinh: thấy, nghe, ngửi, nếm và
sờ, cùng với tâm trí — gọi gọn là Tâm, cái được Ðức
Phật xem là một tính năng; nó là tính năng của tư tưởng,
giống như con mắt cho ta tính năng thấy.
Như
thế, ý thức là một quá trình nhìn, sờ, ngửi, nếm, nghe
và suy nghĩ.
Tâm
là một quá trình
Ðiểm
quan trọng cần ghi nhận rằng không có ‘cái vật’ riêng
biệt được gọi là ý thức. Không có cái tâm riêng biệt
hoặc khác biệt với quá trình tư duy, cũng giống như không
có ‘cái thấy’ khác với quá trình của con mắt nhìn ngó
và ghi nhận độ sáng. Ý thức — hành thức —, cái uẩn
thứ năm và sau cùng của ngũ uẩn, chỉ phát sinh trong tùy
thuộc vào bốn cái uẩn kia.
Do
đó, tâm cũng hoàn toàn không chút nào là một ‘cái vật’.
Ðừng hỏi tâm tôi đâu vì tôi không có ‘cái vật’ ấy
để có thể đưa ra cho bạn ‘ngắm nghía’. Nó là một quá
trình, một santanna. Như những cá thể, chúng ta là tổng số
toàn bộ các hành động của thể xác, ngôn từ và tâm trí
của chúng ta. Việc có một cái tâm hòa điệu hơn nữa, hòa
nhập hơn nữa, nhạy cảm hơn nữa, an tĩnh hơn nữa — cái
mà Phật giáo tìm cách cổ vũ — không hàm ý rằng có một
thực thể tách biệt ‘tên tâm’ nào đó có đủ các phẩm
tính ấy.
Nói
cách khác, gỡ bỏ ý nghĩ thì không tồn tại người suy nghĩ.
Không có linh hồn hoặc bản ngã tách biệt; cái chúng ta gọi
một cách qui ước là ‘bản thân tôi’ chỉ là một tổng
số hết thảy các quá trình qua đó những tính năng cài răng
lược với phần còn lại của thế giới, kể cả các quá
trình tinh thần qua đó chúng ta khái niệm hóa và phản tỉnh
— ngẫm nghĩ — về trải nghiệm của mính.
So
với triết Tây:
Nói theo thuật ngữ triết học Tây phương, lối tiếp cận
này vào bản ngã được gọi là ‘phụ tượng thuyết’ (epiphenomenalism),
tâm trí phát sinh như là kết quả của những hiện tượng
khác và không độc lập với chúng.
Ở đây, điều quan trọng cần ghi nhận là khía cạnh ‘duy
danh chủ nghĩa’ (nominalism) của tư tưởng Phật giáo. Một
cách qui ước, chúng ta đặt ra danh xưng ‘bản ngã’, ‘tâm’,
nhưng việc đặt tên như thế không có nghĩa rằng có một
thực thể tách biệt được gọi bằng cái tên ấy.
Thí dụ, bạn không thể mơ tưởng việc khảo sát trong cùng
một lúc con mắt với thần kinh thị giác và nguồn ánh sáng
nó đang nhìn ngó, và rồi bạn thắc mắc rằng: ‘Bên trên
tất cả những thứ ấy, đâu là ‘cái thấy?’ ‘Thấy’
là danh xưng, cái tên được chúng ta chọn đặt cho quá trình
nhìn ngó. Tâm là tính năng của suy nghĩ và ý thức là danh
xưng chúng ta chọn đặt cho quá trình tư duy và nhận biết.
Chúng ta có thể thăm dò những điểm tương đồng ở đây
với cuốn The Concept of Mind (Khái niệm về tâm trí) của Gibert
Ryle (xem Ðại cương Triết học Tây phương), trong đó ý tưởng
có tính truyền thống của Tây phương về bản ngã hoặc linh
hồn tách biệt được Ryle gọi bằng cụm từ ‘Hồn ma trong
chiếc máy’. Tuy thế, điểm khác biệt chủ yếu là Ryle đi
tới vấn đề ấy từ quan điểm ngôn ngữ học, khi trong đối
với Phật giáo, nó đơn giản chỉ là thành phần của cái
nhìn tổng thể về toàn bộ cuộc sống hợp thành một mạng
lưới tương liên nối kết của các hiiện tượng đang biến
đổi không ngừng.
Cái
‘tôi’ thật là cái gì?
Ðối
với câu hỏi ấy, người Phật giáo có câu trả lời giản
dị. Cái bạn ‘thật’ chính là cái bạng đang là: những
gì bạn đang cảm giác, thấy, nghĩ và chọn lựa để làm
với cuộc đời mình. Không có cái bạn ‘thật’ thường
lãng tránh hoặc khó nắm bắt ở nơi nào khác.
Do
đó, Phật giáo phủ định giá trị của cuộc tìm kiếm bản
ngã tối hậu và bất biến nào đó (atman) khác với cơ thể
tâm sinh lý đang biến đổi không ngừng.
So
với triết Tây:
Tuy sẵn sàng hoài nghi hết thảy những gì được biết tới
bằng giác quan, René Descartes cũng không thể ngờ vực sự
việc ông đang suy nghĩ, do đó, ông kết luận cogito ergo sum:
tôi suy nghĩ tức là tôi hiện hữu. Công tác ông tự đề
ra cho mình đó hẳn bị người Phật giáo coi là vô ích. Ông
tìm cách tách biệt bản ngã với thế giới nhằm loại trừ
hết thảy những gì bị ông xem có thể là cái gì đó khác,
để đi tới một bản ngã (cái tôi) thường trực, độc lập
và căn bản.
Theo lối nói Phật giáo, công tác tách biệt bản ngã khỏi
thế giới là việc không thể nào làm được, vì bản ngã
là thành phần của thế giới; nó hoàn toàn hội nhập vào
thế giới. Descartes ra sức nhìn mọi cảm giác và vân vân
như là thành phần của thế giới vật chất, nhưng ông không
thể tìm thấy nơi tọa lạc của tâm trí — nó là cái gì
đó không giống và không làm một với nảo, do đó, ông lập
nên vực sâu giữa vật chất và tinh thần. Descartes biến vật
chất và tinh thần thành hai thế giới độc lập, được nối
kết nhau bằng một tuyến có hình nón ở trong nảo (tuyến
tùng), vì ông không tìm thấy một nối kết nào đó cho phép
thế giới này tương tác thế giới kia.
Phật
giáo nhìn Descartes
Thực
thế, người Phật giáo hẳn cảm thấy thất vọng khi nhìn
quá trình của Descates, và có lẽ họ sẽ nói rằng:
‘Chỉ
có một thế giới thôi, và ông là thành phần của thế giới
đó; ông sống bên trong nó. Ông là thành phần của thế giới
có những tính năng làm cho ông có khả năng bắt gặp và phản
ứng với phần còn lại của thế giới. Khi những tính năng
ấy thao tác, ông có ý thức. Ðó là cái ông đang là, không
có bí nhiệm nào, không có hồn ma bóng quế nào được tìm
thấy ở nơi nào khác.
‘Bí
ẩn của của bản ngã thường lãng tránh và khó nắm bắt
là chẳng có bản ngã bí mật thường lãng tránh và khó nắm
bắt nào cả. Ông chính xác là kẻ ông đang là, một thực
thể vật chất, cảm xúc, cảm giác, ước muốn, suy nghĩ,
ý thức.’
Không
bản ngã, có nhân vị
Ðây
là tâm điểm tuyệt đối của quan điểm Phật giáo về thực
tại. Không có ‘bản ngã’. Nhưng như thế chẳng có nghĩa
rằng bạn không có nhân vị (personality). Khi bạn hành động
— nói cách khác, khi bạn lập nên một karma (nghiệp) mới
— và phản ứng đối với karma cũ, tức là bạn đang đang
đan dệt một kiểu thức gồm các đặc tính. Ký ức — ý
thức hoặc vô thức — của tất cả những gì bạn trải
nghiệm trong quá khứ, cung cấp thông tin cho các cảm xúc và
các chọn lựa trong tương lai, và cứ thế.
Không
có ‘bản ngã’ chẳng có nghĩa là không có nhân vị. Mọi
sự giống như chúng ta tri giác chúng; bạn là bạn với các
cảm xúc, tư tưởng và các khuynh hướng tập quán của bạn.
Cái hoàn toàn không có mặt ở đó là ý tưởng rằng có một
cái nào đó khác bị người ta gọi là ‘bản ngã’ ở bên
trên quá trình ấy.
Trung
đạo về bản ngã
Trong
khi tìm hiểu sự khác biệt triệt để giữa quan điểm của
Ấn giáo và của Phật giáo về bản ngã, ta cần để ý rằng
Phật giáo cố tránh cái bị nó xem là sai lầm tận nền tảng:
đó là vĩnh cửu chủ nghĩa và hư vô chủ nghĩa.
1. Quan điểm vĩnh cửu chủ nghĩa (Ấn giáo) tách rời bản
ngã khỏi mọi tương liên nối kết. Nó quả quyết rằng bản
ngã có một yếu tính hằng cửu. Có thể nhìn quan điểm ấy
như một nỗ lực nhằm sở đắc sự thường tại và an toàn
trong một thế giới mà thể xác rõ ràng là bị biến đổi
và hư hoại.
2. Ở đầu mút cực đoan đằng kia, chủ nghĩa hư vô chủ
trương ngược lại. Bằng việc phủ định hết thảùy các
giá trị và các ý nghĩa, nó cho thấy hàm ý không có cái được
gọi là bản ngã, và như thế nó có ý nói rằng không có
bất cứ tương liên nối kết nào trong thế giới này.
Cả hai quan điểm ấy đều ra sức biến ‘bản ngã’ thành
một ‘sự vật’ tách biệt, rồi xem xét nó có hiện hữu
hay không, và nếu hiện hữu, bản ngã ấy có thể có bản
tính ra sao? Cả hai xem đó như một cách thức tiếp cận hữu
hiêu vào ‘bản ngã’, nhưng lời giảng của Phật giáo phủ
định cách thức ấy.
Ðối với Phật giáo, hoàn toàn không có khả năng cô lập
bản ngã khỏi các điều kiện và các mối quan hệ trong đó
bản ngã bị quyện chặt và thao tác. Không có các cái đó
thì bản ngã chẳng là cái gì cả; nó chỉ phát sinh trong tùy
thuộc vào các cái đó, và vì thế, nó có một thực tại
đang tương liên nối kết và đang biến đổi.
Có
tương liên mới hiện hữu
Trong
điều vừa trình bày, ta thấy có một điểm rất quan trọng,
không thể bỏ quên. Ý tưởng về anatta: vô ngã, ở đây hoặc
ý tưởng về sunyata: không tính, ở các chương sau vốn thường
được diễn giải là ‘trống rỗng, chẳng có gì’. Và nếu
nhìn từ quan điểm của Tây phương, nó có hàm ý là ‘phi
hiện hữu’ (non-existence). Nhưng trong Phật giáo, cả anatta
lẫn sunyata đều có vai trò tích cực. Có thể diễn tả ‘vô
ngã’ một cách thô thiển như sau.
Bạn
chỉ hiện hữu chừng nào bạn còn chung chia — thể xác của
bạn là thành phần của thế giới vật lý, tư tưởng và
ngôn ngữ của bạn là thành phần văn hóa, các xúc động
của bạn là thành phần của các mối quan hệ, và cứ thế.
Không có sự tương liên nối kết kia, bản ngã của bạn dường
như biến mất, hoặc tạm nói theo thuật ngữ triết học Tây
phương, nó thường lãng tránh và khó nắm bắt.
Triết
học và đạo đức học Phật giáo chỉ trở thành có ý nghĩa
dưới ánh sáng của lập trường ấy. Ðó là triết học của
các nối kết hoặc các hệ quả, của các mẫu thức biến
đổi không ngừng. Nó liên quan tới việc thừa nhận dòng
chảy của cuộc sống mà ta đang dự phần vào đó. Bạn hiện
hữu, theo ý nghĩa qui ước; và để cho tiện đường ăn nói,
người ta gắn nhãn hiệu ‘bạn’ cho những cái đang làm
nên bạn ấy.
Thế
nhưng, ngay cả ở cấp bậc vật lý, đó cũng không thật sự
là cách hiện hữu của những sự những vật đó. Các nguyên
tử làm nên thể xác bạn từng hiện hữu ở một nơi khác
và rồi cũng sẽ hiện hữu như thế nữa; bạn chỉ là cái
tên được đặt cho sự sắp xếp hiện thời của chúng. Hàng
tỉ năm trước đây, trước khi có quả đất, trước khi có
mặt trời, trước khi thái dương hệ này thành hiện thực,
các nguyên tử mà giờ đây đang làm nên thể xác bạn, chúng
đã bị tôi luyện trong các phản ứng hạt nhân diễn ra ở
nhiệt độ cực kỳ cao trong trung tâm của một ngôi sao. Với
cái ‘chết’ của ngôi sao ấy, vật chất bị bung ra muôn
hướng bên ngoài và rồi chúng tái tập hợp. Bạn là sản
phẩm của quá trình đang tái chế đó. Vũ trụ học hiện
đại đưa ra khung cảnh sáng thế ấy — gọi là vụ nổ Big
Bang của vũ trụ — và dường như lý thuyết đó hỗ trợ
cho cái nhìn của Phật giáo.
Một
triết học tích cực
Con
người cá thể, trong khi vì tự vệ mà phải cố tách biệt
với bối cảnh của mình trong một thế giới tương liên nối
kết và đang biến đổi không ngừng, đồng thời bị buộc
phải làm kẻ gánh vác các giá trị, dưới mắt Phật giáo,
đều đáng xót thương. Tương lai của nó rõ ràng là không
tránh khỏi bị thoái hóa và chết. Với một viễn cảnh như
thế, dường như không có gì đáng giá vì mọi thứ đều
kết thúc trong bụi bặm.
Tuy
nhiên, một khi bạn đã quen với cách nhìn vạn vật trong trạng
thái tương liên nối kết của nó thì sức mạnh hiện hành
của khổ não bị gãy đổ. Vẫn cứ tiếp diễn những sinh
lão bệnh tử, nhưng chúng chỉ là thành phần tự nhiên của
thế giới trong đó con người cá thể có những mối liên
kết xuyên thời gian và khắp không gian. Ðó là quan điểm
được trình bày qua các ý tưởng về nghiệp báo, và đặc
biệt về sau, trong những triển khai của Ðại Thừa, về ‘Phật
tính’ trong mọi sinh linh.
Ðó
là lý do, như một triết học trực tiếp và liên quan tới
con người cá thể, có thể Phật giáo là triết thuyết tuyệt
đối tích cực trong sự đánh giá và thưởng ngoạn cuộc
sống, và đồng thời quả quyết rằng thất vọng và khổ
não chỉ có thể đến từ cái được xem như là ảo giác
về một bản ngã hiện hữu và độc lập.
Nghiệp
Thích
Minh Châu đã thi hóa câu thơ xuôi mở đầu Kinh Pháp cú, một
sưu tập sớm sủa nhất những lời giảng của Ðức Phật,
như sau:
‘Ý dẫn đầu các pháp.
Ý làm chủ, ý tạo
Nếu với ý ô nhiễm
Nói lên hay hành động
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.’
Qua
phát biểu kinh điển ấy, ta có thể thấy triết học Phật
giáo không xem sự tương liên nối kết như một cách thao tác
có tính định mệnh chủ nghĩa. ‘Ý dẫn đầu các pháp -
Ý làm chủ, ý tạo’. Dù mỗi sự phát sinh trong tùy thuộc
vào các điều kiện, tự nó cũng lập nên thành phần của
các điều kiện cho phép phát sinh cái kế tiếp. Theo ý nghĩa
ấy, mọi sự đều có thành phần cấu thành đóng vai trò
trong quá trình biến đổi đó.
Bên
trong những giới hạn thể lý của nó, cuộc sống được
hình thành bởi các tư tưởng – các ‘ý’ ấy — và đi
kèm với chúng là các quyết định của bản thân ta và của
những người khác. Không một hành động có ‘ý’ — có
chủ tâm — nào của ta không có hệ quả. Hiểu một cách
đơn giản, karma chỉ có nghĩa là ‘hành động’, nhưng trong
triết học Phật giáo, nó có ý nói tới các hành động được
thực hiện như là kết quả của một việc làm có ý nguyện
và có ý thức. Chính những cái bạn chọn lựa để làm, hình
thành cái bạn đang là. Do đó, có một quá trình liên tục
vừa tạo ra nghiệp mới vừa nếm trải các kết quả của
nghiệp quá khứ.
Các
loại Nghiệp
Nghiệp
và Nghiệp báo là một chủ đề vừa phong phú vừa đơn giản
trong Phật giáo. Nó chiếm không dưới khoảng bốn chục đề
mục bắt đầu chữ bằng Nghiệp trong các từ điển Phật
giáo, thí dụ của Ðoàn Trung Còn hoặc Từø điển Phật học
Hán Việt do Kim Chương Tử chủ biên, (Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội, 1998).
Xét
theo hành động, Nghiệp gồm ba loại:
1. Ý nghiệp: Nghiệp ý nghĩ tạo ra;
2. Khẩu nghiệp: Nghiệp do lời nói tạo ra;
3. Thân nghiệp: Nghiệp do hành vi cử chỉ tạo ra. Thể hiện
cụ thể ác nghiệp như sát sinh, trộm cắp và tà dâm; thiện
nghiệp như phóng sinh, bố thí, đức hạnh đứng đắn.
Xét
theo nguồn gốc, Nghiệp gồm hai loại:
1. Biệt nghiệp: Còn gọi là tư nghiệp, nghiệp cá nhân. Nghiệp
riêng biệât của mỗi người, đi theo mỗi người mà cảm
thành các quả báo khác nhau.
2. Cộng nghiệp: Còn gọi là tổng nghiệp, nghiệp tập thể.
Thích Minh Châu và Minh Chí trong sách đã dẫn, t. 137-138 giải
thích cộng nghiệp là ‘Nhiều chúng sinh tạo ra nghiệp nhân,
và cùng chịu quả báo, gọi là cộng nghiệp của những chúng
sinh đó. Có thể nói cộng nghiệp chung của một gia đình,
một địa phương, một quốc gia, v.v. Nhưng, trong cộng nghiệp
có biệt nghiệp của mỗi chúng sinh. Vd. cùng sinh trưởng trong
một gia đình khá giả, hưởng cộng nghiệp một đời sống
vật chất sung túc nói chung, nhưng biệt nghiệp của mỗi người
trong gia đình đó lại có thể khác nhau: có người khỏe,
có người yếu, bệnh tật, có người thông minh, lại có người
đần độn.’
Không
có yếu tính cố định
Có
khuynh hướng cho rằng cái ta là gì quyết định cái ta làm.
Như thế, nếu bạn là người thiện, bạn được kỳ vọng
sẽ tỏ ra cho thấy cái thiện cố hữu của bạn bằng việc
làm các hành vi thiện — sự hiện hữu của các hành vi ấy
phô bày yếu tính ‘thiện’ của bạn. Ðối với Phật giáo
thì hoàn toàn ngược lại: nếu bạn làm các hành vi thiện,
bạn được gọi là ‘thiện’, và việc làm các hành vi thiện
ấy có thể được nói tới như là cái thiện của bạn.
Thí dụ, bạn không chơi nhạc vì bạn là nhạc sĩ; bạn là
nhạc sĩ vì bạn chơi nhạc. ‘Nhạc sĩ’ không là một yếu
tính cố định, nó đơn giản chỉ là danh xưng được đặt
cho ai đó đang chơi nhạc.
Trong Phật giáo, không có yếu tính cố định. Như thế, cái
bạn sẽ là trong tương lai được quyết định bởi cái bạn
đang là lúc này, bằng việc phát sinh thiện nghiệp hay ác
nghiệp. Theo ý nghĩa ấy, hiện hữu đến trước yếu tính,
hoặc một cách chính xác hơn, yếu tính chỉ đơn giản là
danh xưng được đặt cho các đặc điểm nhất định của
hiện hữu.
Tái
sinh
Dù
theo lối nói đại chúng, người ta thường cho rằng người
Phật giáo tin vào ‘sự tái đầu thai’, thế nhưng sự thật
không hoàn toàn đúng y như thế. Tái đầu thai ngụ ý rằng
có một linh hồn sống trong một thể xác; rồi khi thể xác
chết, linh hồn ấy tiếp tục chuyển động để được ‘đầu
thai’ vào một thể xác khác. Rõ ràng quan điểm ấy không
tương hợp với quan điểm của Phật giáo vốn xem bản ngã
như một tập hợp của ngũ uẩn luôn luôn biến đổi.
Ðối với Phật giáo, cái bạn đang là hôm nay là kết quả
của cái bạn đã là hôm qua, và lần lượt cái hôm nay hình
thành cái ngày mai của bạn. Bạn đang liên tục biến đổi,
đang bị hình thành bởi nghiệp báo của bạn. Thuật ngữ
được Phật giáo sử dụng để chỉ quá trình ấy không phải
là ‘tái đầu thai lại’ mà là ‘tái sinh’(punabhava).
Tái sinh là sinh trở lại vào một cuộc đời sau. Người Phật
giáo hiện đại có khuynh hướng cho rằng thuật ngữ ‘tái
sinh’ chính xác hơn thuật ngữ ‘luân hồi’, vì chữ ‘luân
hồi’ có thể gây ảo tưởng rằng có một linh hồn thường
tại quanh quẩn đầu thai hết kiếp này sang kiếp khác, trong
khi Phật giáo không thừa nhận có một linh hồn bất biến
và tồn tại độc lập với thể xác.
Tuy nhiên, khi chết, toàn bộ mạng lưới tương liên nối kết
và karma của chúng không đơn giản là tới một chung cuộc.
Trong Ðoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, một thi sĩ uyên
thâm Phật học, Vương Thúy Kiều nguyện mang ‘ý’ của nàng
đối với Kim Trọng qua đời sống sau:
‘Tái sinh chưa dứt hương nguyền,
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai’.
Quả thật, mạng tương liên và nghiệp vẫn ở đó. Và cái
bạn chọn lựa làm hôm nay sẽ có tác động nào đó vào ngày
mai, cho dẫu bạn có chết vào lúc nửa đêm! Như thế, Phật
giáo xem nghiệp báo đang tiếp tục cho tới một kết quả
chín muồi trong đời sống tương lai nào đó. Phật giáo không
cho rằng bạn biến mất khỏi thế giới này để nhập vào
một thế giới khác, ở đó bạn có cái thay thế: một sự
hiện hữu linh hồn không thể xác. Phật giáo cho rằng trong
thế giới này, sẽ có những đời sống đảm trách và thao
tác qua karma mà bạn đã và đang tạo ra. Ðiều này được
phô bày như một chuỗi gồm mười hai mắt xích trong một
dây xích theo thứ tự đời sống quá khứ, hiện tại và tương
lai, được gọi là Thập nhị nhân duyên như đã đề cập
ở phần trên.
Hình ảnh đưa ra để minh họa Thập nhị nhân duyên là ngọn
lửa của cây đèn này làm cháy sáng ngọn lửa của cây đèn
kế tiếp. Ngọn lửa thứ hai đứng rời ngọn lửa thứ nhất
nhưng sự cháy sáng của nó tùy thuộc và là kết quả sự
cháy sáng của ngọn lửa thứ nhất, cứ thế tác động mười
hai ngọn. Giữa các cây đèn, không có cái chuyền lửa có
tính vật lý nào, nhưng cái cháy sáng của chúng tương liên
nối kết nhau.
Nhân
duyên qua các đời sống
Ðoàn
Trung Còn trong sách đã dẫn, tt 1783-1784, có ghi lại một cách
phát khởi và diệt tận mà ông nói là đọc thấy trong nhiều
quyển kinh. Chúng tôi xin trích lại đây để làm rõ hơn sợi
dây 12 mắt xích, hoặc 12 ngọn đèn trên, đồng thời, dù
bạn có hoàn toàn đồng ý với lối phân tích này hay không,
cũng cho thấy tính chất phong phú và chứng nghiệm cá nhân
đặc thù của người Phật giáo.
‘1. Vô minh: Từ những Kiếp trước mê muội, tối tăm, nên
tính sai.
2. Hành: Bèn gây nên tội.
(Tới đây là nhơn duyên đời đã qua).
3. Thức: Biết rằng trí mình hiểu là đúng, nên đầu thai
vào bụng mẹ.
4. Danh sắc: Có tượng hình trong thai bào.
5. Lục nhập: Kế đủ mắt, tai, mũi, miệng lưỡi, thân thể,
trí ý.
6. Xúc: Sau khi ra khỏi lòng mẹ, gặp việc này việc kia, biết
bú, ăn uống, cho tới ba bốn tuổi.
7. Thọ: Tới trọng đủ biết thất tình (mừng, giận, buồn,
vui, thương, ghét, muốn), từ 5 tuổi tới 13 tuổi.
8. Ái: Biết thương yêu nhau, mơ ước tình dục, từ 14 tuổi
tới 19 tuổi.
9. Thủ: Có vợ chồng thì cứ mê theo tình dục.
10. Hữu: Coi sự có là chắc, là bền, sanh con đẻ cháu.
(Tới đây là nhơn duyên đời hiện tại).
11. Sanh: Muốn sanh ra nữa đặng có hưởng sự mê dục, khoái
lạc nữa.
12. Lão tử: Rồi thì già cả và chết, kế bị luân hồi trở
lại nữa.
(Tới đây là nhơn duyên đời tới).’
Ý
kiến của Ðức Phật
Một
cách cụ thể, câu hỏi cội nguồn của luân hồi — hiểu
theo nghĩa tái sinh — từ đâu, và con người, giống hữu tình,
có từ bao giờ, đã được nhiều người nêu lên với Ðức
Phật. Ngài tuyệt nhiên không trả lời, không tham gia tranh
luận những vấn đề ấy, vì theo ngài:
a. Chúng thuộc về những câu hỏi vô bổ. Ðáp án của chúng
không giúp ích được gì cho con đường tu tập;
b. Yếu tố chính của luân hồi là ham muốn, hận thù và vô
minh;
c. Các sinh linh khác, hoặc những hình thức tồn tại khác,
không có khả năng nhận thức ba yếu tố ấy, nên không thể
nào chấm dứt được chu kỳ sinh tử luân hồi;
d. Cần phải tái sinh dưới hình thức con người, chúng sinh
mới có thể thực hiện được sự giải thoát khỏi luân
hồi, thoát ra ngoài thế giới vô thường, thành tựu Niết
bàn.
Niết
Bàn
Thế
nhưng người đời sau lại có tranh luận ít nhiều về ý nghĩa
chính xác của từ ngữ Niết bàn. Thông giải theo nghĩa đen,
nirvana trong tiếng Sanskrit hoặc tiếng nibbana trong tiếng Pali,
đều có nghĩa là trạng thái tịch mịch, tịch diệt, theo
nghĩa không còn ánh lửa nào nửa. Tuy thế, nó không có nghĩa
đen là tắt lịm thành tro than, do đó, Niết Bàn không phải
là điểm mà cái tôi thôi không còn hiện hữu, bị ‘chấm
hết’.
Thật ra, Niết bàn được mô tả là điểm ở đó ngọn lửa
ba gốc độc hại tham sân si — hiểu là ham muốn, hận thù
và vô minh như ở trên — bị dập tắt vì không còn nhiên
liệu giữ cho nó tiếp tục cháy. Niết bàn cũng có nghĩa đen
là ‘loại bỏ’, tức là loại bỏ được chu kỳ luân hồi
bằng cuộc chiến thắng ba gốc rễ độc hại tham sân si.
Niết bàn là sự dịu lắng của tất cả Hành, (samskara): ý
định, chủ tâm có thể dẫn tới một tạo tác. Niết bàn
là cảnh giới vô sinh, (asamskritta): không còn bị qui định,
không còn tùy thuộc và nhân duyên, không còn chịu tác động
của qui luật sinh, thành, trụ, diệt.
Nói chung, Niết Bàn tương phản với samsara. Thuật ngữ samsara
dùng để mô tả một thế giới thông thường mà những biến
đổi của nó là kết quả của các nghiệp phát sinh bởi tham
sân si. Samrara là luân hồi, một hành trình như bánh xe quay
lăn không bao giờ ngừng trong cõi vô thường. Toàn bộ quá
trình của nghiệp — dẫn từ hành động này sang hành động
khác, từ tâm trạng này tới tâm trạng khác, từ đời sống
này qua đời sống khác — được đánh giá là không mãn nguyện
một cách cố hữu.
Toàn mãn hay viên thành, hiểu theo thuật ngữ triết học và
tâm linh Phật giáo, xuất hiện vào lúc đạt tới quá bên
kia cảnh giới samsara. Ðiều này không hàm ý chuyển dịch
khỏi thế giới này mà là thành tựu một trạng thái trong
đó con người không bị những gì mang lại khổ não chạm
tới, nó cũng thôi không còn gây khổ đau cho kẻ khác.
Trong truyền thống sớm sủa nhất của Phật giáo, Niết bàn
được nhìn như một điểm tối hậu của con đường tâm
linh và là hệ quả tự nhiên của giác ngộ. Kẻ thành tựu
trạng thái ấy được gọi là A la hán. Còn có một từ ngữ
khác được dùng cho kẻ thành tựu ấy là Như lai (tathagata),
nghĩa là ‘Người đã đến như vậy’ hoặc ‘Người đã
đến và đã ra đi như những Ðức Phật quá khứ’. Ðặc
biệt, đây là tên đệ tử gọi Ðức Phật Thích-ca hay do
ngài tự xưng, một trong mười danh hiệu của ngài.
Giảm
bớt vị kỷ
Như
đã trình bày nhiều lần ở trên, Phật giáo không hàm chứa
niềm tin vào Thượng đế, thế nên không có lối nói hiệp
nhất với một thần linh siêu việt và ngoại tại nào đó
ở điểm kết thúc cuộc hành trình của ta. Ðúng hơn, tính
chất siêu việt của Phật giáo cốt ở quá trình luôn luôn
đi lên theo những cấp bậc của ý thức con người, để tối
hậu dẫn tới giác ngộ.
Nói cách khác, theo triết học Phật giáo, bản sắc vị kỷ
thất bại một cách tối hậu; nó xuất phát từ nhận thức
hẹp hòi về bản tính của bản ngã và của tự thân thực
tại. Bản sắc ấy cũng dẫn tới khổ não vì nó biến ‘cái
tôi thành trung tâm của thế giới’ khiến nó vừa không có
sự tồn tại cố hữu vừa liên tục bị xâm hại bởi các
điều kiện xấu. Từ quan điểm duy trung tâm cái tôi đó,
cuộc sống không bao giờ hoạt động thích đáng và từ đầu
tới cuối, chỉ gồm toàn thất bại và thất bại.
Cuộc truy tầm ngược lại quá trình ấy khiến cho bạn ngày
càng nhận rõ bản tính tương liên nối kết của thực tại,
và do đó, cũng càng ngày càng bớt lấy cái tôi làm trung tâm.
Quá trình này — trái ngược 180 độ với những thèm muốn
vị kỷ vốn dẫn tới sân hận và đặt căn bản trên sự
ngu dốt (vô minh) về bản tính chân chính của các vật —
dẫn bạn tới trạng thái đại hạnh phúc Niết bàn. Căn bản
của quá trình này là sự nhận thức ‘ngày càng bớt vị
kỷ’ về vạn vật; chính sự nhận thức như thế giải phóng
bản thân bạn khỏi thèm muốn và khổ não, đồng thời, như
một hệ quả tự nhiên, khiến cho bạn tránh được hành động
gây khổ não cho kẻ khác. Ðiểm đáng chú ý ở đây là lối
tiếp cận mang tính ‘từ bỏ hoặc cởi bỏ ràng buộc’
của Phật giáo, nghĩa là ‘giảm bớt vị kỷ’ thay vì ‘phát
huy vị tha’ như lối tiếp cận của Tây phương hay của Kitô
giáo, Hồi giáo.
Cảnh
giới Niết bàn
Phạm
vi và tầm mức của ý tưởng Niết bàn trong Phật giáo được
minh họa bằng những danh xưng được dùng để gọi nó. Trong
đó gồm có bất tử (amata), bất hợp thành (asankhata). Ðiều
chắc chắn Niết bàn không có nghĩa là sự diệt tuyệt cái
tôi (the self), mà chỉ là sự diệt tuyệt ảo giác về cái
tôi. Niết bàn cũng còn được mô tả là tự do (mutti).
Cũng không nên nghĩ rằng Niết bàn là một trạng thái trong
đó ta không thể và không còn có những trải nghiệm thông
thường hoặc cảm thấy đau đớn. Ðúng hơn, triết học Phật
giáo cho thấy rằng người đạt tới cảnh giới Niết Bàn
vẫn trải nghiệm các cảm xúc như hoan hỉ, đau đớn hoặc
trung tính. Nhưng không giống như những kẻ chưa giác ngộ,
người ấy thanh thoát với các cảm xúc đó vì họ biết chắc
chắn rằng chúng không thường tại, rồi sẽ qua rồi sẽ
hết.
Người Phật giáo tin rằng kể từ thời điểm ngộ đạo,
Ðức Phật ở trong cảnh giới Niết bàn ấy. Theo truyền thuyết,
ngài qua đời trong một hoàn cảnh khá bất tiện là bị ngộ
độc thực phẩm. Khó có thể kiểm tra tính chất và mức
độ khả tín của truyền thuyết ấy, nhưng ít nhất nó cũng
gợi cho ta thấy rằng ngài, đấng giác ngộ, cũng không được
miễn trừ khỏi những tác động không thể tránh trong sinh
hoạt bình thường.
4.
Luận
tạng
Abhidharma,
Luận tạng, cũng được gọi là Thắng pháp tập yếu luận,
phiên âm theo Hán Việt là A-tì-đạt-ma. Gọi là Thắng pháp
vì kinh ấy vượt lên trên mọi pháp; cũng được gọi là
Vô tỉ pháp vì pháp ấy không gì có thể so sánh. Nộâi dung
chủ yếu của Luận tạng là triển khai các lời giảng của
Ðức Phật ở mức độ cao rộng hơn.
Lai
lịch Luận tạng
Như
đã nói ở phần trên, tám tháng sau khi Ðức Phật nhập diệt,
diễn ra đại hội tập kết kinh điển lần thứ nhất. Chư
tăng gồm 500 vị hội họp tại thành Rajagriha (Vệ Xá) dưới
quyền chủ tọa của Ma-ha Ca Diếp (Kassyapa). Tất cả cùng
kết tập theo lối tụng đọc thành ba bộ kinh, gọi là Tam
Tạng: Kinh, Luật và Luận. Bộ Kinh tạng do A-nan-đà kết
tập từ những bài giảng của Ðức Phật. Luật tạng do Ưu-ba-ly
(Upali) kết tập từ những giới luật tu trì do Ðức Phật
đặt ra cho hàng xuất gia.
Theo
truyền thuyết, Luận tạng do đích thân Ca-diếp kết tập,
cũng từ những bài giảng của Ðức Phật, chuyên về các
đề tài triết học và tâm lý học của Phật giáo. Về sau,
nhiều nhà Phật học cho rằng lần kết tập thứ nhất ấy
chỉ hình thành Kinh tạng và Luật tạng thôi, còn Luận tạng
mãi khoảng ba thế kỷ sau khi Ðức Phật vào Niết Bàn và
Phật giáo bị chia thành nhiều bộ phái khác nhau cùng văn
học abhidharma phát triển mới hình thành.
Lần
kết tập sau cùng của Luật tạng xảy ra đâu đó từ khoảng
năm 400 tới năm 450 SCN. Trong thời kỳ đầu của Phật giáo,
mỗi trường phái Phật giáo có một bản Luận tạng riêng
của mình, tuy thế, bản đầy đủ còn giữ được cho tới
nay là của Nhất thiết hữu bộ, bằng tiếng Hoa và tiếng
Tây Tạng, và của Thượng tọa bộ bằng tiếng Pali.
Quá
trình của các dị bản
Luận
tạng là gốc của mọi trường phái, và được dùng để
luận giải các bài trong Kinh tạng. Luận tạng tìm cách cung
cấp một khung sườn lý thuyết thuần túy và tổng thể cho
Phật Pháp (Dharma), để có thể trình bày Pháp theo cung cách
sáng sủa và dễ lĩnh hội. Ðiều này tương phản với Kinh
tạng có nội dung gồm toàn những sưu tập về lời thuyết
pháp đặc thù của Ðức Phật, được đặt trong bối cảnh
đối thoại của các cuộc gặp gỡ cá biệt. Và vì Kinh tạng
được kể lại sau khi Ðức Phật từ trần, nên khởi đầu
bộ kinh thường có câu tương truyền là của A-nan-đà: ‘Tôi
nghe như vầy...’
Song
song với tường trình của mỗi người, tăng đoàn Phật giáo
cùng nhau thu thập các bản danh sách như một dàn trải quá
trình hệ thống hóa trước đó một số lượng lớn lao những
lời giảng riêng cho cá nhân để hình thành truyền thống
tụng đọc thời sơ khởi. Tới nhiều lần thành văn, đâu
đó khoảng giữa thế kỷ thứ ba TCN và thế kỷ thứ nhất
SCN, mỗi trường phái lại có một bản riêng có lẽ lý do
chính là bởi lối tụng đọc, bối cảnh văn hóa và sự triển
khai của các đại luận sư của mỗi bộ phái, thế nhưng
phần lớn các dị bản ấy đều bị thất lạc. Như đã nói
trên, nay còn hai bản của hai bộ phái lớn.
Ý
nghĩa của Pháp
Pháp,
Dharma, Dhamma, phiên âm Hán Việt thành Ðạt-ma hay Ðàm-ma, là
một khái niệm quan trọng trong Phật giáo. Xét chung Tam tạng,
Pháp có ít nhất năm nghĩa:
1. Qui luật bao trùm vũ trụ, của sự tái sinh do tác động
của nghiệp;
2. Giáo Pháp của Ðức Phật mà người Phật giáo nguyện trọn
đời qui hướng.
3. Giới luật dành cho cuộc sống tu hành;
4. Sự thể hiện thể tính của vạn vật vì các vật cá thể
không có bản ngã cố hữu và cố định: vô ngã.
5. Những thành phần lập thành thế giới hiện hữu, thay thế
cho tư tưởng ‘vật chất’ và ‘nguyên tử’ của triết
học Tây phương. Trường hợp này, pháp không viết hoa và
dùng với số nhiều: dharmas.
Nói
tóm lại, có thể hiểu Pháp là: ‘Tất cả những gì có đặc
tính của nó — không khiến ta lầm với cái khác — có những
khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh trong đầu óc
ta khái niệm về nó’ (theo Phật học Ðại từ điển của
Ðinh Phúc Bảo, lời dịch của Thích Nhất Hạnh – trích theo
Chân Nguyên & Nguyễn Tường Bách, sách đã dẫn).
Riêng thuật ngữ Pháp trong Luận tạng thì như đã nói ở
trên, liên quan tới những triển khai các chủ đề triết học
và tâm lý học, đặc biệt về tâm và các hiện tượng của
tâm.
Không
gì thật hơn Pháp
Ở
phần trước, chúng ta đã thấy lời giảng căn bản về vô
ngã rằng hết thảy những vật phức hợp đều thiếu sự
hiện hữu cố hữu; chúng liên tục là đối tượng của biến
đổi. Ở cấp độ qui ước, chúng ta thấy cá thể con người,
bàn, ghế và tất cả các đối tượng khác của kinh nghiệm
— các khách thể. Tuy thế, ở cấp độ tối hậu của chân
lý, chúng không hiện hữu một cách tách biệt; chúng chỉ
là một phương thế qui ước tụ hội với nhau trong cái giống
như thể ‘một bó’, ‘những miếng’, ‘những mảnh’
đa dạng của cái mà chúng làm nên.
Khi
tiếp tục quá trình phân tích các vật phức tạp thành những
thành phần cấu thành của chúng thì đạt tới cấp độ tận
cùng, ở đó các vật không thể bị phân chia thêm nữa. Chúng
là những khối giản dị xây dựng sự sống – các dharmas.
Luận tạng xem các dharmas là thật một cách tối hậu trong
mức độ các thực thể phức tạp thì không thật.
Thử
nêu một nan đề
Nhìn
theo viễn cảnh hiện đại, có một nan đề thú vị ở ngay
tâm điểm của toàn bộ quá trình phân tích các dharmas.
1. Khi quá trình phân tích ấy tiếp tục, bạn không bao giờ
với tới điểm ở đó bạn chắc chắn mình sẽ có các khối
cấu thành rất căn bản. Thí dụ, có một thời điểm các
nhà vật lý học xem nguyên tử (atom) là căn bản, thế rồi
tới thời điểm xem các hạt bên trong nguyên tử (subatomic
particles) là căn bản, và ngày nay tới thời điểm các hạt
quác hay vi lượng (quark: một trong những phần rất nhỏ mà
người ta cho là hợp thành các hạt căn bản). Rồi trong tương
lai, tới cái gì nữa? Liệu có thể nói rằng hạt quác là
không thể phân chia? Rõ ràng về mặt thuần lý thuyết, không
thể nói rằng quá trình phân tích là có giới hạn.
2. Nói chung, Luận tạng cho ấn tượng rằng thực tại ‘nằm
với’ các dharmas chứ không với các các thực thể phức
tạp do các dharmas làm thành. Như thế, qua phân tích, ta thấy
các vật đúng như chúng thực sự là chúng chứ không phải
như chúng được tri giác một cách qui ước. Nhưng ở đây
có vấn đề rằng chúng ta có thể không bao giờ biết được
mình có với tới thực tại ấy hay không. Lý do vì về mặt
thuần lý thuyết, các dharmas luôn luôn có thể bị chia và
chia ra nữa, thành các dạng thức thậm chí huyền ảo tế
vi hơn. Do đó, thực tại ấy vẫn là lý thuyết, không là
thật sự. Nhưng giác ngộ tức là nhìn các vật đúng như
chúng thật sự là chúng. Do đó, đi theo tính luận lý của
luận cứ này, giác ngộ chắc chắn luôn luôn là lý thuyết,
không bao giờ là thật sự. Có một cách để thoát ra khỏi
tình thế tiến thoái lưỡng nan này là nói rằng giác ngộ
là vấn đề trải nghiệm thực tại và rằng giác ngộ không
nhất thiết giống với sự phân tích thực tại vì ta vẫn
có thể trải nghiệm cái gì đó trong khi không cần phải cóù
khả năng phân tích mọi mặt của nó một cách cực kỳ rốt
ráo.
3. Theo sự tương liên nối kết, các vật phát sinh trong tùy
thuộc vào các điều kiện. Thực tại của chúng đã không
cố hữu mà còn tùy thuộc vào các điều kiện ấy. Nếu mỗi
vật chỉ trở thành chính nó trong nối kết với cái toàn
bộ — vì về mặt lý thuyết, mọi vật này ảnh hưởng lên
mọi vật khác, thế thì thực tại ‘nằm với’ cái toàn
bộ và ở trong quá trình qua đó cái toàn bộ tác động cho
các vật cá biệt phát sinh, chứ không ‘nằm với’ các vật
cá biệt. Nếu lập luận này là đúng, thì việc phân tích
các dharmas để am hiểu thực tại có chút nào đó giống với
việc đếm các bytes cá thể của bộ nhớ trong máy điện
toán để hiểu chương trình phần mềm ấy, thí dụ ta kiểm
tra thấy chương trình Microsoft Word chiếm khoảng 80 MB, và như
thế ta nghĩ mình đã hiểu chương trình ấy là gì.
Nên
hiểu theo cách khác
Có
lẽ nên nhìn toàn bộ tiến trình phân tích mang tính Luận
tạng như một quảng diễn cá biệt của Phật giáo về câu
chuyện trong Chandogya Upanishad về chàng thanh niên Cvetaketu bửa
hạt vả để cuối cùng, đi tới điểm bản ngã đồng hóa
với yếu tính vô hình (xem chương 1).
Phân
tích vào sâu các dharmas là cuộc truy tầm thực tại. Tuy thế,
điểm rất riêng biệt của Phật giáo là kết luận rằng
mọi sự được ‘đặt vào nhau’ là sự trống rỗng —
không tính — của tự tồn tại, và chúng chỉ là một phức
hợp, do đó, chúng có khả năng bị biến đổi.
5.
Các
trường phái Phật giáo thời kỳ đầu
Vì
không có tín điều cố định, hay nói đúng hơn, vì khích
lệ sự thẩm tra cá nhân, Phật giáo hoàn toàn không thể tránh
khỏi tình trạng triển khai thành một chuỗi các truyền thống
triết học đa dạng ở cấp độ rộng lớn và vào một thời
điểm chắc chắn sẽ đến. Hơn nữa, cùng với thời gian
trôi qua và công cuộc truyền giáo trên các miền đất khác
nhau của nước Ấn cổ đại bao la, Phật giáo cũng không khỏi
mang vào mình những hiện tượng tôn giáo và văn hóa mới,
được thông giải dưới ánh sáng của những lời giảng đặc
thù của đạo Phật.
Thật
ra, từ khi Ðức Phật nhập diệt, Phật giáo đã có phân chia.
Ở đây, chúng tôi dùng chủ yếu thuật ngữ ‘truyền thống’
để nhấn mạnh khía cạnh triết học, thay cho cho chữ bộ
phái như các học giả Phật giáo thường dùng. Phần quá trình
diễn tiến phân rẽ, các chi tiết về giáo lý và giáo luật
đặc thù cùng những nhân vật liên hệ sẽ được bàn tới
nhiều hơn trong bộ sách Lịch sử các tôn giáo thế giới
của cùng một tác giả.
Ba
truyền thống
Về
mặt danh xưng, Nam tông và Bắc tông là danh từ địa lý; Tiểu
thừa và Ðại thừa để chỉ căn bản khác biệt của tư
tưởng và giáo lý giữa các bộ phái. Nói chung, người ta
thường chia Phật giáo thành ba thừa, hoặc ba cổ xe.
1. Tiểu thừa. Cổ xe nhỏ. Hai tiếng Tiểu thừa bị coi là
khá xúc phạm, có hàm ý chê bai là hẹp hòi nên trong kỳ Hội
nghị Phật giáo Thế giới họp tại Katmandu, Nepal năm 1956,
đại hội đề nghị thay vào bằng lối gọi ‘Phật giáo
Nguyên thủy’. Ở đây, thỉnh thoảng chúng tôi có dùng là
chỉ để tiện trình bày trong một bối cảnh lịch sử nhất
định. Ðại biểu của phái Tiểu thừa cho rằng họ theo sát
những lời giảng nguyên thủy của Ðức Phật. Tiểu thừa
còn được gọi là Nam tông Phật pháp vì thịnh hành tại
các nước nam Á như Sri-Lanka, Thái Lan, Miến Ðiện, Campuchea,
Lào và Nam Việt Nam.
Theo truyền thuyết, Tiểu thừa gồm 18 bộ phái khác nhau, nhưng
truyền thống chính kéo dài cho tới nay là Theravada, có nghĩa
là truyền thống Trưởng Lão bộ hay truyền thống Thượng
tọa bộ.
2. Ðại thừa. Cổ xe lớn. Tuy tư tưởng của trường phái
này đã có dấu vết từ trong Kinh điển của các bộ phái,
kể cả Thượng tọa bộ và Ðại chúng bộ trong thời kiết
tập, nhưng phải đến thế kỷ thứ nhất TCN, mới xuất hiện
một cách có hệ thống. Phái này tự cho mình là cổ xe lớn
vì dựa vào tính đa dạng về giáo pháp để mở đường cho
một số lớn chúng sinh có thể tu tập và giác ngộ.
Ðại thừa xuất phát phần lớn từ hai nhánh của Tiểu thừa
là Ðại chúng bộ và Nhất thiết hữu bộ. Sau đó, cũng chia
ra thành nhiều bộ phái khác nhau. Ðược gọi là Bắc Tông
vì Ðại thừa từ Ấn Ðộ truyền qua Tây Tạng, Trung Hoa,
Triều Tiên, Nhật Bản và Bắc Việt Nam. Chúng ta sẽ có hẳn
một chương bàn về Ðại thừa.
3. Kim cương thừa. Cổ xe kim cương. Còn gọi là Chân ngôn
tông. Kim cương thừa xuất hiện trong khoảng thế kỷ 5 hoặc
6 SCN tại Bắc Ấn Ðộ. Truyền thống này bắt nguồn từ
Ðại thừa nhưng lấy thêm những phương pháp tu học huyền
bí, có tính bí truyền sư môn. Giáo pháp của Kim cương thừa
mang tính chất Mật giáo, bao gồm các yếu tố Yoga và các
tôn giáo tự nhiên của Ấn hòa trộn với tư tưởng Phật
giáo, nên cũng được gọi là Mậât Tông.
Kim cương thừa được truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật
Bản. Chúng ta sẽ bàn tới riêng trong một chương ở phần
sau.
Dù truyền thống nào cũng tuyên bố rằng mình trở về nguồn
cội lời giảng của Ðức Phật, nhưng về mặt lịch sử,
có lẽ các học giả chấp nhận một cách rộng rãi rằng
truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, được truyền xuống
chúng ta qua kinh điển Pali, với bộ sưu tập cổ nhất còn
tồn tại của kinh điển Phật giáo, và được gìn giữ cho
tới hôm nay trong truyền thống Theravada, là biểu hiện gần
gũi nhất mà chúng ta có thể có đối với Phật Pháp.
Truyền
thống Trưởng lão bộ
Trong
lần tập kết thứ hai, một đại hội của các thủ lãnh
các tăng đoàn Phật giáo vào khoảng năm 345 TCN, có sự nứt
rạn căn bản giữa truyền thống Ðại chúng bộ, những người
muốn có sự thông giải rộng rãi hơn các thực hành tu tập,
và truyền thống Trưởng lão bộ, những người chủ trương
duy truyền thống. Trong số các phái thuộc Trưởng lão bộ,
đại diện duy nhất còn tồn tại tới hôm nay là truyền thống
Theravada, nay được gọi một cách qui ước là Phật giáo Nguyên
thủy.
Truyền thống Trưởng lão cho rằng Ðức Phật là một con
người thông thường và rằng các đệ tử đã giác ngộ của
ngài, được gọi là A-la-hán, cũng có sự thành tựu ngang
với ngài. Họ cổ vũ những chiêm nghiệm phân tích, thường
được gọi tổng quát là quán tưởng, liên quan tới sự phân
tích có hệ thống các dharmas, và có khuynh hướng bác bỏ
bất cứ cái gì bị họ xem là chi tiết tỉ mỉ hoặc suy tưởng
liên quan tới Ðức Phật.
Người theo Trưởng lão bộ cho rằng cái chúng ta tri giác bằng
giác quan là thế giới ngoại tại và độc lập với việc
chúng ta đang tri giác nó. Các trải nghiệm của chúng ta không
là những biểu hiện mà từ đó chúng ta phải suy ra các sự
việc ngoại tại; chúng là những sự việc ngoại tại, chúng
ở đó, như được chứng nghiệm qua các giác quan của chúng
ta. Do bởi sự thực hành phân tích trong quán tưởng, ta ngày
càng, một cách đơn giản, nhận biết hơn những tinh tế của
cái đang hiện hữu.
Những kẻ đối lập với họ, tức là truyền thống Ðại
chúng bộ, cho rằng tính chất thông thường bên ngoài của
Ðức Phật thật ra chỉ là ảo giác, và rằng trong thực tế,
ngài vượt lên trên sự bình thường; ngài chào đời bằng
cách bước xuống từ cạnh sườn bên phải của người mẹ
và không có những tạp chất bình thường. Lối tiếp cận
này là điềm báo trước các trường phái Ðại thừa trong
Phật giáo. Cách riêng, họ bắt đầu phát biểu về Ðức
Phật như là đấng có một quá trình phát triển băng qua nhiều
lần chào đời khác nhau, trong mỗi kiếp được gọi là Bồ
Tát — vị Phật tương lai — đều triển khai tâm linh của
ngài. Khái niệm ấy mở đường cho việc quan tâm tới nhiều
hình ảnh khác nhau của Ðức Phật.
Trường
phái Nhất thiết hữu bộ
Trường phái này tách rời từ Trưởng lão bộ, vào thế kỷ
thứ ba TCN. Có thể tóm gọn triết thuyết riêng biệt của
Nhất thiết hữu bộ trong cụm từ ‘savam asti: mọi sự đều
hiện hữu’. Người theo truyền thống này lập luận rằng
hết thảy các dharmas đều hiện hữu nhưng theo ba ‘thời
kiểu’ (mode) khác nhau: quá khứ, hiện tại và tương lai.
Có thểâ minh họa cho ‘thời kiểu’ ấy bằng lối ta sử
dụng động từ trong tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Tùy thời
điểm mà động từ ấy được ‘chia’ một cách khác nhau,
theo thể quá khứ, thể hiện tại và thể tương lai.
Theo Nhất thiết hữu bộ, khi nhớ lại điều gì đó từng
xảy ra trong quá khứ tức là bạn đang thật sự có tri thức
về dharma hiện tại, nhưng đó là cái hiện hữu theo ‘mode
quá khứ’. Thí dụ, như trong tiếng Anh, cái đó không còn
là không còn là ‘it is’ mà là ‘it was’. Họ lập luận
rằng sự hiện hữu của mọi sự vật trong cùng một lúc
theo cách ấy, cung cấp nền tảng cho luật nghiệp báo, vì
nguyên nhân và kết quả cùng nhau hiện hữu trong cùng một
thời điểm cho dẫu khác nhau về ‘mode thời gian’.
Hai đặc điểm khác của truyền thống Nhất thiết hữu bộ
được triển khai trong truyền thống Ðại thừa, và sẽ được
xem xét ở đây. Một là hình ảnh đại chúng về Bánh xe Luân
hồi. Hai là ý tưởng rằng chúng sanh, Phật-sẽ-thành, nên
thực hành Lục độ. Sáu hạnh phải tu tập tới chỗ hoàn
thiện ấy gồm có: bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
quán tưởng và trí huệ.
Phái Nhất thiết hữu bộ đương thời rất thịnh hành ở
Kashmir và Gandhara. Họ giữ vị trí chuyển tiếp giữa Tiểu
thừa và Ðại thừa. Cuộc kết tập kinh điển lần thứ tư
tại Kashmir được xem là đại hội của 500 Tì kheo phái này,
đưa ra những đại chú giải với quan điểm phóng khoáng hơn
về Luận tạng, mà về sau, dần dần được thừa nhận chung.
Phái có điển lễ riêng, soạn bằng tiếng Sanskrit. Ngoài Tam
tạng, kinh sách chính của Nhất thiết hữu bộ là Câu-xá-luận
của Vasubandhu (Thế Thân, 316-396 SCN) và Ðại-tì-bà-sa-luận
(Ðại chú giải) được soạn thảo dưới sự chủ trì của
Vasumitra (Thế Hữu), khoảng đầu thế kỷ 2 SCN.
Truyền
thống Kinh lượng bộ
Truyền thống Kinh lượng bộ tách ra từ Nhất thiết hữu
bộ khoảng năm 150 TCN. Ðúng với danh xưng của phái, truyền
thống này phản bác Luận tạng của các trường phái khác;
họ chỉ đặt nền tảng trên Kinh tạng. Người theo Kinh lượng
bộ lập luận rằng các dharmas chỉ là nhất thời và chúng
không thể hiện hữu trong ba ‘thời kiểu’, và rằng khi
bạn nhận thức điều gì đó, tất cả những gì bạn nhận
biết chỉ là các hình ảnh trong tâm trí. Quả thật có thể
dharma làm phát sinh hình ảnh tâm trí ấy, nhưng ta không thể
nào có bằng chứng độc lập về nó, vì vào thời điểm
ta có hình ảnh ấy, dharma đã biến mất.
Kinh lượng bộ cho rằng mỗi hiện tượng thật ra chỉ hiện
hữu trong một sát-na — khoảnh khắc cực ngắn, đơn vị
thời gian của một niệm, một ý nghĩ. Mỗi quá trình chỉ
là những tiếp nối các sát-na, nên thông qua thời gian, quá
trình chỉ là ảo ảnh; và Niết bàn chỉ là sự tịch lặng,
trong trạng thái tư duy đã bị phủ nhận.
Như thế, truyền thống Kinh lượng bộ bác bỏ lý thuyết
của Nhất thiết hữu bộ cho rằng ‘mọi sự đều tồn tại’.
Kinh lượng bộ xuất phát từ nguyên tắc lấy sự hiện hữu
của ý thức làm cơ sở cho đời sống con người, đi từ
hiện thân này sang hiện thân khác. Nó coi ý thức là giá đỡ
cho chu kỳ luân hồi, bốn uẩn Sắc Trụ Tưởng Hành chìm
xuống trong Thức, và khi một cá nhân chết thì sẽ tồn tại
trong ‘ý thức’ đó. Quan điểm về sự tồn tại của Thức
này báo trước những triển khai trong Duy thức tông.
Có
vấn đề cần giải quyết
Ở đây, nổi lên ít nhất hai vấn đề:
a. Nếu các dharmas không liên tục, làm thế nào luật nghiệp
báo có khả năng thao tác?
b. Làm thế nào cái không còn hiện hữu lại có khả năng
tác động lên trạng thái hiện hữu của tôi?
Kinh lượng bộ đưa ra câu trả lời rằng các hành động
‘tỏa hương’ vào trạng thái tâm trí đang tiếp diễn của
ta, và do đó, ảnh hưởng lên những gì sẽ xảy ra về sau.
Quan điểm này, như ta sẽ thấy, hẳn đưa tới sự phát sinh
quan điểm Ðại thừa về sau, cho rằng các ‘mầm’ được
gieo cấy bởi hành động hiện tại, đang chờ để chín muồi
ở một thời điểm thích đáng trong tương lai.
So với triết tây:
Giám mục Berkeley có một quan điểm tương tự Kinh lượng
bộ. Ông cho rằng tất cả những gì chúng ta có thể biết
chỉ là các tri giác của chúng ta, và rằng không thể nào
nói rằng cái gì đó là hiện hữu nếu không có ai đó đang
tri giác nó. Nói cách khác, nói rằng cái gì đó hiện hữu
tức là cho rằng nó có thể được tri giác. Trả lời câu
hỏi ‘Cái cây đứng một mình ngoài đồng không mông quạnh
không người nào tri giác thì sao?’ Berkeley trả lời rằng,
‘Lúc ấy Thượng đế đang tri giác’. (Xem Thuyết thực chứng
luận lý trong Ðại cương Triết học Tây phương).
Lối tiếp cận của Kinh lượng bộ cũng có những tương đồng
với sự phân biệt của Kant giữa hai cảnh giới: bản thể
và hiện tượng, và các vật-tự-thân vẫn tồn tại một
cách cốt yếu mà ta không có khả năng biết tới.
Tạm
kết luận
Có nhiều chi phái — theo Phật sử, ít nhất là hai chục —
của các bộ phận vừa kể, liên quan tới mô tả bản tính
của tri giác và của thực tại. Tình trạng muôn hình muôn
vẻ ấy là sự kiện tự nhiên; nó hợp lẽ tiến hóa và cung
cấp con đường tự do, thoát ra khỏi những chủ trương duy
chính thống cứng nhắc về thông giải giáo thuyết, và đồng
thời nó đòi hỏi người theo đạo phải khảo sát để đi
tới xác tín bằng và cho cá nhân riêng tư của mình.
Một trong các nhà tư tưởng biểu hiện chủ yếu cho cốt
tủy tư tưởng Phật giáo thời kỳ đầu này là đại luận
sư Buddhagosha (Phật Âm), thế kỷ 4 SCN. Ông xuất thân từ
một gia đình Bà-la-môn, rồi đi theo đạo Phật, sang Tích
Lan theo học truyền thống Thượng tọa bộ (Theravada). Tác
phẩm chính của ông là Visuddhi-magga (Con đường thanh tịnh)
cung cấp sự tổng hợp các lời giảng trong kinh điển bằng
tiếng Pali.
6.
Chiêm
nghiệm
Phật giáo không đặt căn bản trên niềm tin vào Thượng đế
nhưng trên trạng thái ngày càng tinh tiến nhận thức thực
tại và sống phù hợp với các cái nhìn thấu suốt sở đắc
được trong quá trình ấy. Do đó, trong Phật giáo, những thực
hành tinh thần không mang hình thức kinh nguyện dâng lên đấng
thần linh ngoại tại nào đó để cầu xin phù trợ, mà là
những thao luyện được đề ra để trau dồi khả năng bén
nhạy và sự nhận thức sâu xa, cao cả.
Hai
hình thức căn bản
Trong đạo Phật, có nhiều hình thức chiêm nghiệm, nhưng có
thể chia chúng thành hai dạng thức cơ bản:
a. Chỉ: Tịnh chỉ. Nỗ lực nhằm triển khai trạng thái an
tĩnh, chú tâm.
b. Quán: Quan sát rốt ráo bằng trí tuệ. Nỗ lực nhằm triển
khai cái nhìn thấu suốt thực tướng, tức là bản tính của
thực tại, của vạn vật.
Trong truyền thống Phật giáo, hai hình thức ấy về sau được
triển khai và gia tăng bằng hình dung hóa và các thao luyện
khác. Ðó là lý do chúng tôi dùng thuật ngữ ‘chiêm nghiệm’,
như một cách hiểu trầm tư mặc tưởng, để có thể nói
tới tất cả những thực hành tu tập ấy, bao gồm cả quán
tưởng, tham thiền, nhập định, v.v. mà một số phương pháp
sẽ được lần lượt xem xét trong các chương nói về Ðại
thừa, Mật tông và Thiền tông.
1.
CHỈ (SAMATHA)
Thực hành căn bản nhất của Chỉ là ‘chú tâm đúng’ hoặc
‘chú tâm hoàn hảo’. Chỉ là phương pháp làm cho tâm không
còn tán loạn, tập trung chuyên chú lâu dài vào một đối
tượng để chuẩn bị cho sự am hiểu thấu suốt toàn bộ
sự thật — thực tướng — của đối tượng ấy. Hành giả
dựa vào Chỉ mà đoạn lìa vọng niệm, ổn định tâm viên
ý mã. Tâm không còn tán loạn nghĩa là tâm trở nên sáng suốt.
‘Chú tâm hoàn hảo’ — tiếng Sanskrit là smrti, tiếng Pali
là sati — nghĩa đen là niệm, hoặc nghĩ nhớ hoặc ghi khắc,
có ý nói tới quá trình diễn tiến trong đó tâm trí con người,
một cách ý thức, tìm cách nhận biết chính xác, trực tiếp
và lập tức thể xác, cảm xúc, các diễn biến tâm thần
hoặc các đối tượng của ý nghĩ. ‘Chú tâm đúng’, ‘chú
tâm hoàn hảo’ là vấn đề nhận biết rành mạch cái đang
là, xảy ra trong khoảnh khắc hiện tại trong khi vẫn toàn
thân vẫn gắn liền với khoảnh khắc ấy.
Bốn
niệm xứ
Hiểu theo cách ấy, người ta có thể thực hành Chỉ bằng
bốn chú tâm căn bản, thường được gọi là Bốn niệm xứ.
1. Chú tâm vào thân thể. Tập trung vào việc hô hấp gồm
thở vào và thở ra. Tập trung vào bốn thái độ tâm thần:
đứng, ngồi, nằm hay đi. Có ý thức rõ ràng về hết thảy
các hoạt động của mình, ngắm 32 bộ phận của thân thể,
phân tích các yếu tố thể chất và nghĩ tưởng về sự hư
hoại của chúng.
2. Chú tâm vào cảm giác. Nhìn kỹ cảm giác theo các loại:
dễ chịu, khó chịu, dửng dưng, tự nhiên, và siêu nhiên.
Thấy rõ ràng tính vô thường của các cảm giác.
3. Chú tâm vào tinh thần. Nhìn kỹ các trạng thái mới xuất
hiện của ý thức. Xem chúng là tham lam hoặc dửng dưng, oán
ghét hay không chút nào oán ghét, mù quáng hay không mù quáng,
v.v.
4. Chú tâm vào đối tượng tri giác tâm thần. Ý thức về
tính ngẫu nhiên và tính phi lý của các sự vật. Biết rõ
mọi dharma (pháp) đều tương liên nối kết, đều vô ngã.
Biết rõ tâm thần mình đang bị hay không bị uế nhiễm năm
chướng ngại: tham, sân hận, buồn ngủ mệt mỏi, hối tiếc
khó chịu, và nghi ngờ. Biết rõ con người chỉ là Ngũ uẩn
đang thao tác. Hiểu rốt ráo Tứ diệu đế.
Ðối với Ðại thừa, bốn niệm xứ được tiến hành cũng
trên các đối tượng ấy, nhưng xem thân thể (thân), cảm
giác (thụ), tinh thần (tâm), đối tượng tri giác tâm thần
(pháp) được coi là trống rỗng (không tính) tận nền tảng.
Ðối
tượng là bản thân
Dù hiểu thế nào đi nữa về vị trí của chiêm nghiệm trong
Phật giáo và tính chất triết học nằm đằng sau nó, sự
nhận thức tại chỗ và tức thời cũng vẫn là điểm quan
trọng nhất trong thao luyện ấy. Từ trải nghiệm lập tức
và tại chỗ, hành giả có khả năng lùi lại và sở đắc
sự nhận thức gián cách, gần như từ ngoài nhìn vào thể
xác, cảm xúc hoặc tư tưởng của chính mình.
Có người cho rằng đây là nỗ lực tách biệt bản ngã đang
quan sát khỏi quá trình đang được quan sát. Nhưng kiểu nói
như thế có lẽ không thích hợp chút nào với triết học
Phật giáo, vì nói vậy tức là có hàm ý rằng bản ngã —
cái đang làm công việc quan sát — là một ‘thực thể’
cố định và tách biệt, một cái gì đó hiện hữu độc
lập với thể xác và những cảm giác, xúc động và tư tưởng
muôn hình muôn vẻ của nó. Thế nhưng Phật giáo lại dạy
rằng không có một bản ngã cố định như thế: chúng ta là
tổng số toàn bộ một quá trình qua đó chúng ta đang sống.
Do đó, không phải chúng ta quan sát các cảm xúc hoặc cảm
giác như thể chúng từng hiện hữu tách biệt với chúng ta,
mà làø chúng ta hướng sự nhận biết vào bản thân mình
đang trải nghiệm những cái đó.
Diễn
ra trong hiện tại
Một đặc tính cốt tủy khác của chiêm nghiệm, trong liên
quan tới triết học Phật giáo là: nó diễn ra trong hiện tại.
Quá khứ không còn hiện hữu và tương lai chưa thành hiện
thực. Chỉ có thể bắt gặp thực tại trong khoảnh khắc
hiện tại, và thậm chí khoảnh khắc hiện tại ấy cũng đang
biến đổi không ngừng.
Trong chiêm nghiệm Phật giáo, kỹ năng căn bản mà hành giả
cần phải học là túm bắt kinh nghiệm đúng khoảnh khắc
nó vừa xảy ra vừa lẹ làng biến đổi.
Thí dụ minh họa
Có thể lấy một thí dụ để so sánh và cụ thể hóa phần
nào kinh nghiệm chiêm nghiệm. Bạn thử nhớ lại hoạt cảnh
một vận động viên đứng trên tấm ván lướt theo đầu
ngọn sóng mà bạn chứng kiến tận mắt hay thấy trên phim
ảnh. Kỹ thuật của anh ta là:
a. Sẵn sàng dưới nước với tấm lướt, có thể tạm gọi
là tấm ván lướt, dù hầu hết nó không làm bằng gỗ;
b. Canh luồng sóng đang ùa đến;
c. Ðúng thời điểm và ngay khoảnh khắc ấy anh ta đứng lên
trên tấm ván, lướt theo đầu luồng sóng;
d. Anh ta giữ thăng bằng, ‘chú tâm hoàn hảo’ trong khi người
và ván lướt đi theo đà của luồng sóng;
e. Nếu canh sai thời điểm hoặc đang cỡi mà bị rớt xuống
khỏi tấm ván hay ván lật, anh ta lại phải sẵn sàng canh
luồng sóng khác.
So
với người chiêm nghiệm
Ngay lúc khởi sự quá trình chiêm nghiệm bản thân, ngọn sóng
dâng lên và trải nghiệm trở thành một chuyển động hướng
tới, nhưng cái chuyển động hướng tới ấy thì liên tục
biến đổi nên đòi hỏi hành giả phải chú tâm hoàn hảo
để có sự thăng bằng tinh tế mà ở lại với luồng sóng
của trải nghiệm.
Một khi hành giả đánh mất trải nghiệm tức thời tại chỗ,
và bắt đầu suy nghĩ về nó, tức là đang chuyển dịch lùi
khỏi khoảnh khắc hiện tại. Tâm trí bắt đầu tìm cách
mô tả hoặc xếp loại theo phẩm tính (phạm trù hóa) cái
đang xảy ra, hoặc tìm cách trú ẩn trong quá khứ (nhớ lại),
hoặc tương lai (tưởng tượng ra, dựa vào ham muốn hoặc
sợ hãi). Xảy ra tình huống ấy khi ta đánh mất luồng sóng
mà ta đang ‘ngự’ trên đó. Lúc đó, hành giả nhập trở
lại trạng thái tập quán cũ, nhiều khi còn tệ hơn nữa,
bị khống chế bởi quá khứ, hiện tại, tương lai và sự
tự ý thức. Như người lướt ván bị rớt xuống nước,
anh ta chìm sâu hơn so với khi đang chờ luống sóng, sau đó
anh ta mới ngoi lên được.
Một khi người chiêm nghiệm nhận ra tình huống đang xảy
ra, nói cách khác, hành giả ấy nhận biết mình đang đánh
mất tập trung, thì phải bắt đầu lại quá trình ấy. Phải
sẵn sàng đón bắt, như người lướt ván phải bơi trong nước,
chờ, canh, để leo lên luồng sóng kế tiếp.
Chứng
nghiệm thành thói quen
Nói cách khác, chiêm nghiệm là nghệ thuật nhận biết một
cách sáng tạo cái đang xảy ra trong khoảnh khắc hiện tại.
Ðây là nơi mà ứng dụng triết học Phật giáo và thực hành
chiêm nghiệm Phật giáo hỗ tương củng cố sức mạnh cho
nhau. Kinh nghiệm của khoảnh khắc đang vụt qua là một chứng
nghiệm về vô thường (anicca) và vô ngã (anatta), và kinh nghiệm
ấy làm người tu tập ngày càng quen với lối nhìn thực tại
trong diễn tiến biến đổi cùng sự tương liên nối kết
của nó, cuối cùng nhân sinh quan ấy biến thành tính cách
của mình.
Chú
tâm vào hô hấp
Một trong những thực hành căn bản nhất của sự ‘chú tâm
hoàn hảo’ theo Bốn niệm xứ làø hô hấp. Trong việc này,
chú ý được tập trung trên diễn tiến hít vào và thở ra.
Do bởi thực hành này xem ra có vẻ giản dị và dễ dàng nên
cũng dễ khiến người chiêm nghiệm tưởng lầm nó ít có
giá trị. Nhưng chẳng bao lâu hành giả sẽ nhận ra rằng quá
trình nhận biết hơi thở của mình dẫn tới trạng thái trầm
lắng và cho mình có cảm giác về phẩm chất trung thực và
chính trực.
Ðiều cần để ý là sự nhận biết của ta không đặt trọng
tâm trên lý thuyết hoặc trên bất cứ khái niệm ngoại tại
nào, mà trên quá trình đang thật sự diễn ra; và đó quả
thật là diễn tiến cốt tủy và căn bản nhất của sự sống.
Ðiều ấy hoàn toàn phù hợp với triết học căn bản của
Phật giáo, vốn bác bỏ những gì suy tưởng lý tính mà tán
thưởng sự trải nghiệm tức thời và tại chỗ.
Chỉ
đi với Quán
Còn thêm một điểm quan trọng nữa cần nhận biết. Trong
thực hành, samatha (Chỉ, hay có người gọi là Tịnh chỉ:
Chỉ trong tịnh để mà tịnh) là cứu cánh trong chính nó,
và chuẩn bị cho người chiêm nghiệm có cái nhìn thấu suốt.
‘Chỉ’ đi với ‘Quán’.
Ðối với người chiêm nghiệm, đôi khi được hiểu tổng
quát là trầm tư mặc tưởng, trong truyền thống này, Chỉ
mang lại phúc lợi cho chính nó và dẫn tới sự trực nhận
— nắm bắt một cách trực giác — thực tại, đồng thời
nếm trải trạng thái hòa nhập và định tĩnh. Một ‘Niết
bàn’ cũng tức thời và tại chỗ.
2.
QUÁN (VIPASYANA)
Dựa vào Chỉ để bỏ vọng niệm, dựa vào Quán để chứng
chân lý. Quán cùng với Chỉ làm thành hai yếu tố đạt Giác
ngộ.
Chiêm nghiệm vipasyana: quán tưởng, nhắm vượt tới quá bên
kia cuộc tìm kiếm sự an tĩnh và trạng thái dễ tiếp nhận
để gồm vào sự phát triển trực tiếp cái nhìn thấu suốt
thực chứng tức là chứng nghiệm chân lý. Quán nghĩa là quan
sát rốt ráo, nhìn cho tới tận cùng, tận đáy, tận mặt
bên kia, bằng trí huệ.
Tại
sao phải Quán
Kết quả là trong quán tưởng, ta có thể chiêm nghiệm một
hoặc hơn nữa các lời giảng của Ðức Phật, để trầm
mình trong lời giảng ấy với toàn bộ bản thân ta, cả vô
thức lẫn ý thức. Lý do tại sao cần tới lối chiêm nghiệm
ấy là vì lời giảng chỉ là công thức thuần túy ngôn từ,
được sử dụng trong nỗ lực trình bày cái nhìn thấu suốt
của Ðức Phật.
Tự thân ngôn từ chỉ là chiếc xe eo hẹp, chuyển tải hữu
hạn những cái nhìn thấu suốt vô hạn ấy. Ngôn từ chỉ
là biểu tượng qui ước nên không thể nào diễn tả trọn
vẹn và trung thực cái chân chính cần được diễn tả. Nhiều
trường hợp phải lấy ý mà hiểu: ý tại ngôn ngoại. Am
hiểu ngôn từ, dù tới mức sâu rộng cỡ nào đi nữa, cũng
chỉ là chuyện nhìn kỹ nhìn rõ ngón tay chứ chưa phải là
việc nhìn thẳng vào mặt trăng mà ngón tay ấy chỉ tới.
Thế nên, trong quán tưởng, nỗ lực mà hành giả đưa ra là
nhằm đạt tới trạng thái ‘cảm nhận’ toàn bộ từng
lời giảng, thay vì ‘chấp nhận’ nó một cách trí óc và
cục bộ.
Nhận
rõ sự đời
Quán sát bằng trí huệ còn đưa ta tới nhận thức bằng trực
giác ba dấu hiệu khác nhau của cuộc sống. Ðó là vô thường,
vô ngã và khổ não của mọi hiện tượng vật chất và tâm
thần.
Ðối với truyền thống Ðại thừa, quán tưởng có nghĩa
là xem xét bản chất của sự vật, chìa khóa để am hiểu
Không tính. Chính sự am hiểu ấy đưa chúng ta thâm nhập mọi
ngõ ngách của thực tại và tự nó ngăn chận những đam mê
mới. Chúng ta sẽ bàn đến vấn đề này trong một chương
về sau, khi từ quán tưởng đi thêm một bước nữa vào thiền
định.
Ðôi
lời thanh minh
Tới đây, có thể trong người đọc phát sinh một thắc mắc.
Liệu có thích đáng hay không khi để dành khá nhiều trang
của chương này để nói tới ‘Chiêm nghiệm’ trong cuốn
sách có chủ đề là triết học.
Khi đưa ‘Chiêm nghiệm’ vào đây và dành chỗ khá rộng
cho đề tài ấy, chúng tôi nghĩ có lẽ thích đáng vì nó làm
nổi bật sự khác biệt rất quan trọng giữa triết học Ðông
phương và triết học Tây phương. Rằng triết học Ðông phương
quan tâm tới thực tại được chứng nghiệm, cùng với và
thậm chí còn hơn thực tại bị khái niệm hóa. Các khái niệm
trong triết học Phật giáo không được quyết định tối
hậu trên căn bản luận lý học, dù những luận lý đi liền
với chúng đủ khả năng chứng minh cho chúng, mà là trên sự
nắm bắt có tính trực giác bản tính của thực tại. Và
quá trình trực nhận ấy có chiêm nghiệm làm trụ cốt.
7.
Ðạo
đức học Phật giáo
Dù có thể đôi khi ta nghe trong giới Phật tử có nói đến,
nhưng một cách căn bản và tổng quát, đạo đức học Phật
giáo không sử dụng thuật ngữ chuyên biệt để nói tới
tốt hoặc xấu, phải hoặc trái, thậm chí cũng ít khi dùng
tới hai chữ thiện và ác.
Tiêu
chuẩn xác định
Phật giáo chỉ nói tới tư tưởng và hành động như là:
1/ Công đức (kusala). Nhiều từ điển Phật học dùng chữ
Thiện để dịch chữ kusala, nhưng như thế chỉ có tính qui
ước và đại chúng. Kusala có nghĩa là một trạng thái lành
mạnh, có khả năng hành động tinh tiến, đặt căn bản trên
từ bi, quảng đại và trí huệ.
2/ Không công đức (akusala). Dùng chữ Ác mà dịch, thì cũng
chỉ có tính qui ước cho tiện dụng. Ngược với kusala, akusala
là không lành mạnh, không có khả năng hành động tinh tiến,
gây hại cho karma. Akusala được dùng để chỉ mọi hành động
dựa trên cơ sở độc hại, mang trong chính chúng mầm móng
gây khổ não về sau. Gốc rễ của akusala là dục vọng, hận
thù và mù quáng lầm lạc (tham, sân, si) hay còn gọi là ảo
giác.
Lý do của lối xếp loại ấy là một hành động, nếu được
phân tích khách quan, có thể có các thông giải hoàn toàn khác
nhau tùy vào tình huống thể hiện nó. Hành động công đức,
lành mạnh, tinh tiến là hành động tạo được công quả,
có khả năng mang lại hoặc làm tăng thêm hạnh phúc hoặc
góp phần đưa mình và kẻ khác tiến bước trên con đường
đạo. Hành động không công đức hay không lành mạnh thì
chẳng những không dẫn tới hạnh phúc lại còn gây thêm chướng
ngại cho con đường đạo.
Oan
Thị Kính
Dí dao vào ngực của một người nào đó có những hàm ý
rất khác nhau, tùy thuộc người sử dụng dao là bác sĩ phẫu
thuật hay là kẻ cướp trấn lột.
Hành động giao hợp nam nữ lại có những hàm ý đa đoan hơn,
tùy thuộc các đương sự là bạn của nhau, hoàn toàn không
quen biết nhau, đã kết hôn với nhau chưa, thậm chí dù là
vợ chồng, cả hai có đồng thuận cùng làm chuyện ấy vào
lúc đó hay không.
Trong kho tàng cổ tích Việt Nam có kể chuyện nàng Thị Kính
trước khi làm tiểu Kính Tâm rồi qua đời được Phật Thiên
Tôn phán truyền thành Phật Quan Âm. Thị Kính từng có chồng
là Thiện Sĩ, tuấn tú nhưng ở cằm có cây râu mọc ngược.
Chồng thiu thiu ngủ, nàng đưa dao nhíp lên định cắt râu
cho chồng, nhưng bị Thiện Sĩ thức giấc, túm chặt cổ tay
và la lên rằng vợ toan giết mình. Vào cửa thiền rồi, tiểu
ni Kính Tâm lại còn phải chịu nổi oan ‘có con’ với Thị
Mầu, mãi tới sau khi chết mới được giải oan.
Kiểu
thức uyển chuyển
Do đó, đạo đức học Phật giáo cứu xét bối cảnh của
hành động và động cơ của những người can dự. Chủ trương
ấy làm nổi bật một nội hàm nữa của nguyên lý căn bản
về sự tương liên nối kết. Các sự vật sự việc không
tốt hoặc xấu trong tự thân chúng, nhưng chúng bị đánh giá
là tốt hay xấu, phải hay trái chỉ vì cách chúng liên hệ
tới người can dự.
Hành động đương nhiên có hệ quả, như chúng ta đã xem xét
nguyên tắc này trong phần nói về Nghiệp. Cũng thế, hành
động xảy ra do bởi các điều kiện hiện hành. Hành động
không thể hiện hữu một cách riêng biệt, cô lập khỏi các
điều kiện hoặc các hệ quả.
Như thế, thêm lần nữa, chúng ta thấy triết học Phật giáo
không có những khối thiết chế cố định mà chỉ có những
mẫu thức uyển chuyển của những tương liên nối kết, trong
việc đánh giá bất cứ cái gì xét theo quan điểm đạo đức.
Tuy nói như thế nhưng thực tế Phật giáo vẫn có sẵn một
tập hợp lớn lao những lời giáo huấn và lề luật để
hướng dẫn người đi theo đạo.
Năm
giới
Nói chung, lời giáo huấn của Phật giáo không là những lề
luật cố định mà là những nguyên tắc tu tập. Chúng minh
họa các phẩm tính được kỳ vọng nơi người đã giác ngộ,
như một điển hình cho chúng sinh. Từ đó, lập thành bản
hướng dẫn cho người đang đi tìm giác ngộ. Người theo đạo
Phật tại gia có năm giới phải giữ, được đặt ra theo
thể phủ định, làm thành những điều phải tránh.
1. Nguyện không sát sinh (không làm điều tổn sinh, không giết
hại sinh vật);
2. Nguyện không lấy của không cho (không trộm cắp);
3. Nguyện không tà dâm (không quan hệ tính dục với người
không phải là vợ hay chồng của mình);
4. Nguyện không nói dối;
5. Nguyện không uống các chất làm say não, loạn tâm.
Mỗi nguyên tắc tu tập ấy mở tới một phản hồi tích cực:
1. Triển khai lòng từ bi, nhân ái tử tế đối với mọi sinh
linh;
2. Triển khai lòng quảng đại;
3. Triển khai sự an tĩnh, mộc mạc và hoan hỉ;
4. Triển khai ngôn từ chân thật, dịu dàng, tích cực;
5. Triển khai sự chú tâm hoàn hảo.
Tự
nguyện, lạc quan và tích cực
Phật giáo nhằm tới việc lập quân bình cho đạo đức, chiêm
nghiệm và trí huệ trên con đường tâm linh của mình. Người
theo đạo Phật không thể hiện đạo đức như phương tiện
để đạt tới cứu cánh. Họ biến các hành động công đức
thành một yêu cầu thiết yếu cho kẻ sẽ thành tựu sự giác
ngộ. Nói đúng hơn, vì mọi sự đều phát sinh trong tùy thuộc
vào các điều kiện, người Phật giáo cho rằng căn bản đạo
đức là điều kiện làm cho các đặc điểm khác của con
đường đạo có khả năng phát sinh.
Ðiểm nổi bật thú vị so với các tôn giáo độc thần là
ngũ giới của Phật giáo không có tính cách như các điều
răn được ban cho bởi một thần linh ngoại tại đi kèm với
lời hăm dọa rằng nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt. Ngũ
giới đơn giản chỉ là bản tóm lược của Ðức Phật về
một kiểu sống để cho từ trong con người nổi lên từ bi
và trí huệ. Tuy có sẵn những lời chỉ dẫn ấy nhưng người
Phật tử có tự do quyết định cách áp dụng nào tốt nhất
cho hoàn cảnh cá nhân của mình, trong sự thừa nhận rằng
mỗi khoảnh khắc và mỗi biến cố của mỗi người là cá
biệt.
Dĩ nhiên, cần phải nhìn đạo đức học Phật giáo dưới
ánh sáng của lý thuyết về nghiệp báo. Những dự tính tự
nguyện tự chúng quyết định các trạng thái tương lai —
và chính ý định mới đáng kể chứ chưa phải là hành vi
thể hiện dự tính ấy — cho dù hệ quả nghiệp báo có khả
năng nghiêm trọng hơn một khi ý định ấy đã được thực
hiện.
So với triết Tây:
Ở đây, có điểm tương đồng với lời giảng của Ðức
Giêsu khi ngài lập luận rằng các thái độ dâm đãng hay hận
thù cũng như các hành vi tiếp theo của ngoại tình và giết
người đều bị trừng phạt. Ðiểm đáng chú ý là Ðức
Phật và Ðức Giêsu đều nói tới hệ quả nghiêm trọng của
ý định. Ý định cũng đủ tạo nghiệp. Như thế, ý định
cũng là ‘hành động’, như trong cây thơ mở đầu Kinh Pháp
Cú. Trong khi đó, luật pháp thế tục thường chỉ trừng phạt
người có hành động cụ thể, hoàn toàn không xét tới người
chỉ mới có ‘ý định’ trong đầu.
Lý do của Ðức Phật và Ðức Giêsu là vì cả hai đều tiếp
cận vấn đề đạo đức chủ yếu từ quan điểm mang tính
cứu độ luận (soteriology). Nói cách khác, cả hai chủ yếu
quan tâm tới hậu quả mà một hành động có thể gây ra cho
cuộc sống tâm linh của đương sự. Cả hai vị nhìn vấn
đề theo quan điểm đạo đức nội tâm của con người, không
theo quan điểm duy trì trật tự bên ngoài xã hội.
Cuộc
sống tu viện
Ða số người Phật giáo đi theo Phật Pháp trong khi tiếp tục
cuộc sống gia đình. Ngược lại, suốt mấy ngàn năm nay,
chế độ tu viện luôn luôn đóng vai trò tích cực trong Phật
giáo. Có nhiều bản mô tả Phật giáo như một tôn giáo thế
giới lại nhấn mạnh ở điểm cho rằng dường như Phật
tử tại gia chỉ là một hình thức mở đầu hoặc thấp hơn
của Phật giáo.
Thuở xưa, theo truyền thống Ấn độ thời đó, Ðức Phật
từ giã gia đình, đi vào cuộc sống hành giả lang thang tìm
kiếm chân lý. Có ít nhất năm môn đệ đầu tiên của ngài
cũng xuất thân từ các nhóm tu khổ hạnh ấy. Phật giáo cũng
giống với nhiều phong trào tôn giáo, thí dụ Kitô giáo từ
xưa tới nay, chính các thành viên tăng lữ làm việc ‘toàn
thời gian’ truyền bá lời giảng, truyền khẩu giáo pháp
và các truyền thống thành văn về sau. Trong Tam tạng thì Luật
tạng là bộ kinh điển hoàn thành cùng một kỳ kết tập
với Kinh tạng. Bên cạnh đó, có vô vàn kinh sách Phật giáo
liên quan tới giới luật dành cho những người chọn con đường
xuất gia tu trì, và sự kiện ấy phản ánh tính chất tập
trung của cộng đồng tăng ni dối với việc giao truyền lời
giảng, hoặc dùng thuật ngữ Phật giáo là các tăng già và
hoằng pháp.
Mặt khác, trong lời giảng của Ðức Phật, được kết tập
thành Kinh tạng, ngài cũng thường xuyên dạy người thế tục.
Tại Việt Nam, trước đây cũng có truyền thống một số
nam nữ cư sĩ, tới một độ tuổi nào đó, sau khi cảm thấy
yên ổn chuyện gia đình và con cái, thì đem thân nương náu
cảnh chùa. Dù sinh hoạt tu viện làm cho việc đi theo con đường
đạo thuận tiện hơn bằng cách cung cấp một cấu trúc ngăn
nắp cho cuộc sống tu trì và bằng cách tránh những xao lãng
hiển nhiên, chế độ tu viện không là đối tượng quan tâm
của chúng ta trong cuốn sách bàn về các khái niệm căn bản
có tính triết học của Phật giáo này. Bạn đọc có thể
tìm hiểu thêm trong các sách về Phật học hoặc trên các
trang web Phật giáo.
Về mặt căn bản, nền tảng Phật Pháp cũng vẫn là một,
dù người đi theo là tăng, ni hay cư sĩ. Cũng thế, về khía
cạnh đạo đức học, các lề luật tu trì của giới tăng
già được trình bày thêm vào những giáo huấn căn bản của
người tại gia. Và chính những giáo huấn đó minh họa việc
áp dụng các nguyên tắc đạo đức cơ bản và chủ yếu của
Phật Pháp.
Giới
luật của Sa môn
Như đã nói, nền tảng vẫn là Năm giới. Người nam mới
xuất gia đang ở thời lỳ tập sự được gọi là Sa-di. Nữ
được gọi là Sa-di-ni. Tu hành tới thọ Tỳ kheo — thành
viên chính thức và là cấp bậc cơ bản của tăng đoàn —
thì tăng giữ 250 giới, ni giữ 348 giới.
Giai đoạn Sa-di và Sa-di-ni chỉ giữ 10 giới, gồm 5 giới của
Phật tử tại gia cộng thêm 5 giới của người xuất gia.
Ngoại trừ giới tà dâm của cư sĩ đổi thành giới không
dâm dục, 5 giới thêm gồm:
1. Không xức dầu thơm, không đeo vòng trang sức, không ghim
hoa trên đầu;
2. Không ca hát nhảy múa hay đi xem ca hát nhảy múa;
3. Không ngồi ghế cao, không nằm giường rộng thường dành
cho hai người.
4. Không ăn trái bữa, chỉ ăn đúng thời;
5. Không giữ tiền bạc, vàng ngọc châu báu.
8.
Phật
giáo và suy tưởng triết học
Cơ
sở đại học thời cổ
Ngày nay, mọi người đều thấy rõ rằng chắc chắn Phật
giáo không chống triết học. Ở thời điểm cực thịnh thuở
xưa, tại Bắc Ấn, trước khi bị tàn phá trong các cuộc xâm
lăng của người Hồi giáo, đã có Viện Phật học danh tiếng
Nalanda với tầm mức có thể lớn hơn một viện đại học
thời nay. Nalanda có khoảng 3.000 học giả đến từ khắp Ấn
Ðộ và từ Trung Hoa, Triều Tiên, Tây Tạng, Mông Cổ, Tích
Lan và Sumatra. Theo lời kể của hai nhà sư đời Ðường, Huyền
Trang (600-664) và Nghĩa Tịnh (635-713), từng lưu học và giảng
dạy tại đây, thời cực thịnh, viện ấy có tới một vạn
tăng sĩ theo học.
Viện Phật học Nalanda được hoàng đế Sakraditya (Thước-ca-la
Dật-đa) của nứơc Magadha thành lập vào thế kỷ thứ hai
SCN. Theo với thời gian, viện ngày càng nức tiếng với
các đại luận sư của Trung quán tông và Duy thức tông như
Long Thọ, Hộ Pháp, Trần Na, Giới Hiền, v.v. Viện lấy việc
nghiên cứu và học hỏi một cách có hệ thống làm tâm điểm
của Phật học. Nalanda cung cấp các giảng khóa về ngữ pháp
và triết học, y dược, luận lý học, mỹ thuật, toán học
và siêu hình học. Ðặc biệt về giáo pháp Ðại thừa, Tiểu
thừa, Nhân minh học, v.v.
Tại Tây Tạng có thành lập một học viện cũng lấy tên
là Nalanda, được xây dựng năm 1351.
Các
vấn nạn chỉ để tiêu khiển
Mặt khác, Ðức Phật quan tâm tới sự phân biệt giữa các
sự vật được khảo sát một cách hữu ích và các vấn nạn
siêu hình học vốn không bao giờ có thể giải quyết và chỉ
cho thấy chúng là trò tiêu khiển không hơn không kém. Phật
giáo từ chối đưa ra câu trả lời cho loại vấn nạn như:
a. Thế giới này hữu hạn hay vĩnh cửu;
b. Người đã giác ngộ hiện hữu hay không sau khi chết.
Ngày nay, có thể vấn đề ấy dường như là một bỏ sót
hoặc sơ suất lớn, đặc biệt từ khi chúng ta nhìn vào sự
đóng góp của Phật giáo cho ngành Triết học Ðông phương.
Nhưng khi thẩm tra sâu sát hơn, ta lại thấy vấn đề ấy
sáng tỏ hơn. Không phải Ðức Phật thật sự không trả lời,
nhưng điều mà ngài không chịu làm chính là việc chọn một
lập trường trong cuộc tranh luận triết học đương thời.
Lý do của thái độ ấy rất có thể là vì toàn bộ cuộc
tranh luận đó tùy thuộc vào sự chấp nhận hay không các
thuật ngữ và các khái niệm chủ chốt, như một điểm khởi
đầu. Và bằng hành động từ chối tham gia cuộc tranh luận
siêu hình đó, ngài nhấn mạnh tính chất không thích đáng
của các khái niệm đương thời. Cũng như trong nhiều lãnh
vực khác, Ðức Phật tìm cách nêu bật con đường Trung đạo.
Nói rằng thế giới này vĩnh cửu hẳn không thích đáng vì
quan điểm ấy sai lầm. Mặt khác, nói rằng thế giới này
không vĩnh cửu thì cũng dễ bị hiểu sai lạc không kém. Do
đó, ngài khẳng định lối tiếp cận ‘không thế này chẳng
thế kia’, và từ chối đưa ra câu trả lời mà ngài biết
thế nào cũng bị hiểu sai.
Vấn
đề là diệt khổ
Tuy thế có một điều quan trọng hơn nữa. Qua hành động
phủ định giá trị của các vấn nạn ấy và nhấn mạnh
rằng mục đích duy nhất của mình là giải quyết vấn đề
khổ não của con người, Ðức Phật đã vạch cho sự suy tưởng
triết học một đường biên hữu hiệu vì lợi ích của chính
nó, bằng cách nêu bật vị trí của khổ não và các phương
thế diệt khổ: nằm ở ngay tâm điểm của cuộc truy tầm
triết học.
Trong Trung bộ Kinh, một kinh được kết tập sớm sủa nhất,
Ðức Phật bảo rằng bất cứ ý tưởng hoặc khái niệm nào
‘Tôi là như vậy’ là vọng tưởng ‘hoặc ‘Tôi sẽ không
sắc’ là vọng tưởng. Ngài không muốn có bất cứ cái nào
trong sự suy tưởng, và ngài tuyên bố:
‘Vọng tưởng, này Tỳ kheo, là bệnh, vọng tưởng là cục
bướu, vọng tưởng là mũi tên’.
(Trung
bộ kinh, 140, Bản dịch của Thích Minh Châu)
Như thế, bằng việc khắc phục toàn bộ suy tưởng, mà thực
chất như Ðức Phật đánh giá là vọng tưởng ấy, ta có
thể trở thành một ‘nhà thông thái thanh thản’.
Những kẻ tập trung trên những cái tạo tác có tính tôn giáo
và văn hóa của Phật giáo — đền chùa, tăng lữ và
ảnh tượng — có thể vuột mất đặc tính rất căn bản
của quan điểm Phật giáo về thực tại. Quan điểm đó không
thể nào chỉ thâu tóm trong các thuật ngữ có tính khái niệm.
Nhưng vượt lên trên mọi ngôn từ và hình ảnh, đó là quan
điểm về thế giới như động lực, như một quá trình của
những quan hệ tương liên nối kết và các điều kiện.
So với triết Tây:
Ðối với các nhà tư tưởng Tây phương, những người được
đào tạo theo trường lớp, kể từ thời Descartes với ý tưởng
rằng ‘Tôi suy nghĩ tức là tôi hiện hữu’ và do đó, cái
tôi như một điểm cố định và không thể hoài nghi, hoặc
kể từ thời Aquinas với ý tưởng về Thượng đế như một
cái chuyển động không bị chuyển động, một nguyên nhân
không bị tác động, nguồn cội của mọi giá trị, nhà thiết
kế thông minh và có chủ ý — hai điều chắc chắn mang tính
song sinh ấy của phần lớn triết học Tây phương bị Phật
giáo gỡ bỏ. Thay vào vị trí của cái tôi và Thượng đế
là thực tại biến đổi không ngừng, chỉ có thể biết tới
nó trong tức thời của nó và bằng sự tham dự, chứ không
bao giờ có thể nắm bắt được nó bằng khái niệm.
Ðối với triết học Tây phương, ta có thể bắt gặp sự
đánh giá trang trọng thành tố vô thường và quá trình biến
đổi ấy khi nhìn trở lại Heraclitus, một trong các triết
gia Hi Lạp cổ đại. Trong các triết gia hiện đại, quá trình
là chủ đề chính của triết học Henry Bergson và A. N. Whitehead.
Triết
học Phật giáo: thực dụng chủ nghĩa
Nếu Phật giáo đơn giản chỉ là triết học, thuật ngữ
dùng để gọi một cách thích đáng hẳn là darsana, kiến:
thấy, nhìn thấy. Trong thực tế, người ta dùng một thuật
ngữ khác, đó là yana, thừa: cổ xe.
Do đó, Phật giáo được nhìn như một chiếc xe tâm linh, một
phương tiện để chuyển động hướng tới, tạo ra tiến
bộ, tinh tiến. Những gì không đóng góp vào sự giải thoát
loài người khỏi khổ não và vô minh đều bị Ðức Phật
gạt sang một bên vì chúng không thích đáng cho cuộc hành
trình ấy.
Tam
thập thất đạo phẩm
Ðại-niết-bàn-kinh chứa đựng một danh sách các giáo huấn
cốt tủy, do chính Ðức Phật đưa ra không lâu trước khi
ngài từ trần cho người anh em cùng họ và cũng là thị giả
của ngài. Danh sách ấy gồm bảy đặc tính chủ chốt, được
phân thành ‘Ba mươi bảy điều giúp giác ngộ’, thường
được gọi một cách trang trọng hóa là Tam thập thất đạo
phẩm, hoặc nâng cấp hơn, Tam thập thất Bồ đề pháp hay
Bồ đề phần. Ở rải rác các phần trên, chúng tôi đã có
đề cập Tứ niệm xứ và Bát chánh đạo. Nay xin liệt kê
25 điều còn lại cho đủ:
I. Tứ niệm xứ.
II. Tứ chánh cần: Bốn tinh tiến
1. Tinh tiến tránh làm các điều ác chưa sinh;
2. Tinh tiến vượt qua những điều ác đã sinh;
3. Tinh tiến phát huy các điều thiện đã có;
5. Tinh tiến làm cho các điều thiện phát sinh.
III. Tứ như ý túc: Bốn phép tập thần thông.
1. Tập trung vào ý chí mạnh mẽ;
2. Tập trung vào nghị lực;
3. Gìn giữ cho tư tưởng tinh tiến;
4. Tham cứu đạo lý.
IV. Pháp ngũ căn:
1. Lòng tin hăng hái;
2. Lòng thề hứa mạnh mẽ;
3. Tâm niệm quả quyết;
4. Tâm định tĩnh không lay động;
5. Trí tuệ sáng suốt.
V. Pháp ngũ lực:
1. Sức tín;
2. Sức nguyện;
3. Sức niệm;
4. Sức định;
5. Sức tuệ.
VI. Thất giác chi:
1. Chọn chánh pháp, phân biệt tà pháp;
2. Trí tinh tấn mạnh mẽ mà tu hành chánh pháp;
3. Trí hoan hỉ mà biết chánh pháp;
4. Trí nhẹ nhàng trừ bỏ các chướng ngại;
5. Trí thường niệm định và huệ;
6. Trí thường đại định không tán loạn;
7. Trí buông bỏ các tà pháp, các điều đã làm.
VII. Bát chánh đạo.
Hoàn
toàn không suy lý
Bản liệt kê trên gây cho ta điều thú vị là nó không chứa
đựng mệnh đề nào thuộc bất cứ loại suy tưởng nào.
Bản chỉ gồm toàn những cách thức trau dồi khả năng nhận
biết về thể xác, cảm xúc, trạng thái tinh thần và các
đối tượng của ý nghĩ, rồi tới việc mô tả những nỗ
lực cần thiết, thăm dò những khả năng và sức mạnh tâm
linh, thậm chí những thành tố của giác ngộ, bao gồm sự
chú tâm hoàn hảo, nhận biết chánh pháp, tinh tiến đầy nhiệt
tình, hoan hỉ vô hạn trong tĩnh lặng, tập trung và thanh thản.
Và kết thúc bằng Bát chánh đạo mà chúng ta đã cùng nhau
xem xét ở một phần trên.
Bản liệt kê ấy ra đời một cách tự nhiên, không làm ai
kinh ngạc vì nó xuất xứ từ sự tương liên nối kết, vốn
là khái niệm chủ chốt và nằm ở vị trí trung tâm của
toàn bộ triết học Phật giáo, với ý định vạch rõ cho
thấy rằng vạn vật phát sinh trong tùy thuộc vào các điều
kiện. Những gì cốt tủy mà Ðức Phật nêu bật trong bản
tóm lược trên và trong các lời giảng của ngài là một tập
hợp các thông số nhằm giúp mỗi người, với khả năng cá
thể của nó, tạo được các điều kiện cho phép tự nó
đạt tới giác ngộ.
So với triết Tây:
Trong nghiên cứu khoa học, người quan sát và phương pháp quan
sát có thể hỗ tương ảnh hưởng lên những kết luận đạt
được. Vì thế, thí dụ, trong khoa phân tích tâm lý, nhà phân
tâm học được huấn luyện để nhận ra và loại bỏ thành
kiến riêng của cá nhân mình. Nói cách khác, khoa học thừa
nhận có tình trạng tương liên nối kết giữa các điều
kiện, phương pháp và kết luận. Nếu muốn cái sau được
thẩm định chính xác thì phải xác định rành mạch
cái đầu.
Cũng y như thế với chủ nghĩa hậu hiện đại, chất liệu,
người trung gian và phương pháp sáng tạo nghệ thuật đều
là những đối tượng phải để ý tới. Ta không thể giả
vờ rằng có một ‘thực tại’ trừu tượng nào đó được
truyền đạt, ở bên ngoài và độc lập với chiếc xe chuyển
tải sự truyền đạt ấy.
Bằng cách nhấn mạnh các điều kiện thiết yếu để có
cái nhìn thấu suốt, chứ không phải làm nổi bật nội dung
mang tính khái niệm của nó, so với chủ nghĩa hậu hiện đại
xuất hiện 2500 năm sau, Phật giáo đã có những điểm tương
đồng về tâm linh và triết lý.
Tạm
kết luận
Trong truyền thống lập thành công thức Phật giáo truyền
thống, Ti Ratama Vandana: Ðảnh lễ Tam Bảo, lời dạy của Ðức
Phật được diễn tả là:
Sandhitthiko akaliko ehipassiko opayiko paccatam vrditabbo vinnuiti.
Tạm dịch là:
Hiển nhiên tức thời, luôn luôn có sẵn, khảo sát bằng thân
chứng, tinh tiến, cá nhân am hiểu nhờ kẻ thông thái.
Nói cách khác, lời dạy của Ðức Phật được xem là một
lối tiếp cận thực dụng, hợp lý, phi giáo điều, nhằm
để am hiểu thực tại.
(phusa.info)
05-21-2008
11:23:34