Minh
Trị (Meiji, 1868-1912) là tên của một đời vua nổi tiếng
nhất trong lịch sử Nhật Bản từ thời lập quốc đến hiện
tại. Triều đại này đã cải cách rất triệt để và rất
sâu rộng trong mọi lãnh vực của Nhật Bản từ chính trị,
quân sự, kinh tế, tôn giáo, văn hóa, khoa học, giáo dục v.v…Chính
những cải cách của triều đại này đã đưa Nhật Bản lên
hàng cường quốc về mọi lãnh vực, kể cả lãnh vực
tôn giáo. Đương nhiên, Phật giáo cũng bị lột da chà xát
đau đớn kinh hoàng dưới thời đại này để rồi vươn lên
mạnh mẽ như anh khổng lồ chiếm tỷ lệ khoảng 80 phần
trăm dân số. Cũng nhờ những thành quả đó mà Phật giáo
Nhật Bản hiện tại là nước có số cơ sở giáo dục và
nhân tài cao nhất trên thế giới (1). Bài viết này xin khái
lược về Phật giáo qua các thời đại trước Minh Trị Duy
Tân, dưới thời Minh Trị Duy Tân và sự phát triển sau đó.
I.
XUÔI DÒNG THỜI GIAN
A.
Phật giáo thời Thánh Đức Thái tử (574-622):
Có
thể nói Phật giáo được truyền vào Nhật Bản vào khoảng
năm 538 (2). Thánh Đức Thái tử là người có công đầu trong
việc hoằng dương Phật giáo. Năm 594 ông ban chiếu phục hưng
Tam Bảo. Năm 604 thành lập và ban hành Hiến pháp 17 điều.
Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Nhật từ khi
lập quốc đến lúc đó. Trong điều 2 của hiến pháp nói
trên có ghi: “Tín kỉnh Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng. Tam
Bảo là chỗ qui thú của tứ sanh, chỗ cực tôn của vạn
quốc. Bất cứ đời nào, bất cứ người nào, hễ thấy Phật
pháp hãy sanh tâm vui mừng; lấy Phật pháp để giáo hóa nhân
dân, bỏ ác làm lành. Nếu mọi người đều quy y tín kỉnh
Tam Bảo thì tất cả sự cuồng tranh trở thành trực chánh”
(3).
Thánh
Đức Thái tử bắt đầu chấp chánh từ năm 593, ông đã noi
gương vua A Dục ở Ấn Độ muốn áp dụng giáo lý Phật giáo
để an quốc trị dân. Phật giáo dưới thời ông đã trở
thành Quốc giáo. Quốc gia xã hội rất thái bình thịnh vượng.
Trước thời Thánh Đức, Nhật Bản tuy được gọi là quốc
gia nhưng trong đó lại chia thành nhiều tiểu quốc, xã hội
luôn luôn gặp cảnh nội chiến tranh giành ảnh hưởng của
giai cấp quyền thần và quý tộc sát phạt lẫn nhau. Đồng
thời họ cũng chưa hấp thụ được nền văn hóa tiên tiến
của Trung Hoa đại lục. Sau khi Thánh Đức lên cầm quyền,
ông đã gởi nhiều sinh viên và Tăng Sĩ du học sang Trung Hoa.
Thánh Đức đã hạ chiếu tôn Phật Giáo là tôn giáo độc
tôn như sau: "Khi sống thì là Sĩ, Nông, Công, Thương, nhưng
khi về bên kia thế giới thì không phân biệt giai cấp trong
cõi Cực Lạc Niết Bàn duy nhất. Là người thì người ở
địa phương nầy, người ở địa phương khác nhưng chỉ
chung có một tôn giáo cực tôn duy nhất, là Phật Giáo" (4).
Chính
Thánh Đức đã chú thích ba bộ kinh căn bản là Pháp Hoa, Duy
Ma và Kinh Thắng Man. Tuy nhiên Thánh Đức không phải là nhà
tu nên không lập ra tông phái Phật Giáo nào. Sau đó mấy chục
năm, tiếp đến là Thiên Vũ Thiên Hoàng (672-689) đã xuống
chiếu công nhận Phật Giáo là quốc giáo. Bắt buộc mỗi
họ phải có ít nhất là một người xuất gia làm tu sĩ. Mỗi
Xứ (tương đương với tỉnh) phải lập một ngôi chùa chung
cho Xứ với những Phật xá đủ rộng và tiện nghi đầy đủ
để làm nơi tu tập cho tăng ni trong Xứ về tu học.
B.
Phật Giáo Thời Kỳ Nara (710-794)
Thời
kỳ Nara gồm có sáu tông phái Phật Giáo từ Trung Quốc truyền
sang. Đó là Luật Tông, Thành Thật Tông và Câu Xá Tông thuộc
về Tiểu Thừa Phật Giáo. Ba Tông khác thuộc về Đại Thừa
Phật Giáo là Pháp Tướng Tông, Tam Luận Tông và Hoa Nghiêm
Tông . Các Tông này mãi về sau vẫn sinh hoạt biệt lập. Chư
tăng chỉ tu tập theo pháp môn riêng biệt của tông phái mình
và mở rộng truyền thừa tông phái cho đến ngày nay. Điều
đó đã tạo được nét đặc thù cho Phật Giáo Nhật Bản
về sau nầy là các tông phái đã đi sâu vào phương pháp tu
tập và họ đã nghiên cứu sâu rộng các kinh luận liên quan
đến tông phái để mở rộng tông phái theo chiều sâu của
nó (5).
C.
Phật Giáo Thời Kỳ Heian (749-1192)
Thời
kỳ Heian (749-l192) đóng đô tại Kinh Đô (Kyoto, cựu thủ đô
của Nhật). Một trong những lý do chính yếu mà Hoàn Vũ Thiên
Hoàng (781-806) đã quyết định dời đô từ Nara về Heian (tức
Kyoto) là để tránh bớt áp lực của tăng sĩ Phật Giáo tập
trung quá đông tại Nara. Nhà vua đã lập ra qui chế “đạo
đời dị biệt" để tránh bớt ảnh hưởng của tăng sĩ Phật
Giáo trong guồng máy hành chánh quốc gia. Tuy thế Phật Giáo
vẫn phát triển rất mạnh dưới thời đại nầy (6). Trong
thời kỳ nầy có hai tông phái mới hoàn toàn do tổ sư là
người Nhật sáng lập là ngài Tối Trừng Đại Sư (tức Truyền
Giáo Đại Sư, 767-822) lập ra Tông Thiên Thai Pháp Hoa và ngài
Không Hải Đại Sư (774-835) lập ra Tông Chân Ngôn Mật Giáo.
Hai tông phái mới nầy đối lập với các tông phái Phật
Giáo cũ tại Nara cả về phương pháp tu hành lẫn tư tưởng
giáo thuyết.
Dưới
thời kỳ nầy sự quan hệ giữa Phật Giáo và hoàng gia rất
mật thiết. Các ngài Tối Trừng và Không Hải v.v... được
Hoàn Vũ Thiên Hoàng và Sa Nga Thiên Hoàng tín phục. Trong khoảng
thời gian 260 năm có 19 đời vua thì đã có đến 15 vị vua
cắt tóc đi tu. Những chùa do hoàng gia xây dựng như chùa Quan
Không của Sa Nga Thiên Hoàng, chùa Đàn Lâm của Ta Nga Hoàng
Hậu, chùa Đại Giác của Thuần Hòa Hoàng Hậu v.v... Hoàng
gia còn đài thọ mọi chi phí cho những hoạt động lớn của
hầu hết các tông phái Phật Giáo thân cận với hoàng tộc.
Những người trong hoàng tộc đều coi trọng những vị xuất
gia tu hành. Do đó các vị tăng lữ đều được đãi ngộ
ngang hàng với giai cấp quý tộc. Do những động cơ nầy nên
quí tộc xuất gia làm tăng lữ rất đông, lúc đầu thì thuần
là vì đạo đức tôn giáo nhưng sau đó, là để được trọng
vọng và hưởng sự thăng cấp Tăng quan, tăng hàm và mải
theo đường danh lợi cá nhân mà bị biến chất dần.
Vào
khoảng giữa thời kỳ Heian, vì sự chuyên quyền của tập
đoàn họ Đằng Nguyên nên mọi tầng lớp dân chúng đều
chán ghét, nhất là tầng lớp võ quan ở các địa phương
nổi lên đánh nhau khiến cho cả nước rơi vào tình trạng
mất an ninh. Trong các tông phái Phật một mặt là để tự
vệ, mặt khác là do những thành phần không tốt trong xã hội
xen vào khuấy động nên các phái Phật Giáo cũng nổi lên
tổ chức thành Tăng Binh để tự vệ. Vì vậy đã có ảnh
hưởng xấu trong lịch sử về sau nầy cho Phật Giáo Nhật
Bản, nhất là các thế lực quí tộc đối kháng nhau trong
Phật Giáo cộng thêm vào sự thù hằn tranh chấp giữa địa
phương và các phái nên sự xung đột của Tăng Binh ngày càng
lớn...
Trước
tình thế đó triều đình đành bất lực, và vì thế trong
Phật Giáo xuất hiện tư tưởng "mạt Pháp". Theo thuyết năm
trăm năm một thời kỳ, thì chu trình sẽ như sau: năm trăm
năm đầu sau khi Đức Phật nhập niết bàn là "giải thoát
kiên cố", năm trăm năm thứ hai là "thiền định kiên cố",
năm trăm năm thứ ba là "đa văn kiên cố", năm trăm năm thứ
tư là "xây chùa kiên cố", năm trăm năm thứ năm là "đấu
tranh kiên cố". Như vậy tính ra giai đoạn đó rơi vào đúng
thời kỳ "đấu tranh kiên cố" nên tư tưởng mạt pháp xuất
hiện trong giới Phật Giáo Nhật Bản lúc bấy giờ.
Vì tư tưởng mạt pháp nẩy sinh ra giữa thời kỳ loạn lạc
nên mọi người nhàm chán thế giới hiện tại, do đó có
nhiều tăng sĩ tu theo pháp môn Tịnh Độ Mới và đã được
đa số dân chúng hưởng ứng theo tu niệm để cầu vãng sanh
về Cực Lạc. Vì vậy, sau nầy các tông Tịnh Độ Mới rất
thịnh hành, tín ngưỡng Di Dà vùng lên rất mạnh. Một trong
những vị đó phải kể là ngài Lương Nhẫn (1072- l132) mở
ra phép tu Dung Thông Niệm Phật sau nầy phát triển thành Tông
Dung Thông Niệm Phật.
D.
Phật Giáo Thời Kỳ Kamakura (1192-1333)
Vì
tệ nạn Tăng Binh hoành hành nên các tông phải tự sửa sai
và vươn mình lên để chấn chỉnh phục hưng trở lại cho
thích hợp với đương thời. Tông Hoa Nghiêm đáng kể nhất
là ngài Cao Biện, năm 1206 được Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng
ban cho núi Mẫu Vĩ để làm trụ sở hưng long Tông Hoa Nghiêm.
Lý tưởng của ngài là đem chánh pháp đương thời của Đức
Thích Ca (lúc còn tại thế) để áp dụng cho thời mạt pháp.
Ngài được vị cầm quyền mạc phủ Kamakura là Bắc Điều
Thái Thời thường lui tới thăm viếng và tham khảo ý kiến
về việc an quốc trị dân. Ngoài các tông phái khác như Pháp
Tướng Tông, Luật Tông cũng phục hưng dưới thời đại nầy.
Thế nhưng ba trào lưu Phật Giáo được phục hưng mạnh nhất
dưới thời kỳ này phải kể là: Tịnh Độ, Thiền và Nhật
Liên Tông.
* Tịnh Độ Tông: Vào đời Thừa An năm thứ 5 (1175) ngài Pháp
Nhiên đạo hiệu là Nguyên Không (l133-1212) sáng lập Tông Tịnh
Độ (7). Hành giả Tịnh Độ các thời trước còn
tu theo các pháp môn khác, riêng ngài Nguyên Không gạt bỏ mọi
tạp hành, một lòng chuyên tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
Giáo thuyết của tông nầy là y cứ vào Phật thuyết Vô Lượng
Thọ Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Kinh A Di Đà do Đức Phật
Thích Ca thuyết giảng và sách Vãng Sanh Luận do ngài Thế Thân
Bồ Tát giảng (8). Tông mới nầy được rất đông dân chúng
hoan nghênh tu theo, do đó bị các tông khác ganh ghét và phá
phách, trù dập.
Sau
khi ngài Nguyên Không mất được 27 năm có ngài Nhất Biến
Trí Chân ra đời (1239-1289). Sau khi tu chứng ngộ được nghĩa
thâm huyền của pháp môn Niệm Phật, ngài phát biểu rằng
chỉ có pháp môn Niệm Phật đơn giản là thích hợp cho thời
mạt pháp mà thôi. So với Nguyên Không thì mỗi người một
vẻ, mỗi tài năng khác nhau. Nguyên Không lấy Quán Vô Lượng
Thọ Kinh làm trung tâm, còn Trí Chân lại lấy Kinh Di Đà làm
trung tâm. Trong Kinh Di Đà có câu "lâm mệnh chung thời" (khi
sắp lâm chung) nên ngài gọi đồ chúng của mình là Thời
Chúng, tông phái của ngài là Thời Tông. Ngoài ra dưới thời
nầy còn có Tịnh Độ Chân Tông của ngài Thân Loan ( l173-
1262). Ông là một tăng sĩ nhưng vì chủ trương cấp tiến
về cải cách tông phái Phật Giáo nên bị trù dập phải
bị đưa đi đày, sau đó ông lấy vợ và có con. Ông viết
sách "Giáo Hạnh Tín Chứng" gồm 6 quyển vào năm 52 tuổi,
các tín đồ sau này đã dùng bộ sách như kinh điển cho môn
phái.
* Thiền Tông: Thiền Tông được truyền vào Nhật Bản ngay
từ buổi đầu của thời kỳ Nara như các dòng Thiền Lâm
Tế v.v... Thế nhưng dưới thời kỳ Kamakura có nhiều thiền
sư từ Trung Hoa đến, trong số đó có các vị nổi tiếng
như Lan Khê Đạo Long, Ngột Am Phổ Ninh, Vô Học Tổ Nguyên,
Đại Hưu Chính Niệm, Tây Giản Tử Đàm, Nhất Sơn Nhất Ninh
v.v…Đương thời, tại Nhật Bản, các phái Phật Giáo cũ
vì chạy theo danh lợi, thối nát, hủ bại, bè phái, tranh giành
triệt tiêu lẫn nhau... ham chùa to Phật lớn, bành trướng
thế lực muốn lấn vào thế quyền, do đó mạc phủ Kamakura,
Bắc Điều Thời Lại, muốn cổ võ lập ra Thiền Tông mới.
Do đó, tư cách giản dị, thanh bạch, không trọng hình thức,
không ham danh lợi, không muốn xen vào thế quyền mà chỉ lo
tu niệm, hiền hòa đạo đức của các vị sư Trung Quốc đã
được Bắc Điều để ý nâng đỡ và cho thành lập chùa
thiền Kiến Trường tại Kamakura và biến nơi nầy thành trung
tâm chính trị và tôn giáo. Năm đầu niên hiệu Hoàng An, ngài
Lan Khê Đạo Long mất, được ban đạo hiệu Đại Giác Thiền
Sư. Danh hiệu thiền sư bất đầu xuất hiện trên đất Nhật
từ đó (9).
Kể
từ đó, Phật Giáo Thiền Tông được chấn hưng và phát triền
mạnh mẽ cho đến bây giờ. Khi đề cập đến Thiền Tông
không thể không nhắc đến tinh thần võ sĩ đạo. Vì tinh
thần võ sĩ đạo là sản phẩm hỗn hợp của tư tưởng và
cách hành thiền, tư tưởng Nho Giáo và tinh thần Thần Đạo.
Tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản là : trung hiếu, vũ dũng,
từ bi, lễ nhượng, cần kiệm, chất phác, trọng danh phận,
chuộng tiết tháo, coi sống chết như nhau. Những tinh thần:
từ bi, cần kiệm chất phác, coi sống chết như nhau thuộc
về cốt cách của Thiền Tông nói riêng và của Phật Giáo
nói chung. Vì từ bi là lý tưởng và hành động của Phật
Giáo. Trong Bách Trượng thanh qui có nói đến một ngày không
làm là một ngày không ăn, đó là "cần kiệm". Về yếu chỉ
"không cần văn tự, chỉ thẳng tâm người" đó là chất phác.
Trong Phật Giáo còn có tinh thần "vô úy, "vô úy thí" (tinh
thần không sợ hãi, dùng tình thần không sợ hải để cứu
giúp người), và lý vô thường, khổ, không, vô ngã chứa
đựng cả tình thần "vũ dũng, chuộng tiết tháo” vv..
Ngoài ra trong Phật Giáo rất coi trọng lòng hiếu thảo như
trong kinhVu Lan, Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Thâm trọng ân...
Nói
tóm lại những yêu cầu trong tinh thần võ sĩ đạo kể trên
điều nào cũng có trong kinh điển Phật Giáo. Xem trong
tinh thần võ sĩ đạo như trên không có điều nào là xấu,
thế nhưng sau thời Minh Trị Duy Tân thành công, các nhà tư
tưởng và các chính trị gia Nhật Bản đã biến chất
và khuếch đại tinh thần nầy thành tư tưởng “Đại Đông
Á", tiến đến chủ nghĩa quân phiệt Đế Quốc xâm chiếm
các nước Á Châu để rồi cuối cùng phải chuốc lấy thảm
bại, đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện năm 1945.
* Tông Nhật Liên : Do ngài Nhật Liên (Nicheren,1222- 1282)
sáng lập ngày 28 tháng 4 năm 1253 tại núi Thanh Trừng, vùng
Kominato thuộc tỉnh Chiba Nhật Bản. Năm 16 tuổi, ngài xuất
gia và sau đó đi chu du khắp nơi trên đất Nhật để tìm
học tất cả các tông phái. Nhưng cuối cùng ngài chọn kinh
Pháp Hoa làm trung tâm, chủ trương phương pháp tu hành là chỉ
niệm Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, vừa đơn giản vừa đầy
đủ thích hợp cho thời mạt pháp. Năm 1253, khi ngài 31 tuổi,
sau khi tu ngộ được lý Kinh Pháp Hoa, ngài trở lại quê nhà.
Một buổi sáng sớm, ngài lên núi Thanh Trừng ngồi tĩnh tọa
hướng về phía mặt trời mọc, đọc lớn đề mục Kinh Pháp
Hoa và tuyên bố lập ra Tông Nhật Liên từ ngày đó. Nhật
Liên nghĩ rằng Pháp Hoa là con mắt của mọi kinh, là trung
tâm của tất cả các kinh.
Năm
1260 Nhật Liên dâng tác phẩm nổi tiếng của ông là "Lập
Chánh An Quốc Luận" lên mạc phủ Bắc Điều, trong đó ông
đề ra phương án cứu nước khỏi tam tam bát nạn, công kích
mãnh liệt các tông phái Phật Giáo khác và đề nghị mạc
phủ chấp nhận hệ tín ngưỡng Pháp Hoa của ông. Những điều
nầy khiến mạc phủ và các tông phái Phật Giáo khác nổi
giận đốt am cỏ của ông. Năm 1261 ông bị đày đi Y Đông
thuộc vùng Y Đậu. Đến năm 1269, theo như lời Nhật Liên
tiên đoán là nếu không dùng công đức của Kinh Pháp Hoa để
ngăn giặc ngoài thù trong thì nước sẽ đại loạn. Lời tiên
tri đó lại trùng hợp với sự kiện quân Mông Cổ đến Đối
Mã đảo của Nhật lần thứ nhì và bắt đi hai người dân
trên đảo, do đó Nhật Liên có cớ cho rằng lời tiên đoán
của mình là đúng. Ông viết bốn câu cách ngôn gởi đến
các chùa ở Kamakura như sau: "Niệm Phật là nghiệp địa ngục
vô gián. Thiền Tông là của thiên ma. Chân ngôn là tội mất
nước. Luật tông là giặc nước nói xằng". Vì thế các tông
phái Phật Giáo khác quyết rượt đuổi ông không tha. Chánh
quyền đương thời xử ông tội chém đầu, nhưng sau đó giảm
còn tù biệt xứ, đày đi Tá Độ. Thế nhưng tại sao Nhật
Liên lại dám phạm thượng bài xích các tông phái Phật Giáo
đã có truyền thống tự ngàn xưa như thế?
Như
trên đã nói vì thời kỳ mạt pháp, các phái Phật giáo cũ
vì loạn lạc phải tự bảo vệ nên dần dà tiến đến việc
tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng cho tông phái và địa
phương mà phát triển thành xung đột võ lực, đâm chén nhau
khiến mọi tầng lớp dân chúng trong nước oán ghét khinh
lờn. Do đó mới có hiện tượng Nhật Liên xuất hiện. Nói
về chí khí của Nhật Liên, mặc dù bị đày đi đâu, trong
cảnh tù ngục thế nào chăng nữa, Nhật Liên vẫn tiếp tục
truyền bá tư tưởng của ông, thu nhận tín đồ đệ tử
quyết lập tông phái truyền bá tín ngưỡng Pháp Hoa của ông.
Tông
Nhật Liên đã đề ra "Tam Pháp" về bổn phận người xuất
gia như sau: 1. Độc Tụng: chuyên học Kinh Pháp Hoa, chuyên tụng
đề mục Nam Mô Diệu pháp Liên Hoa Kinh (đọc âm bằng tiếng
Nhật là NAMMO MYOHOO REINGEIKYO). 2. Giảng Tán: nghiên cứu và
diễn giảng kinh điển để truyền bá gíao pháp đến mọi
người. 3. Thư Tả: sao chép, in kinh điển để truyền bá giáo
pháp (10). Nhờ những phương pháp tu thực tiễn, đơn giản
gần gũi với đa số quần chúng bình dân, khiến mọi người
dễ thực hành theo giáo pháp, tránh mê tín dị đoan, đáp ứng
được nguyện vọng của đại đa số quần chúng bình dân,
do đó Tông Nhật Liên phát triển rất mạnh trên mọi phương
diện cho đến ngày hôm nay.
E.
Phật Giáo từ Thời Nam Bắc Triều Đến Eido (1334-1868)
Các
tông phái Phật Giáo mới là Tịnh Độ, Thiền và Nhật Liên
đều thích ứng với thời đại lúc bấy giờ, nhờ sự đơn
giản về pháp tu và phương cách hành đạo mà họ đã thu
hút được sự tin tưởng của đa số dân chúng tin theo và
được lòng tín cẩn của nhà cầm quyền đương thời. Vì
có lực lượng quần chúng tin theo và với thế lực trong cơ
cấu quyền lực, nên các tông phái nầy cũng giữ vai trò kinh
tế rất quan trọng của quốc gia. Các chùa và tông phái liên
hệ chẳng những tự lực về kinh tế mà họ còn giúp đỡ
cho địa phương phát triển kinh tế nữa. Ngoài ra, điểm đặc
biệt trong giới tôn giáo Nhật Bản phải kể là tinh thần
dung hợp giữa Thần Đạo và Phật Giáo. Theo truyền thống
Thần Đạo của dân tộc Nhật Bản, họ thờ Thần, lễ lược
theo nghi thức Thần Đạo, tinh thần xem vua như là vị Thần
bất khả xâm phạm, đã có từ thời cổ đại đến ngày
nay.
Theo
Thần Đạo thì vị Thần chúa tể của vạn hữu vũ trụ đó
là Thiên Ngự Trung Chúa Thần. Vị Thần nầy sinh ra hai vị
Thần khác là Linh Thần và Sản Thần. Hai vị Thần nầy sinh
ra tất cả vạn hữu vũ trụ. Thiên Hoàng Nhật Bản được
hai vị Thần nầy sinh ra nên có một uy quyền tuyệt đối
là đại diện cho Thần cai trị muôn dân (11). Do đó quyền
uy và thân thể của Thiên Hoàng không ai được đụng đến.
Trong Hiến Pháp Minh Trị có câu 'Thiên Hoàng là Thần Thánh
bất khả xâm phạm". Thế nhưng, ngoài tư tưởng thờ vua giữ
nước và tế lễ ra, Thần Đạo không có tư tưởng xuất
thế giải thoát và nhập thế hành động như Phật Giáo.
Bởi
lẽ đó, từ khi Phật Giáo du nhập vào Nhật Bản đến thời
đại này, một mặt Phật Giáo đã hòa nhập được vào xã
hội không một trở ngại đáng kể nào từ phía Thần Đạo,
mặt khác Phật Giáo dung hợp với Thần Đạo và lãnh đạo
luôn về mọi phương diện tôn giáo để trở thành quốc giáo
từ thời Thánh Đức Thái Tử. Trên ngàn năm Thần - Phật
đề huề dưới sự lãnh đạo của Phật Giáo, đã đến khúc
quanh lịch sử dưới thời Eido. Vì được nhà cầm quyền
các thời đại quá sùng kính Phật Giáo, Phật Giáo trở thành
độc tôn không có địch thủ nên tăng ni đã trở thành thoái
hóa, tiêu cực, ỷ lại vào thế lực chính quyền, xa rời
dần quần chúng và sinh ra nhiều tệ nạn tiêu cực.
Ngược
lại Nho học với tinh thần Tề gia trị quốc bình thiên hạ,
và Thần Đạo với thế thủ và chỉ biết thờ vua giúp nước
nên không làm điều gì để phải bị dân chúng oán ghét.
Vào năm 1843 , thời thế đã chín mùi, các nhân sĩ xã hội
đã vùng dậy cùng với Nho Sĩ, Thần Kỳ khắp nơi chỉ trích
tăng ni là vô tích sự, đốt phá chùa chiền, bài xích Phật
Giáo, đề cao Thần Đạo và Nho Giáo. Chủ nghĩa tôn vương
cũng ra đời vào thời điểm này. Đứng trước phong trào
tôn vương ngày càng mạnh, tướng quân của mạc phủ Eido
phải đem chính quyền trở lại cho Thiên Hoàng. Phong trào Minh
Trị Duy Tân bắt đầu từ đấy.
II.
PHẬT GLÁO DƯỚI THỜI MINH TRỊ (1868-1912) DUY TÂN
A.
Thần Phật Phân Ly
Phật
Giáo là một yếu tố nền tảng của chế độ mạc phủ,
nên khi mạc phủ bị sụp đổ thì Phật Giáo cũng bị họa
lây không còn chỗ tựa. Phật Giáo bị xem là tôn giáo ngoại
lai. Thần Đạo phái Bình Điền, Thỉ Dã Huyền Đạo và Ngọc
Tùng Tháo v.v... sau khi bài xích Phật Giáo đã đề xướng
quốc đạo Thần Đạo, khôi phục lý tưởng thần thoại,
Thần Vũ Thiên Hoàng lập quốc. Thần Đạo chủ trương:1.
Lấy kỉnh thần, ái quốc làm chỉ thú.2. Lấy thuận thiên
lý, hợp nhân đạo làm phương châm.3. Lấy việc tuân phụng
Thiên Hoàng, trung thành với tổ quốc làm mục đích (12).
Những
điều trên đây cho thấy chủ trương quốc gia chủ nghĩa,
và nguyên lý tín phụng thần linh Thiên Hoàng của Thần Đạo.
Do chủ trương của Thần Đạo như vậy nên rất phù hợp
với các nhà chính trị quanh Minh Trị Thiên Hoàng. Thêm vào
đó, Thần Đạo là tôn giáo lâu đời của Nhật Bản nên
vua Minh Trị mới chọn Thần Đạo làm quốc giáo. Năm 1867
triều đình tuyên bố vương chính phục cổ. Năm 1868, Minh
Trị năm thứ nhất, nhà vua tuyên bố lệnh Thần Phật phân
ly với nội dung là: Bổ nhiệm quan thần kỳ coi về tôn giáo,
chùa và thần xã trong toàn quốc phải chia riêng, khôi phục
trang phục thần chức cho tăng lữ Thần Đạo, cấm dùng danh
từ nhà Phật gọi tên Thần, cấm dùng những dụng cụ
của chùa như chuông mỏ trong thần xă, cấm thờ tượng
Thần có hình dáng Phật, Bồ Tát. . .Vì cái lệnh quái gỡ
đó nên phong trào chống phá Phật Giáo, đập chùa chiền,
giết hại tăng ni tín đồ Phật Giáo nổi lên khắp nơi. Phía
Phật Giáo phải chống đỡ tự vệ và do đó khắp nơi trong
nước đều có bạo động.
Minh
Trị nâng Thần Đạo lên hàng quốc giáo, dùng tư tưởng Nho
Giáo làm tiêu chí cho chính trị, phát triển kinh tế, khoa học
kỹ thuật theo mô hình các nước Tây Phương. Minh Trị đã
thừa thắng xông lên, vào tháng 4 năm Minh Trị thứ 3 (1871),
nhà vua ra lệnh bắt buộc tất cả tăng ni phải ăn mặn, để
tóc, lấy vợ, lấy chồng như người tại gia. Đến tháng
9 cùng năm, lại ra lệnh cho tăng ni phải dùng họ thế tục
của mình chứ không được dùng họ Thích như trường hợp
Phật Giáo các nước khác. Bất luận là trong mệnh lệnh Thần
Phật phân ly đó chính phủ có chủ đích triệt hạ Phật
Giáo hay không thì quan thần kỳ và các phái Thần Đạo Bản
Cư và Bình Điền v.v... đều có âm mưu tiêu diệt Phật Giáo
qua lời nói và hành động của họ. Ở các vùng đất Tín
Châu, Tùng Bản, Phiên Tát Ma... họ đã tổ chức đập phá
chùa chiền, bắt buộc tăng ni phải hoàn tục. Ở Phiên Phú
Sơn nơi Chân Ngôn Tông thạnh hành nhất, hơn 1320 ngôi chùa
đã bị đập phá và di chuyển gộp làm một chùa mà thôi.
Còn nhiều nơi khác trong toàn quốc cũng bị những bức hại
tương tự như thế...
Tại
sao Minh Trị vừa mới cầm quyền lại có vẻ thù ghét Phật
Giáo đến độ như thế? Bởi lẽ từ trước Vua chỉ là nhân
vật tượng trưng không có quyền lực về chính trị hay quân
sự. Tất cả quyền hành đều nằm trong tay tướng quân mạc
phủ. Trong đó Phật Giáo là một hậu thuẫn quan trọng trong
việc duy trì chế độ mạc phủ. Vua vì mất quyền trong nhiều
đời, bị các tướng quân ép chế nên sanh ra thù hận luôn
cả Phật Giáo là chỗ dựa của mạc phủ. Vì thế khi đánh
đổ được mạc phủ, nhà vua muốn tiêu diệt luôn Phật Giáo,
và từ đó đã làm mất lòng dân như vậy. Minh Trị vì nhận
thấy tình trạng thiên hạ đại loạn không phải là phúc
của quốc gia nên mới trấn an dân chúng là chính quyền không
chủ trương triệt hạ Phật Giáo như các chính quyền địa
phương và Thần Đạo đang làm. Để khuyến dụ dân chúng
phải tôn sùng mình, nhà vua đưa ra ba nguyên tắc như sau: 1.Phải
thể hiện tư tưởng thờ thần yêu nuớc.2. Phải làm sáng
tỏ thiên lý nhân đạo. 3. Phải phụng sự Hoàng Thượng,
tuân giữ ý chỉ triều đình (13). Xem ra ba điểm nầy là sự
sao chép lại ba điểm kể trên của Thần Đạo mà thôi .
B.
Sự Chuyển Biến Kỳ Diệu Của Phật Giáo
Tuy
thành phần tăng ni bị đàn áp nhưng Phật Giáo tại gia lại
phát triển rất mạnh. Trong đó nhờ Minh Trị áp dụng những
phương thức canh tân xứ sở theo mô hình của các nước Tây
Phương. Chính phủ cử phái đoàn hàng trăm người đến Mỹ,
Pháp, Anh, Đức v.v... để nghiên cứu phát triển về mọi
mặt cho Nhật Bản. Đương nhiên trong những mô hình về kinh
tế, khoa học, kỹ thuật, chính trị, có cả mô hình về tự
do tôn giáo. Các tông phái Phật Giáo mặc dù bị thế tục
hóa nhưng nhân tài rất nhiều. Đồng thời để theo kịp đà
tiến của xã hội, các tông phái Phật Giáo đã cử người
sang Âu Mỹ học và nghiên cứu về tự do tín ngưỡng của
các nước Tây Phương. Trong đó có các vị nổi tiếng như
Đại Cốc Quang Tôn, Mai Dã Trạch Dung v.v... của Chân Tông,
phái Bản Nguyện Đông thì có Đại Cốc Quang Huỳnh, Thạch
Xuyên Thuấn Thai...
Sau
khi các học giả của các tông phái đi Âu Mỹ nghiên cứu
chính sách tôn giáo của Tây Phương trở về, họ bắt đầu
công kích chính sách phân biệt tôn giáo của chính phủ Minh
Trị. Họ đòi bình đẳng tôn giáo và tự do tín ngưỡng.
Các phái Bản Nguyện Đông, Bản Nguyện Tây, Cao Điền, phái
chùa Cẩm Chức-Mộc Bộ thuộc Chân Ngôn, đồng thời các
tông phái khác như Tịnh Độ Tông, Nhật Liên Tông, Thiên Thai,
Tào Động, Lâm Tế v.v... đều đồng lòng cử đại diện
nhiều lần tiếp xúc trực tiếp với chính quyền. Họ đã
chứng minh cho nhà vua biết rằng chính sách bài xích Phật
Giáo là hủy báng các bậc tiên đế và nhân dân. Bởi vì
trên ngàn năm đến nay các bậc tiên đế dựng nước nhờ
vào tư tưởng Phật Giáo mà thành công. Trên 80 phần trăm
dân chúng theo Phật Giáo đã bỏ tài lực vật lực ra để
dựng nước và xây dựng quốc gia về những phương diện
đạo đức, văn hóa.v.v... Nếu hủy hoại những công trình
do các bậc tiên đế và toàn dân xây dựng là cố tình phản
lại quốc gia dân tộc, phản lại các bậc tiên đế v.v...
và v.v...
Trước
những phản ứng công kích mạnh mẽ của tất cả các tông
phái Phật Giáo, chính phủ Minh Tri phải nhượng bộ. Kết
quả là từ năm Minh Trị thứ 8 đến thứ 17, chính quyền
lần lượt giải thể các cơ quan kềm chế Phật Giáo như
"Sảnh Giáo Bộ", phế bỏ chức giáo đạo, cho Thiên Đạo
và Phật Giáo hoạt động bình đẳng trở lại. Năm Minh Trị
thứ 22, ban bố Minh Trị Hiến Pháp, trong điều 28 của Hiến
Pháp qui định quyền tự do tín ngưỡng. Đó là những thắng
lợi đáng ghi nhớ của Phật Giáo. Để tranh đấu giải trừ
pháp nạn, các phái Phật Giáo đã rút tỉa được nhiều bài
học đoàn kết, dẹp bỏ độc tôn tông phái, dẹp bỏ những
tệ nạn thoái hóa biến chất...Cũng trong thời kỳ nầy, các
tông phái cũ mới đã hợp tác chặt chẽ hơn. Họ đã thành
lập được các tổ chức như "Chư Tông Đồng Đức Đồng
Minh", "Chư Tông Tổng Huỳnh"...
Tông
phái nào cũng đưa những tăng ni ưu tú đi Ấn Độ để học
kinh điển bằng chữ Phạn, qua các nước Âu Mỹ để nghiên
cứu phương pháp tổ chức giáo hội theo phương thức có khoa
học như phương Tây. Họ tiếp tục mở các trường đào tạo
tăng tài, các cơ sở giáo dục công cộng để hiện đại
hóa Phật Giáo. Ví dụ các học giả nghiên cứu kinh điển
tiếng Phạn như: Cao Nam Thuận Thứ Lang, Địch Nguyên Vân Lai,
Nam Điều Văn Hùng... Các học giả nghiên cứu kinh bằng Pali
như Trường Tỉnh Chân Cầm, Cao Nam Thuận Thứ Lang... Các học
giả nghiên cứu so sánh triết học Tây phương với Triết
học Phật Giáo như: Thanh Trạch Mãn Chi, Tỉnh Thượng Viên
Liễu...Nhờ mở rộng chân trời học vấn, đào tạo nhân
tài và du nhập kiến thức nhập thế hành động, và phương
pháp tổ chức có hệ thống khoa học, các cơ sở giáo dục
Phật Giáo đã gặt hái nhiều thành quả vẻ vang từ thời
Minh Trị Duy Tân cho đến bây giờ.
III.
NHỮNG THÀNH QUẢ CỦA PHẬT GIÁO SAU MINH TRỊ DUY TÂN
A.
Về Văn Hóa, Giáo Dục
Nhờ
những nhân tài được đào tạo dưới thời Minh Trị (Meiji)
đến thời Đại Chánh (Taishoo, 1912-1925), Phật Giáo Nhật Bản
đă tạo được những thành quả giáo dục đáng khích lệ.
Các viện nghiên cứu và các đại học Phật Giáo xuất hiện
dưới thời Đại Chánh như: Đại Học Đại Chánh của các
tông Tịnh Độ, Thiên Thai và phái Phong Sơn của tông Chân
Ngôn liên kết thành lập. Đại Học Cao Dã Sơn của Chân Ngôn,
Đại Học Lập Chính của tông Nhật Liên, Đại Học Đại
Cốc của phái Đại Cốc Chân Tông, Đại Học Long Cốc của
phái Ban Nguyện Chân Tông. Nếu tính đến những năm gần đây
thì Phật Giáo Nhật Bản có 24 trường đại học, 41 đại
học ngắn hạn hai năm, 13l trường cao đẳng, hằng trăm trường
trung học và tiểu học. Trong 24 trường đại học có tám
đại học lớn có các phân khoa dạy đến bậc tiến sĩ như
các đại học Đông Dương, Lập Chính, Đại Chính, Câu Trạch,
Đại Cốc, Long Cốc, Cao Dã Sơn, Phật Giáo. Ngoài ra những
đại học lớn công tư khác có các phân khoa Phật Giáo như
Đại Học Tokyo, Kyoto, Đông Bắc, Tảo Đạo Điền, Bắc Hải
Đạo, Quốc Học Viện, Giáo Dục Tokyo, Thiên Lý, Kim Trạch,
Cửu Châu v.v…Kể từ Minh Trị năm thứ 21 (1888) đến Chiêu
Hòa năm thứ 42 (1967) Phật Giáo đào tạo 276 tiến sĩ văn
học nghiên cứu Phật Giáo. Chỉ riêng sau năm 1945 có đến
179 tiến sĩ. Còn số thạc sĩ và cử nhân không thể kể hết.
Phật Giáo có khối lượng nhân tải vĩ đại như vậy nên
sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt của các tông phái
là chuyện đương nhiên.
B.
Về báo chí, xuất bán, xã hội :
Nhật
báo lớn nhất tại Nhật có đề mục thường xuyên về Phật
Giáo là Mỗi Nhật Tân Văn, Độc Mại Tân Văn. Những tạp
chí nổi tiếng của Phật Giáo như Đại Pháp Luân, Thế Giới
Phật Giáo, Phụ Nữ Phật Giáo, The Eastern Buddhist, Our Aspirations,
Young Buddhists...có trên 360 tờ báo. Các báo nổi tiếng nhất
của Phật Giáo là Phật Giáo Time, Trung Ngoại Nhật Báo, Văn
Hóa Thời Báo. .. Về xuất bản, Phật Giáo có 143 cơ sở.
Phật Giáo còn có 10 hãng thông tấn, 38 thư viên công cộng,
49 viện bảo tàng. Phật Giáo còn có những hoạt động nghệ
thuật trong lãnh vực âm nhạc, phát thanh, điện ảnh, vũ đạo,
diễn kịch, mỹ thuật, kiến trúc... không thể kể hết. Về
xã hội , Phật Giáo có l16 viện dưỡng lão, 13 viện cứu
hộ, 26 viện chữa bệnh bảo hộ, 3 viện tàn phế, 16
sở thụ sản, 24 sở nhân sự tương đàm...(14)
C.
Nhập Thế Hành Đạo :
Theo
thống kê năm 1950 , Phật Giáo có 427 đoàn thể. Về tông phái
thì từ 13 tông đã phát triển thành 56 phái sau đó tăng lên
đến 162 phái. Đáng kể nhất là các phái thuộc hệ Nhật
Liên Tông. Sau thời Đại Chính, tư tưởng dân chủ trỗi dậy,
tăng lữ được tham gia chính trị, do đó những năm trong thập
niên 60, 70 đến hiện tại có nhiều vị tăng đã trở thành
dân biểu và nghị sĩ Quốc Hội. Năm 1964 Sáng Giá Học Hội
(Soko Yakai) thuộc hệ Nhật Liên đã thành lập đảng Công
Minh (Komeito), hiện nay đảng nầy có khoảng trên 20 ghế nghị
sĩ, đứng hàng thứ ba sau đảng Tự Do Dân Chủ và đảng
Xã Hội. Sáng Giá Học Hội, vào năm mà dân số Nhật có 99
triệu người, thì hội nầy đã có 13 triệu hội viên, mỗi
tháng tăng lên khoảng chừng 10 vạn người (15).
Hiện các tông phái Phật Giáo Nhật Bản hoạt động mạnh
tại Nam Mỹ như Brazil, Peru, ở Bắc Mỹ như Hoa Kỳ, Canada,
các nước Âu Châu và Á Châu như Đài Loan, Đại Hàn...
Chúng
ta có thể kết luận được rằng trước thời kỳ Minh Trị
Duy Tân, Phật Giáo Nhật Bản là "Phật Giáo Đọc Kinh". Sau
Minh Trị Duy Tân, Phật Giáo đã trở thành "Phật Giáo Giáo
Hóa". Ai muốn tĩnh tâm xin mời tĩnh tọa tại vườn chùa Thiền
Tông. Ai muốn thấy cảnh cực lạc hiện thế xin mời đến
vườn chùa Tịnh Độ... của Phật Giáo Nhật Bản.
Lâm
Như Tạng
Huế,
Mùa Vu Lan 1997
Chú
thích:
(1).
Lâm Như Tạng, "Những Đặc Điểm Trong Phương Pháp Quản Lý
Xí Nghiệp Tại Nhật Bản", 1989.
(2).
Reikishi Kenkuykai, "Nihonshi Nenbyo" (tiếng Nhật), 1979.
(3).
Thích Thiên Ân, "Lịch Sử Tư Tưởng Nhật Bản", 1965.
(4).
Châm Vũ dịch, "Nhật Bản Tư Tưởng Sử", 1972.
(5).
Thích Bảo Lạc dịch, "Tông Phái Phật Giáo Nhật Bản", 1984.
(6).
Châm Vũ dịch, "Nhật Bản Tư Tưởng Sử", 1972.
(7).
Ishiii Susumu. "Nihon No Reikishi" (tiếng Nhật), 1965, quyển 7.
(8).
Chu-Bung and Chu-Pen, "Pure Land - Pure Mind", 1994.
(9).
Kitayama, " Nihon No Reikishi" (tiếng Nhật), 1965, quyển 4.
(10).
Châm Vũ dịch, "Nhật Bản Tư Tưởng Sử", 1972.
(11,12).
Thích Thiên Ân, "Lịch sử Tư Tưởng Nhật Bản",
1965.
(13).
Kitayama, "Nihon No Reikishi" (tiếng Nhật), 1965, quyển 4.
(14,15).
"Bukkyo Dainenkan" (tiếng Nhật), sách niên giám, 1964.
Tham
khảo: Bantam, Japan Yesterday and Today, 197l.
Người
gửi bài: Như Hồ