Phật
pháp tuyệt vời hơn tất cả mọi thứ giáo pháp khác, thật
hết sức khó để hiểu và nắm vững […]. Nền Đạo pháp
ấy có thể làm phát sinh vô lượng, vô biên đạo hạnh và
những điều xứng đáng để cuối cùng sẽ đưa đến Giác
ngộ tối thượng”.
Đó
là những lời trích từ một bức thư của vua Paikche, hoàng
đế của một trong những vùng lãnh thổ thuộc Triều Tiên,
gửi đến Nhật hoàng vào năm 552 (vài tài liệu khác cho là
năm 538 hay 548), trong mục đích trình bày với hoàng triều
Nhật Bản về những gì tuyệt vời của đạo Phật…
Nước
Nhật trước khi có lịch sử
Từ
thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ I trước Tây lịch, nước
Nhật gồm có những nhóm dân rải rác sinh sống bằng nghề
chài lưới. Các nhà khảo cổ đặt tên cho thời kỳ tiền
sử này là Jomon, dựa vào cách trang trí trên đồ gốm đã
khai quật được, các trang trí ấy là các đường nét uốn
cong bện vào nhau như những “sợi dây thừng”.
Song
song với nghề chài lưới, canh nông cũng bắt đầu xuất hiện
từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch cho đến thế kỷ thứ
III sau Tây lịch. Thời kỳ phát triển nông nghiệp gọi là
thời kỳ Yayoi, Yayoi là địa danh của một vùng khai quật
để khảo cổ.
Trong
thời kỳ này, người Nhật cũng học được từ lục địa
cách làm các khí cụ bằng đồng và xã hội Nhật cũng bắt
đầu tổ chức thành nhiều bộ tộc lớn và đông đảo hơn.
Các bộ tộc dần dần biến thành các phe phái rất hiếu chiến.
Năm
369, họ đánh chiếm lục địa và thành lập một lãnh thổ
nhỏ trên đất Triều Tiên, và nhờ đó người Nhật đã thiết
lập một đầu cầu tiếp nhận nền văn hoá lục địa. Bước
sang thế kỷ thứ VI, vị hoàng đế đầu tiên của nước
Nhật lên ngôi và lập ra hoàng triều Yamato, kinh đô đóng
ở Asuka, thuộc vùng Kyoto và Nara ngày nay.
Phật
giáo được đưa vào nước Nhật trong triều đại Yamato, tức
vào thế kỷ thứ VI, kèm theo cả nền văn minh lục địa.
Phật giáo và văn minh lục địa biến cải cả xã hội Nhật
và đưa nước Nhật vào kỷ nguyên lịch sử.
Bước
đầu của Phật giáo trên quần đảo Nhật Bản
Bức
thư của hoàng đế Triều Tiên, gồm có đoạn trích dẫn trên
đây, được chuyển giao cho hoàng đế Nhật qua trung gian của
một sứ thần, kèm theo bức thư này có một pho tượng Phật
bằng đồng thếp vàng và một ít kinh sách ghi chép những
lời giáo huấn và sự tích của Đức Phật. Đây là bước
đầu của Phật giáo trên quần đảo Nhật Bản. Tư tưởng
Phật giáo được phổ biến nhanh chóng trong hoàng triều, nhưng
đồng thời cũng gây ra chia rẽ.
Bộ
tộc Soga, có ít nhiều liên hệ với Triều Tiên, chủ trương
cải tổ quốc gia, dựa vào Phật giáo và vài nét văn minh
Trung Hoa. Hoàng đế Nhật liền uỷ thác pho tượng Phật cho
bộ tộc này. Hai bộ tộc khác là Nakatomi và Mononobe lại chủ
trương duy trì truyền thống dân tộc và Thần đạo.
Thần
đạo là tên được đặt ra về sau này, vì thật ra lúc ấy
Thần đạo chỉ là một tín ngưỡng dân gian, thờ phụng những
sức mạnh thiên nhiên: tinh tú, sông ngòi, núi non, cổ thụ,…
tất cả mọi thứ đều hàm chứa tính cách thiêng liêng, biểu
tượng của những thần linh gọi là kami.
Hai
bộ tộc này chống lại bộ tộc Soga một cách quyết liệt.
Cũng vào lúc đó dịch hạch lan tràn, hai bộ tộc chống đối
cho rằng việc tiếp nhận Phật pháp và pho tượng Phật là
nguyên nhân khiến các thần linh Thần đạo nổi giận, và
đấy là nguồn gốc của mọi tai ương. Họ bắt ép hoàng
đế phải vứt bỏ pho tượng xuống sông.
Nhưng
sau đó lại xảy ra một biến cố khác, một cơn hoả hoạn
lớn thiêu rụi cả hoàng thành, người ta lại diễn đạt
biến cố này như là một quả báo phát sinh từ hành vi ném
bỏ tượng Phật xuống sông. Vị hoàng đế nước Nhật phải
cho đúc hai pho tượng khác để thay thế.
Sự
tranh chấp giữa các bộ tộc đưa đến chiến tranh. Năm 587,
bộ tộc Soga theo Phật giáo dẹp yên các phe phái khác và đưa
Phật giáo lên hàng chính giáo. Tuy thế các thần linh Thần
đạo vẫn tiếp tục được tôn kính vì Phật giáo luôn luôn
chủ trương hoà hợp với tất cả các khuynh hướng tín ngưỡng
khác. Phật giáo và Thần đạo từ đó cùng hội nhập với
nhau và phát triển một cách hài hoà.
Một
nền văn hoá mới
Phát
triển phát triển nhanh chóng trên đất Nhật, đi đôi với
việc quảng bá kinh sách. Hán học trở nên cần thiết để
nghiên cứu và tu tập. Chữ Hán mang tính cách văn chương và
uyên bác trong kinh sách được phổ biến rộng rãi, vì trước
đó Nhật Bản chưa hề có chữ viết để ghi chép, kể cả
lịch sử của họ.
Hán
học là một điểm thuận lợi cho việc hoằng pháp, vì người
dân có thể đọc thẳng các kinh điển gốc Hán sẵn có, không
như trường hợp của Tây Tạng phải phiên dịch những pho
kinh sách khổng lồ.
Nửa
thế kỷ sau, nền văn minh Trung Quốc bắt đầu ảnh hưởng
sâu rộng thêm, góp phần kiến tạo một nền văn hoá mới
trên đất Nhật. Các vị Tăng Ni Trung Quốc, Triều Tiên đến
Nhật để truyền bá Phật pháp, người Nhật cũng sang Triều
Tiên và Trung Quốc học đạo.
Ngoài
ra nước Nhật còn đón tiếp các các học giả, các nghệ
gia… từ lục địa đến, họ mang theo văn chương, khoa học,
thiên văn, thi ca, hội hoạ… Năm 588, ngôi chùa Phật đầu
tiên được xây dựng tại kinh đô Asuka. Đầu thế kỷ thứ
VII, thái tử nhiếp chính là Shotoku Taishi (574-622) được bộ
tộc Soga đưa lên nắm quyền hành bên cạnh hoàng hậu Suiko.
Vị thái tử này liền thiết lập ngoại giao với Trung Quốc
và gửi sứ thần sang kinh đô của xứ này.
Từ
đó, cả hai nước nhộn nhịp trao đổi văn hoá, cùng nhau
phát triển và quảng bá Phật pháp. Người ta thường xem hoàng
thân Shotoku như vua A-dục của nước Nhật, mặc dù vị hoàng
thân này chỉ giữ chức vụ nhiếp chính và chưa hề lên ngôi.
Một
đế quốc hùng mạnh được hình thành
Cả
dân gian và hoàng triều Yamato đều thấm nhuần Phật pháp,
điều này là một yếu tố vô cùng thuận lợi đưa đến
một nước Nhật thống nhất, đoàn kết. Hoàng đế Nhật
và bộ tộc Soga cùng nhau thiết lập một chính quyền trung
ương vững mạnh dựa vào đạo đức Phật giáo và cũng từ
đó Phật giáo trở thành một sức mạnh tinh thần cho toàn
thể dân chúng.
Hoàng
thân Shotoku Taishi là một Phật tử hết sức nhiệt tâm và
trung kiên, tu học Phật pháp với nhiều vị thầy người Triều
Tiên, Trung Quốc, đồng thời ông cũng là một nhà chính trị
tài giỏi và tinh tế. Năm 604, ông ban hành bản Hiến pháp
đầu tiên của Nhật Bản, gồm 17 điều khoản, trong đó điều
khoản thứ hai khuyên dân chúng phải tôn kính Tam bảo.
Bản
Hiến pháp dựa trên nguyên tắc công bằng xã hội, sự ngay
thật và công minh, rất gần với Phật giáo, và bản hiến
pháp này đã đưa nước Nhật vào một kỷ nguyên mới. Người
Nhật dần dần ý thức được cá tính dân tộc, tôn kính
Phật pháp, cùng nhau thiết lập một nền văn hoá cá biệt
hơn, độc lập hơn với nền văn hoá Trung Quốc. Vào năm 624,
nước Nhật có 46 tu viện, 816 Tỳ kheo và 569 Tỳ kheo ni.
Tóm
lại Phật giáo đã góp công khai hoá và đưa nước Nhật bước
vào kỷ nguyên lịch sử, tạo cho nước Nhật một nền văn
hoá thấm nhuần tinh anh Phật pháp, một xã hội hài hoà, thuần
nhất và phồn vinh như ta thấy ngày nay.
Nguyễn
Đức Tiến
(Văn
hóa Phật giáo)
Nara
là thành phố nhỏ nằm ở phía Đông Bắc Nhật Bản. Nơi
đây đã từng là thủ đô của đất nước Nhật Bản từ
năm 710 đến năm 784. Đây là trung tâm nghệ thuật truyền
thống của Nhật Bản, trong đó có kiến trúc độc đáo của
các ngôi chùa.
Thành
phố Nara không hề có bóng dáng của nhà cao tầng. Đây là
thành phố của chùa chiền, lăng tẩm, mang nét cổ xưa, tĩnh
lặng và thơ mộng. Những ngôi chùa, những bức tượng Phật
chủ yếu được làm bằng gỗ quý. Muốn thăm hết các ngôi
chùa ở Nara cũng phải mất ít nhất vài ngày, mặc dù toàn
thành phố có diện tích chỉ khoảng 211,6km2.
Thời
Nara (năm 710), đạo Phật được chính quyền Nhật Bản ủng
hộ mạnh mẽ. Lúc đó, Nhật Bản cũng có quan hệ rất tốt
với Trung Quốc - thời nhà Đường đang phát triển hưng thịnh
- Nara trở thành nơi tiếp thu những sản phẩm văn hóa, nghệ
thuật của đại lục. Những công trình xây dựng, nghệ thuật,
điêu khắc... vẫn còn lưu giữ đến nay và được xếp vào
tài sản quốc gia của đất nước Hoa anh đào.
Di
sản văn hóa quan trọng nhất của Nara là quần thể chùa Todaiji
được xây từ năm 743 và hoàn thành năm 751 trong một vùng
chia thành 64 khu thuộc phía Đông của Nara. Chùa Todaiji là một
trong những ngôi chùa lâu đời và nổi tiếng bậc nhất, đồng
thời là một trong những thắng cảnh tuyệt vời của Nhật
Bản. Theo truyền thuyết, đã có đến 420.000 người cúng tiền
và 2.180.000 người tham gia xây dựng chùa. Bức tượng Đại
Phật do một nghệ sĩ đến từ vương quốc Baekje, Triều Tiên,
thiết kế. Đây là bức tượng bằng đồng mạ vàng lớn
nhất thế giới - nằm trong một công trình làm toàn bằng
gỗ tên là Đại Phật Điện.
Chùa
Todaiji còn sở hữu vô số báu vật văn hóa với hơn 20 pho
tượng Phật và tác phẩm nghệ thuật được xếp loại di
sản quốc gia. Đại Phật Điện có chiều cao 48 mét, mặt
bằng chữ nhật 56 mét x 50 mét, là công trình gỗ lớn nhất
thế giới. Dù có kích thước đồ sộ như vậy, người ta
vẫn cho rằng Đại Phật Điện còn chưa đủ rộng để chứa
pho tượng. Đại Phật bên trong ngôi điện ngày nay, khách
tham quan phải rất chật vật khi tìm khoảng rộng để ngắm
nhìn được toàn bộ pho tượng.
Quần
thể chùa Todaiji ngoài Đại Phật Điện mà còn cả hai ngôi
tháp bảy tầng, một giảng viện và khu tịnh xá. Một dãy
hành lang bao quanh Đại Phật Điện tương tự như thiết kế
của quần thể chùa Horyuji nổi tiếng. Toàn bộ quần thể
chùa Todaiji trải dài 1 cây số theo trục Bắc - Nam là hàng
loạt công trình lịch sử, trong đó có Kho báu Hoàng gia - nơi
chứa kho bảo vật của Thiên hoàng Shomu.
Một
điểm đến hấp dẫn khác ở Nara là Công viên Nara được
xây dựng vào năm 1880 bao gồm hầu hết những thắng cảnh
của Nara như đền Todaiji, đền Kofukuji, lăng Kasuaga Taisha,
đền Gangoji, đền Yakushiji, đền Toshodaiji, cung Heijo... Bảo
tàng quốc gia Nara tập trung vô số những sưu tập về nghệ
thuật Phật giáo. Đây cũng là nơi ở của hàng trăm con hươu
hoang dã tự do lang thang. Theo đạo Shinto, hươu được xem là
sứ giả của các thần linh, do đó những con hươu ở Nara
đã trở thành biểu tượng của thành phố và thậm chí được
đăng ký tài sản quốc gia.
Nara
còn có hàng loạt lễ hội và sự kiện văn hóa được tổ
chức hàng năm. Đến Nara, du khách có thể tìm đến những
làng nghề thủ công gia truyền như hàng mỹ nghệ, đặc biệt
là mì sợi Nhật Bản và tận hưởng không gian bình lặng
của những con đường khoáng đạt, những khuôn viên xanh của
cỏ và thông.