Phật
giáo cổ truyền ở Cộng hoà Liên bang Nga chủ yếu là Phật
giáo Đại thừa theo truyền thống Phật giáo Tạng - Mông.
Nói một cách chính xác hơn, đây là Tông phái Gelugpa (Tông
phái Mũ vàng, gọi theo màu mũ của các nhà tu hành). Tông phái
này do nhà cải cách Phật giáo Tây Tạng là Lạt Ma Xzonkhava
(1357-1419) sáng lập. Tông phái Phật giáo này còn được gọi
là Lạt Ma giáo (Lamaism) và các vị cao tăng của Lạt Ma giáo
được gọi là các Lạt Ma (Lama).
Hiện
nay, tổ chức Phật giáo lớn nhất tại Liên bang Nga có tên
gọi chính thức là Giáo hội (Sangha) Phật giáo cổ truyền
Nga, một tổ chức thống nhất các tự viện trên lãnh
thổ toàn Nga. Người đứng đầu Giáo hội Phật giáo cổ
truyền Nga hiện nay (năm 2003) là Đamba Aiusheev với giáo phẩm
Panđiđô Khambô - Lạt Ma. Đamba Aiusheev sinh năm 1962 tại tỉnh
Trichinskaia. Ông tốt nghiệp trường Trung cấp Sư phạm và
sau đó làm giáo viên tiểu học. Năm 1983, ông theo học tại
Trường Đại học Phật giáo Zanabazar ở thành phố Ulan Bator,
Mông Cổ và tốt nghiệp trường này năm 1988. Ông chuyên sâu
về y học cổ truyền Tây Tạng. Sau khi tốt nghiệp, Đamba
Aiusheev làm người hướng dẫn cho các sinh viên Nga học tại
trường này trong vòng một năm và trở về nước tới tu hành
tại tự viện Ivôlginski. Năm 1991, ông trụ trì tự viện Murôtrinski.
Năm 1995, Đamba Aiusheev được bầu làm người đứng đầu
Giáo hội Phật giáo cổ truyền Nga và giữ vị trí này từ
đó đến nay.
1.
Sự
xuất hiện Phật giáo ở nước Nga thế kỉ XVII - XVIII
Phật
giáo bắt đầu du nhập vào Nga từ thế kỉ XVII - XVIII, khi
những bộ tộc Mông Cổ: người Oirat (Kalmưk) và người Buriat
tới định cư tại vùng hạ lưu sông Volga và vùng Zabaikalie
(ngoại Baican). Sau này, vào năm 1914, khi vùng Tuva được sáp
nhập vào tỉnh Enisêi thì một số dân tộc ở đây cũng theo
đạo Phật.
Năm
1741, Nữ hoàng Nga Elizabeta Petrôvna đã ban bố sắc lệnh công
nhận Phật giáo là một trong những tôn giáo chính thức của
Đế quốc Nga.
Những
bàn thờ Phật đầu tiên của người Buriat được dựng trong
các lều trại và cùng nay đây mai đó với các tín đồ Phật
giáo là cư dân du mục trên các thảo nguyên. Mãi đến những
năm 1753-1758, tự viện Xongolski (sau này là tự viện Khilgantuiski)
mới được xây dựng. Đây là tự viện Phật giáo được
xây dựng bằng gỗ đầu tiên ở Nga. Tiếp sau đó, một tự
viện khác cũng được xây dựng bằng gỗ - tự viện Gusinoozerski.
Trung
tâm Phật giáo thứ ba ở Zabaikalie là vùng Khorinski. Tại đây,
năm 1752, nhà sư Tây Tạng là Luvsan Shirab đã cùng với 33 nhà
sư của vùng này xây dựng tự viện, truyền bá và phát triển
Phật giáo. Lạt Ma Luvsan Shirab được bầu làm người đứng
đầu, cai quản các tự viện vùng Khorinski. Năm 1778, tự viện
Khorinski bị cháy và được chuyển sang xây dựng ở Kuđun.
Cũng
trong thời gian này, Phật giáo đã xuất hiện ở phần lãnh
thổ Châu Âu của Nga, vùng Kalmưkia. Vào đầu thế kỉ XVII,
được phép của Chính phủ Nga hoàng, từ Đgiungaria (nay là
vùng lãnh thổ Tây Bắc của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa) các
bộ tộc Oirat du cư vào Sibiri. Đến thế kỉ XVII, trên đường
du cư sang phía tây, họ đã tới vùng hạ lưu sông Volga và
sông Đôn. Tại Nga, người Oirat được gọi với cái tên Kalmưk
(có nghĩa là "những người bị tách ra"). Vào nửa sau thế
kỉ XVII, tại vùng này đã thành lập lãnh địa phong kiến
riêng của người Kalmưk (Kalmưkskoe Khanstvo), mà tôn giáo chính
thức của họ là Phật giáo. Ngay từ thế kỉ XIII, người
Oirat đã biết tới Phật giáo, song Phật giáo chỉ được
truyền bá rộng rãi trong cộng đồng này vào đầu thế kỉ
XVII. Năm 1771, do sự o ép của chính quyền Nga hoàng, phần
đông người Kalmưk du cư quay trở lại Trung Quốc và phần
lãnh địa phong kiến của họ bị xoá bỏ. Ở Nga lúc đó
chỉ còn lại 13.000 gia đình người Kalmưk và họ di cư sang
lưu vực sông Uran, sông Terek và sông Kuma. Khi du cư tới lãnh
thổ Nga, người Kalmưk mang theo những tự viện Phật giáo
du mục của mình, gọi là Khurula. Tự viện được cấu thành
từ 3 xe chuyên dụng trở lên. Các xe này đều có mái che,
gọi là Kibitka. Đây là các Phật điện di động của họ.
Sau đó, các tự viện Phật giáo đã được xây dựng thành
các toà nhà, vật liệu chủ yếu là gỗ, thí dụ tự viện
Đarkhan - Đorgin - kit ("Bảy điện") được xây dựng trước
năm 1616 tại vùng Semipalatinsk ngày nay. Cho tới cuối thế kỉ
XVIII, người Kalmưk ở Nga đã có 14 tự viện Phật giáo.
Ngoài
Phật giáo, ở người Kalmưk, người Buriat cũng như người
Tuvin (vùng Tuva) vẫn tiếp tục tồn tại tín ngưỡng cổ xưa
của mình là Saman giáo. Năm 1640, Đại hội các lãnh chúa Mông
Cổ và Oirat thế tục (Noion) đã thông qua bộ luật chính thức
cấm Saman giáo. Tuy ở tất cả các khu vực của Sibiri, Phật
giáo đã được phổ biến rộng rãi, song Saman giáo vẫn tiếp
tục tồn tại và đôi khi còn tạo ra những sự kết hợp
kì quặc với các nghi lễ của Phật giáo Đại thừa.
2.
Phật
giáo ở nước Nga thế kỷ XIX - Đầu thế kỉ XX
Vào
cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, Chính phủ Nga hoàng tiến
hành cải cách ruộng đất và cải cách hành chính ở Buratia.
Về ý nghĩa, cuộc cải cách này ngang tầm với sự xóa bỏ
chế độ nông nô ở Nga. Cải cách đã dấy lên làn sóng quần
chúng ở Zabaikalie và chia rẽ xã hội Buratia thành hai phái
đối lập nhau: những lãnh chúa phong kiến chống cải cách
và những người ủng hộ cải cách. Trong số "những người
tiến bộ" có các phú nông (culắc) và trí thức Buratia.
Sự
chia rẽ xã hội Buratia cũng diễn ra trong tăng đoàn Phật giáo.
Điều kiện vật chất của tăng đoàn lớp dưới ngày càng
xấu đi dẫn đến sự gia tăng số lượng "Lạt Ma thảo nguyên",
những người từ bỏ đời sống tu hành trong các tự viện
ra sống ở các làng quê gần những nơi thờ tự của dân
du mục.
Trong
hoàn cảnh đó, những người đứng đầu Phật giáo ở đây
như Agvan Đôrgiev cùng với Khambô - Lạt Ma Irôltuev và các
nhà khai sáng Buratia Giamxaranô, Barađin bắt đầu chiến dịch
"đổi mới" các tự viện Phật giáo và quay về với những
lí tưởng đạo đức của Phật giáo nguyên thuỷ.
Phật
giáo ở Kalmưkia giai đoạn này cũng có lịch sử riêng của
mình. Sau khi xoá bỏ lãnh địa phong kiến của người Kalmưk
(Kalmưkskoe Khanstvo) "Thảo nguyên Kalmưk" đã trở thành một
trong những đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ của nước
Nga Sa hoàng, trực thuộc chính quyền quân sự tỉnh Astrakhan.
Tuân theo Quy chế quản lí dân tộc Kalmưk, được thông qua
năm 1834, các tự viện Phật giáo hoàn toàn nằm dưới quyền
kiểm soát của chính quyền Nga hoàng.
Trước
Cách mạng Tháng Mười năm 1917 không lâu, các tín đồ Phật
giáo miền Nam Sibiri - người Tuvin - một trong những bộ
tộc người Tuyếc (Tiurki) duy nhất theo đạo Phật đã gia
nhập tổ chức Các tín đồ Phật giáo Nga.
Tuva
là vùng đất nằm ở thượng lưu sông Enisei, tiếp giáp với
Mông Cổ. Trong các thế kỉ từ XVII đến XIX, Phật giáo phát
triển mạnh trong cộng đồng người Tuvin ở đây, mặc dù
ngay từ thế kỉ XIII, họ đã bắt đầu tiếp xúc với tôn
giáo này. Vào năm 1914, với tên gọi vùng Uriankhaiski, Tuva được
đặt dưới quyền bảo hộ của nước Nga.
Tuy
Phật giáo không thể gạt bỏ hoàn toàn Saman giáo, tôn giáo
cổ xưa của người Tuvin, ra khỏi đời sống tín ngưỡng
của cư dân vùng này, nhưng từ khi vùng Uriankhaiski trở thành
một bộ phận của Đế quốc Nga, trên lãnh thổ Tuva đã có
tới 22 tự viện Phật giáo với khoảng 4.000 Lạt Ma và tăng
ni sinh.
Đến
đầu thế kỉ XX, ở Tuva có khoảng 2.000 thầy cúng Saman giáo
sống rất hoà hợp với các Lạt Ma Phật giáo. Không ít trường
hợp, các thầy cúng Saman giáo là phụ nữ và họ lại là
vợ của các Lạt Ma Phật giáo. Đôi khi, một người làm cả
hai chức năng của Phật giáo và của Saman giáo: vừa là thầy
Saman vừa là Lạt Ma (vừa là thầy phù thuỷ vừa là nhà sư).
Nhằm
mục đích phát triển các mối quan hệ quốc tế của nước
Nga với các nước Phương Đông, trong đó có việc thiết lập
các quan hệ trực tiếp của Chính phủ Nga hoàng với các chính
phủ thần quyền ở Mông Cổ và Tây Tạng, năm 1915, tại Sankt
Peterburg, đã xây dựng một tự viện Phật giáo, tự viện
Gunzetroinei, bằng tiền của người đứng đầu Phật giáo
Tây Tạng Đạt Lai Lạt Ma XIII và tiền lạc quyên của phật
tử ở Buratia và Kalmưkia(1). Bôgđôgegen, người đứng đầu
Phật giáo Mông Cổ, cũng quyên góp một lượng tiền đáng
kể cho công trình xây dựng này. Agvan Đôrgiev, người đại
diện của Phật giáo Tây Tạng, một Lạt Ma nổi tiếng của
Phật giáo Buratia, đã chỉ đạo xây dựng và hoạt động
của tự viện này. Ông là sư trụ trì đầu tiên ở đây.
3.
Phật giáo ở nước Nga giai đoạn sau Cách mạng Tháng Mười
năm 1917
Cách
mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một giai đoạn phát
triển mới không chỉ đối với nước Nga, mà còn đối với
sự phát triển của cả nhân loại. Đối với Phật giáo ở
nước Nga, đây cũng là một giai đoạn mới trong lịch sử
phát triển thăng trầm của mình. Vào giai đoạn cuối của
cuộc nội chiến, những người lãnh đạo Giáo hội Phật
giáo ở nước Nga, đứng đầu là Khambô - Lạt Ma Agvan Đôrgiev,
đã công nhận Chính quyền Xô Viết. Họ cố gắng nhấn mạnh
sự tương đồng giữa các lí tưởng của chủ nghĩa Cộng
sản với các lí tưởng của Phật giáo và kêu gọi tăng ni,
phật tử quay trở lại với những lí tưởng cổ xưa của
Phật giáo: sự trong sạch của đạo đức và lối sống không
vụ lợi.
Trong
các tự viện Phật giáo Nga bắt đầu cuộc đấu tranh quyết
liệt giữa "những người đổi mới" muốn tổ chức lại
tăng đoàn để có thể sống được dưới chính quyền Xô
Viết với "những người bảo thủ" cố bám lấy sự giàu
sang và những đặc quyền đặc lợi trước đây.
Đại
hội toàn Liên bang các Phật tử Liên xô lần thứ nhất đã
diễn ra trong các ngày từ 20 đến 29 tháng 1 năm 1927. Đại
hội đã ghi nhận thắng lợi của những người đổi mới
trong hầu hết các vấn đề được đặt ra tại đại hội.
Những người bảo thủ chỉ giành được thắng lợi duy nhất
là bác bỏ dự định thành lập Giáo hội Phật giáo toàn
Liên bang do sự chia rẽ trong tăng đoàn Phật giáo Nga lúc bấy
giờ và thay vào đó là "Cơ quan đại diện" lâm thời của
tăng đoàn Phật giáo Nga. Trong thành phần của "Cơ quan đại
diện" này có hai thành viên là Aragva Nasankiev và Đagđan Đambaev.
Trụ sở của "Cơ quan đại diện" đặt tại tự viện Gunzetroinei,
thành phố Sankt Peterburg.
Kết
quả Đại hội toàn Liên bang các Phật tử Liên xô lần thứ
nhất đã được sự tán đồng của Đại hội các phật tử
Buratia lần thứ ba diễn ra từ ngày 21 đến 24 tháng 8 năm
1928 tại Verkhneuđinsk. Mặc dù Đại hội toàn Liên bang các
Phật tử Liên xô lần thứ nhất đã ra nghị quyết ủng hộ
chính quyền Xô Viết nhưng số phận của Phật giáo Nga đã
được định đoạt. Vào thời gian đó, cả nước Nga bắt
đầu cuộc đấu tranh văn hoá - tư tưởng mà trước hết
là nhằm vào tôn giáo. Do vậy, vấn đề đặt ra lúc này không
phải là phát triển Phật giáo, mà là cứu vãn sự tồn tại
của nó.
Cũng
trong giai đoạn này, cùng với công cuộc tập thể hoá ở
nông thôn nước Nga nhiều tự viện, chùa chiền của Phật
giáo đã bị phá dỡ hoặc bị chuyển đổi sang mục đích
sử dụng khác. Tính đến năm 1935, có tới 1/3 số tự viện
Phật giáo ở nước Nga đã bị bỏ trống do không có Lạt
Ma và tăng ni, phật tử. Những người này, hoặc đã bị chính
quyền trấn áp, hoặc đã chạy trốn sang các vùng khác. Năm
1936, với lí do có khoảng từ 22 đến 29 tự viện Phật giáo
còn hoạt động đang nằm trên vùng biên giới, chính quyền
đã ra lệnh đóng cửa tất cả số tự viện này, còn các
Lạt Ma thì bị trục xuất đi nơi khác vì bị coi là "kẻ
thù của nhân dân" và " gián điệp của Nhật Bản". Tình hình
tương tự cũng diễn ra ở Kalmưkia và Tuva, mặc dù về hình
thức Tuva lúc đó là một khu vực có chính quyền độc lập.
Chùa chiền, tự viện ở Tuva và Kalmưkia đều bị đốt trụi.
Ở Kalmưkia chỉ còn lại duy nhất một toà nhà được xây
bằng đá thuộc tự viện Khosheutovski của các hầu tước
Tiumen, còn ở Tuva chỉ sót lại một bức tường dày một
mét của tự viện Trađanski.
Sau
Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, chính quyền Liên Xô đã có
chính sách mềm mỏng hơn đối với tôn giáo, trong đó có
Phật giáo. Trong cuộc chiến tranh này, phật tử Buratia đã
tỏ rõ lập trường yêu nước của mình, đóng góp vào quỹ
quốc phòng 353.100 rúp. Chính quyền đã cho phép các phật tử
khôi phục lại tự viện của mình.
Một
năm sau chiến tranh, theo sáng kiến của một nhóm các Lạt
Ma và các tín đồ Phật giáo, đứng đầu là A. Galsanov, Lạt
Ma trụ trì tự viện Aginski, cựu uỷ viên Hội đồng Trung
ương Giáo hội Phật giáo miền Đông Sibiri, từ ngày 21 đến
23 tháng 5 năm 1946, tại thành phố Ulan Uđe, đã diễn ra Hội
nghị các nhà hoạt động Phật giáo của nước Cộng hoà
tự trị Buriát - Môngôlia (tên gọi của nước Cộng hoà tự
trị Buratia thuộc Liên Xô giai đoạn 1923-1958). Hội nghị đã
thông qua Điều lệ của Giáo hội Phật giáo và Quy chế về
giới tu hành Phật giáo Liên Xô, trong đó quy định các Lạt
Ma "Tôn trọng tổ quốc của những người lao động ngang với
sự tôn trọng tín ngưỡng Phật giáo thiêng liêng của mình,
ra sức góp phần củng cố và làm cho tổ quốc phồn vinh".
Cơ
quan tối cao của Giáo hội Phật giáo Liên Xô là Hội đồng
Trung ương Giáo hội Phật giáo Liên Xô (Hội đồng TWGHPG Liên
Xô). Người đứng đầu cơ quan này là một vị chủ tịch
với giáo phẩm Panđiđô Khambô - Lạt Ma. Trụ sở của Hội
đồng TWGHPG Liên Xô là một ngôi chùa mới được xây dựng
ở vùng đầm lầy, cách thành phố Ulan Uđe 30 km, chùa Khambin
Sume, nay là tự viện Ivôlginski. Panđiđô Khambô - Lạt Ma đầu
tiên được bầu là Lôbsan - Nima Đarmaev. Ngay sau đó tự viện
Phật giáo thứ hai được phép mở tại tỉnh Trichinski, tự
viện Aginski. Mặc dù bị sự kiểm soát chặt chẽ của nhà
nước, trong nhiều năm, hai tự viện này vẫn duy trì sinh hoạt
tôn giáo bình thường theo đúng nghi lễ của Phật giáo cổ
truyền cho tới khi bắt đầu "công cuộc cải tổ" của Gorbatrev.
Tại hai trung tâm Phật giáo này chỉ có khoảng 20 nhà tu hành
được phép hoạt động. Còn ở các vùng Phật giáo khác,
hàng trăm Lạt Ma trước đây bị tập trung đi các trại cải
tạo, nay được trở về và tiếp tục tham gia các sinh hoạt
Phật giáo, tuy hoạt động của họ không công khai. Thông thường,
những Lạt Ma này thực hiện các lễ nghi Phật giáo cho những
người cùng làng và đôi khi cho cả những người từ nơi
khác đến. Ngoài ra, họ còn hành nghề y học cổ truyền Tây
Tạng. Một số Lạt Ma đã tự động tuyển chọn các tăng
ni sinh vượt ra khỏi phạm vi các vùng có truyền thống Phật
giáo. Tiêu biểu là nhóm tăng ni sinh của Lạt Ma Biđia Đanđarôvich
Đanđarôn ở Buratia. Tham gia nhóm này không chỉ có các tín
đồ Phật giáo ở Buratia, mà còn cả các tín đồ đến từ
phần lãnh thổ Châu Âu của Nga, Ucraina, Pribaltika. Năm 1972,
Lạt Ma Đanđarôn bị bắt vì tội tổ chức "giáo phái Phật
giáo", hai năm sau Lạt Ma này đã chết trong trại cải tạo.
Tại
Buratia, các Lạt Ma vẫn tiếp tục bí mật tổ chức các hoạt
động phật sự ở tất cả các khu vực của nước cộng
hoà tự trị này. Tính đến cuối những năm 70 thế kỉ XX,
ở Kalmưkia và Tuva số Lạt Ma còn lại có thể đếm trên
đầu ngón tay. Cuối cùng, do các Lạt Ma ở Tuva đã tích cực
hoạt động trở lại nên Lạt Ma Genđen Xeren đã rời Tuva
đến tự viện Ivolginski và ông đã mất tại đây năm 1985.
Vào
giữa những năm 50 thế kỉ XX, Phật giáo hợp pháp(2) ở Liên
Xô bắt đầu được sử dụng tích cực cho chính sách "tự
do tín ngưỡng" và chính sách đối ngoại của nước này ở
Châu Á. Năm 1956, Hội đồng TWGHPG Liên Xô đã gia nhập Hội
Phật giáo Thế giới. Năm 1969, "Hội nghị Phật giáo Châu
Á" được triệu tập, trong đó đóng vai trò chủ đạo là
Phật giáo các nước có quan hệ hữu nghị với Liên Xô lúc
đó.
Trong
thời kì này, nhiều đoàn đại biểu Phật giáo nước ngoài
bắt đầu tới thăm Liên Xô. Các giảng sư Phật giáo nổi
tiếng của các nước đã tới nước Nga thăm và giảng dạy
tại hai tự viện lớn đang hoạt động ở Zabaikalie. Điều
này đã làm cho các phật tử Nga có thể cảm nhận được
một cách trực tiếp sự phát triển của Phật giáo ở nước
mình.
Toàn
bộ hoạt động của Phật giáo cổ truyền ở nước Nga nói
riêng và Liên Xô nói chung thời kì này chủ yếu dựa vào
các trung tâm Phật giáo ở Cộng hoà tự trị Buratia và dựa
vào những chức sắc Phật giáo được đào tạo trong hệ
thống các tự viện cũ đã bị phá huỷ từ những năm 30
thế kỉ XX và hiện nay không có người thay thế. Để khắc
phục tình trạng thiếu hụt chức sắc Phật giáo, vào năm
1970, trường Đại học Phật giáo được thành lập để đào
tạo các nhà tu hành đáp ứng cho nhu cầu của Buratia và Mông
Cổ.
Trường
đại học này được xây dựng tại thành phố Ulan Bator (thủ
đô Mông Cổ). Một chương trình giảng dạy và học tập 5
năm đã bắt đầu được soạn thảo. Ngoài các môn học về
Phật giáo cổ truyền, tiếng Tây Tạng và tiếng Anh còn có
bộ môn Cơ sở chủ nghĩa Mác. Tiếng Mông Cổ được dùng
làm ngôn ngữ giảng dạy và người Buriat có thể hiểu được
ngôn ngữ này. Chỉ những người đã tốt nghiệp phổ thông
trung học, có phẩm chất chính trị "đáng tin cậy" mới có
thể đến Ulan Bator theo học trường này. Tuy nhiên, chương
trình học tập này còn xa mới đạt tới chương trình chuẩn
20 năm được áp dụng trước đây. Hơn thế nữa, khi nhập
trường, tăng ni sinh mới bắt đầu học tiếng Tây Tạng -
ngôn ngữ bắt buộc đối với mọi tăng ni sinh. Mặc dù vậy,
trường cũng đã đào tạo được một số lượng đáng kể
các Lạt Ma nắm được các kiến thức cơ bản về Phật giáo
và biết thực hiện các nghi lễ tôn giáo cần thiết thường
ngày.
Năm
1993, giáo phẩm Khambô - Lạt Ma do Troi Đorgie Buđaev đảm nhận,
còn từ năm 1995 đến nay giáo phẩm này thuộc về Đamba Aiusheev.
4.
Tình
hình Phật giáo nước Nga giai đoạn hiện nay
Ngay
sau khi Liên Xô tiến hành công cuộc cải tổ, quá trình phục
hưng Phật giáo diễn ra rất nhanh chóng. Năm 1988, các tự viện
Phật giáo đầu tiên ở Tuva và Kalmưkia đã đăng kí hoạt
động. Sau đó, việc đăng kí hoạt động của Hội Phật
giáo Lêningrađ đã bị hoãn lại một năm. Năm 1989, Kushok Bakula
Rinpotre đã làm lễ tại nhà riêng cho tự viện Phật giáo
đầu tiên của Elista, thủ đô Cộng hoà tự trị Kalmưkia.
Ông cũng làm lễ cho tự viện Phật giáo Sankt Peterburg, khi
nó được trả lại cho phật tử thành phố này năm 1990. Hiện
nay, trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga có hơn 200 tổ chức Phật
giáo đang hoạt động. Trong đó, ngoài Phật giáo cổ truyền
Tây Tạng, đã bắt đầu có những tông phái Phật giáo khác
truyền bá vào nước Nga, trong đó có những nhóm tín đồ
theo Phật giáo Theravada (Phật giáo Nam tông) và không ít các
tổ chức Phật giáo Trung Quốc, Phật giáo Việt Nam và Phật
giáo Thiền tông Nhật Bản. Trong số này có cả các nhóm đã
đăng kí hoạt động cũng như các nhóm không đăng kí hoạt
động.
Phật
giáo cổ truyền Tây Tạng hoạt động ở nước Nga hiện nay
cũng không phải chỉ có một Tông phái Gelugpa (Tông phái Mũ
vàng Mông Cổ) như trong giai đoạn trước Chiến tranh Vệ quốc
vĩ đại. Đặc biệt, trong giai đoạn "hậu cải tổ", ở nước
Nga đã xuất hiện hầu hết các tông phái còn lại của Phật
giáo Tây Tạng như: Ningma và Kagiu. Cả hai khuynh hướng Phật
giáo hiện đại theo đường hướng của Karm Kagiu và Shangp
Kagiu đã xuất hiện ở Nga sau cuộc viếng thăm nước này
năm 1995 của người đứng đầu tông phái là Lạt Ma Tretsang
Rinpotre. Những người lập ra các tông phái này ở Nga là một
môn sinh người Pháp của Kalu Rinpotre Lạt Ma Đêni và Đrigun
Kagiu. Tông phái Sakia cũng đã xuất hiện ở Moskva, Elista và
Sankt Peterburg sau cuộc thăm viếng nước Nga năm 1996 của người
đứng đầu tông phái này Lạt Ma Sakia Trizin. Ngoài ra, còn
xuất hiện nhiều nhóm Phật giáo theo các khuynh hướng khác
ngoài Phật giáo cổ truyền Tây Tạng.
Trong
những năm gần đây, khuynh hướng bí truyền Tây Tạng "Sự
hoàn thiện vĩ đại" (theo tiếng Tây Tạng là Đzogtren) được
truyền bá rộng rãi, nhất là trong giới trí thức quan tâm
tới Phật giáo. Hiện tại, nhóm người theo khuynh hướng này
có số lượng đông nhất trong số các tổ chức Phật giáo
mới ở nước Nga.
Trong
giai đoạn này, một số tự viện Phật giáo ở Nga có xu hướng
hợp nhất thành những tổ chức lớn có tính chất tập trung.
Thí dụ, năm 1991, thành lập Hội Liên hiệp Phật tử Kalmưkia
dưới sự lãnh đạo của một người Kalmưk trẻ tuổi gốc
Mỹ là Telo Rinpotre, được đào tạo về Phật giáo Tây Tạng
tại tự viện Goman ở ấn Độ. Hơn 20 tự viện Phật giáo
Tạng truyền thuộc Tông phái Kagiu do nhà sư Đan Mạch thành
lập đã hợp nhất thành Hội Phật tử tông phái Karm. Tại
Tuva, năm 1997, đã hình thành một tự viện Phật giáo độc
lập với tên gọi "Giáo hội Kambu - Lạt Ma Tuva".
Mặc
dù hiện nay có rất nhiều tông phái Phật giáo đang cùng hoạt
động ở Nga, song mối quan hệ giữa Giáo hội Phật giáo cổ
truyền Nga với các tông phái Phật giáo hiện đại hầu như
không có. Theo người đứng đầu Giáo hội Phật giáo cổ
truyền Nga Panđiđô Khambô - Lạt Ma Đamba Aiusheev, nguyên nhân
của việc Giáo hội Phật giáo cổ truyền Nga không có quan
hệ với các tông phái Phật giáo mới là do các tông phái
này đều không sẵn sàng đối thoại một cách chân thành.
Nhiều tông phái mới còn chưa thấu hiểu nội dung cốt yếu
của giáo phái. Các nhà truyền giáo nước ngoài đến Nga,
sau một vài tháng họ về nước và để lại một số môn
đồ. Những người này trên thực tế chưa quen với các hoạt
động của Phật giáo và cũng không thực sự nghiêm túc trong
việc truyền bá Phật giáo vào Nga(3).
Còn
trong quan hệ của Giáo hội Phật giáo cổ truyền Nga với
các tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống khác ở Nga như Chính
Thống giáo, Islam giáo, v.v… mọi việc diễn ra tương
đối bình thường. Tín đồ các tôn giáo cùng chung sống,
làm việc, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trong cộng đồng
các dân tộc trên lãnh thổ Cộng hoà Liên bang Nga. Nhưng theo
đánh giá của người đứng đầu Giáo hội Phật giáo cổ
truyền Nga, quan hệ giữa các tín đồ bình thường của các
tôn giáo tốt hơn quan hệ giữa những người đứng đầu
các tôn giáo. Tuy nhiên, thái độ thù địch đối với Phật
giáo từ phía tín đồ của các tôn giáo khác hoàn toàn bị
loại trừ, bởi vì không thể có chuyện hai người xung đột
với nhau, một người hoàn toàn đúng, còn người kia hoàn
toàn sai. Khi hai bên xung đột hiểu được cái sai của mình
thì xung đột sẽ bị loại trừ(4).
Ở
cả ba nước cộng hoà tự trị có truyền thống Phật giáo
là Buratia, Kalmưkia và Tuva, sự phục hưng Phật giáo gắn liền
với văn hoá dân tộc, một nền văn hoá không bị Nga hoá
và điều này được sự ủng hộ của chính quyền nhà nước
ở địa phương. Ở Kalmưkia, Phật giáo (cùng với Chính Thống
giáo) được công nhận là quốc đạo. Tuy nhiên, điều này
lại trái với Hiến pháp của Liên bang Nga. Mặc dù các dân
tộc ở các khu vực nói trên của Liên bang Nga rất nhiệt
thành với Phật giáo, nhưng để phục hưng Phật giáo ở đây
không phải là công việc một sớm một chiều. Một trong những
nguyên nhân là sự thiếu hụt tăng ni, những người có thể
hướng dẫn quần chúng tín đồ trong các sinh hoạt tôn giáo
của mình. Trong giai đoạn trước đó, ở ba khu vực Phật
giáo này đã "mất đi" gần 20.000 nhà sư và không dễ gì bù
đắp sự thiếu hụt này trong một thời gian ngắn. Hơn thế
nữa, kinh phí dành cho việc đào tạo tăng ni sinh cũng quá
ít ỏi. Bước đi quan trọng hiện nay để khắc phục hiện
trạng này là việc gửi tăng ni sinh người Buratia, người
Kalmưk và người Tuva đi đào tạo nhiều năm trong các trường
Phật giáo Tạng truyền ở ấn Độ. Đến nay, đã có vài
chục người, chủ yếu là lớp trẻ, được gửi đi học
ở nước ngoài. Kinh sách Phật giáo và tài liệu học tập
cũng rất thiếu thốn, đặc biệt là kinh sách và tài liệu
bằng tiếng các dân tộc. Ngoài ra, với mục đích lợi dụng
các tư tưởng Phật giáo để xuất bản các ấn phẩm mang
tính thương mại, một số giáo phái, cùng những kẻ làm ăn
gian lận đủ loại thậm chí cả các băng nhóm tội phạm,
đã in ra những loại sách mang tính "bí truyền" và thần bí,
làm cho những người thế tục có quan niệm không đúng về
tôn giáo thế giới này.
Học
viện Phật học được xây dựng ở Buratia không thể phát
triển một cách bình thường do thiếu kinh phí, thiếu giảng
sư có trình độ chuyên môn cao và thiếu cả phiên dịch giỏi
tiếng Tây Tạng, bởi vì giảng dạy Phật học ở đó chủ
yếu là người nước ngoài, mà phần lớn là các giảng sư
Phật giáo Tạng truyền tới từ ấn Độ. Phân viện của
Học viện Phật học Karmapa tại thành phố Elista cũng gặp
phải những vấn đề tương tự. Hiện nay, các giảng sư Tây
Tạng đang thuyết giảng tại tất cả các khu vực có Phật
giáo cổ truyền ở nước Nga, trong đó có cả thành phố Moskva
và Sankt Peterburg.
Nhiều
tổ chức tôn giáo khác ở Nga cũng gặp phải vấn đề thiếu
hụt chức sắc tôn giáo. Riêng đối với Phật giáo, theo Panđiđô
Khambô - Lạt Ma Đamba Aiusheev, vấn đề này đang dần được
cải thiện. Nếu như trước đây, các giảng sư chủ yếu
được mời từ ấn Độ và Mông Cổ, thì ngày nay, Phật giáo
Nga đã có được đội ngũ giảng sư riêng của mình. Đã
có những nhà sư trẻ biết nhiều ngoại ngữ, có kiến thức
chuyên sâu về triết học Phật giáo, hiểu biết y học cổ
truyền Tây Tạng, nắm được cơ sở của chiêm tinh học và
yoga, v.v… Đamba Aiusheev cũng phủ nhận ý kiến cho rằng, những
nhà Phật học được đào tạo từ các trung tâm Phật học
của nước ngoài không đáng tin cậy về mặt chính trị đối
với nước Nga. Người đứng đầu Giáo hội Phật giáo cổ
truyền Nga cho rằng, con người càng đắm mình vào học thuyết
của Đức Phật bao nhiêu, thì càng xa rời chính trị bấy
nhiêu. Khi đã định tâm, tham thiền người ta sẽ thoát khỏi
mọi ham muốn vật chất trần tục(5).
Năm
1991, lần đầu tiên Đạt Lai Lạt Ma XIV đã có chuyến viếng
thăm chính thức các vùng Phật giáo cổ truyền của nước
Nga. Ở tất cả những nơi tới thăm, Đạt Lai Lạt Ma XIV đã
có các buổi thuyết giáo về đạo Phật và dâng lễ Phật.
Tất cả được tổ chức chu đáo, không một ai ngăn cản
tín đồ biểu lộ tình cảm của mình với người đứng đầu
tông phái Phật giáo mà họ đang theo. Tại Kalmưkia, trên đường
Đạt Lai Lạt Ma đi qua, người ta đã trải hoa hồng tươi.
Còn tại Tuva, trên suốt chặng đường từ sân bay về khách
sạn, hàng đoàn phật tử quỳ trước xe đưa rước Ngài.
Khoảng gần 30.000 người từ khắp mọi vùng ở các nước
cộng hoà có Phật giáo của Liên bang Nga đã tới dự các
buổi thuyết giáo của Đạt Lai Lạt Ma. Song, trong những năm
gần đây, do tình hình chính trị thay đổi, chính quyền nước
Nga đã hai lần từ chối cấp thị thực vào Nga cho Đạt Lai
Lạt Ma, xuất phát từ việc bình ổn và tăng cường mối
quan hệ Nga - Trung. Nhận xét về điều này, Panđiđô Khambô
- Lạt Ma Đamba Aiusheev cho rằng, gắn tôn giáo với chính trị
là một việc làm không đúng. Các nhà chính trị cần phải
hoạt động chính trị, còn các lãnh tụ tôn giáo thì hoạt
động tôn giáo. Nếu các nhà hoạt động tôn giáo mà chuyển
sang lĩnh vực hoạt động chính trị thì chỉ đem lại tổn
thất cho tôn giáo. Theo Đamba Aiusheev, người dân và tín đồ
Phật giáo nước Nga sẽ rất biết ơn chính quyền nếu chính
quyền cho phép lãnh tụ Phật giáo của họ tới thăm nước
Nga(6).
Từ
những điều trình bày trên, dù rất sơ lược, cũng có thể
thấy rằng, mặc dù đã trải qua một chặng đường lịch
sử thăng trầm trên dưới 400 năm và còn gặp nhiều vấn
đề đang cần tiếp tục giải quyết, Phật giáo ở nước
Nga hiện nay đang phát triển theo xu hướng tích cực vì lợi
ích của tín đồ Phật giáo nói riêng, vì lợi ích của nước
Nga và hạnh phúc của tất cả chúng sinh nói chung./.
Nguyễn
Văn Dũng (*)
Nguồn:
Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo Số 2(26)/2004
*.
TS., Viện Nghiên cứu Tôn giáo. Bài viết đã sử dụng tư
liệu của Anddrei Anatôlevich Terentiev, Tổng biên tập tạp chí
"Phật giáo ở Nga", phiên dịch riêng của Đạt Lai Lạt Ma;
Evgeni Alekseevich Tortrinôv, giáo sư, Trưởng bộ môn Triết học
và Văn hoá học Phương Đông thuộc Khoa Triết học, Trường
Đại học Tổng hợp Quốc gia Sankt Peterburg; Nicôlai Kônstantinôv,
phóng viên báo “Độc lập - Tôn giáo” và nhiều công trình
nghiên cứu khác của các nhà khoa học Liên bang Nga.
1.
Về tự viện Gunzetroinei xin tham khảo thêm bài: Về một tự
viện Phật giáo ở Sankt Peterburg. Tạp chí Nghiên cứu Tôn
giáo, số 3 / 2003, tr. 70.
2.
Đây là Giáo hội Phật giáo được Nhà nước công nhận.
Ngoài ra, ở nước Nga còn tồn tại các nhóm Phật giáo hoạt
động không công khai, không đăng kí hoạt động với chính
quyền.
3.
Xem: Nikôlai Kônstantinôv. Phật giáo cũ và mới. (Bài trả lời
phỏng vấn Báo Độc lập – Tôn giáo của Panđiđô Khambô
- Lạt Ma Đamba Aiusheev ngày 5 tháng 2 năm 2003 – tiếng Nga).
4.
Nikôlai Kônstantinôv. Phật giáo cũ và mới. Báo đã dẫn.
5.
Xem Nikôlai Kônstantinôv. Phật giáo cũ và mới. Báo đã dẫn.
6.
Xem Nikôlai Kônstantinôv. Phật giáo cũ và mới. Báo đã dẫn.