Phật
giáo được xem là một trong những tôn giáo lớn trên thế
giới. Nhưng thế nào là một tôn giáo? Các tôn giáo và những
trào lưu tư tưởng khác nhau trên thế giới vẫn chưa thành
công trong việc đưa ra một định nghĩa chung cho danh từ “tôn
giáo”. Trở thành một người Công giáo qua nghi lễ (lễ rửa
tội), trở thành một người Do thái khi được sinh ra đời,
trở thành một người Nhân bản tự do (vrijzinnig humanist) (cũng
là một thứ tôn giáo đối với một số người) là khi ta
chấp nhận một nhân sinh quan nào đó.
Phật
giáo
Phật
giáo được xem là một trong những tôn giáo lớn trên thế
giới. Nhưng thế nào là một tôn giáo? Các tôn giáo và những
trào lưu tư tưởng khác nhau trên thế giới vẫn chưa thành
công trong việc đưa ra một định nghĩa chung cho danh từ “tôn
giáo”. Trở thành một người Công giáo qua nghi lễ (lễ rửa
tội), trở thành một người Do thái khi được sinh ra đời,
trở thành một người Nhân bản tự do (vrijzinnig humanist) (cũng
là một thứ tôn giáo đối với một số người) là khi ta
chấp nhận một nhân sinh quan nào đó.
Nhưng
làm thế nào để trở thành một Phật tử? Stephen Batchelor
[1] nhận xét rằng từ “Phật tử” không có mặt trong các
ngôn ngữ Á đông. Vấn đề là chúng ta [người Tây phương]
khi xem xét các tôn giáo khác đã tùy tiện quy chiếu theo khuôn
mẫu của Thiên chúa giáo, nói rõ hơn là của giáo hội Công
giáo. “Phật giáo” với tính chất “ý niệm” là một
sáng tạo của các triết gia Tây phương khi họ khám phá ra
những mối quan hệ trong nội dung và lịch sử giữa những
truyền thống và kinh điển “Phật giáo” dị biệt. Nếu
một lạt-ma Tây tạng nói về Phật giáo, điều ông nói có
thể khác với điều mà một tu sĩ Tiểu thừa nói. Trước
đây không lâu, các vị tu sĩ này chưa từng biết đến sự
có mặt của nhau. Chỉ ở Tây phương các tông phái Phật giáo
khác biệt mới gặp được nhau. Ðiều đó không có nghĩa
là các truyền thống Phật giáo khác nhau không có những điểm
tương đồng rộng lớn và căn bản. Trong bài viết này, khi
từ “Phật giáo” được dùng, xin hiểu cho là từ đó không
biểu đạt một truyền thống đặc thù nào mà bao gồm tất
cả những yếu tố cơ bản được tìm thấy trong các truyền
thống dị biệt, kể cả trong truyền thống Phật giáo Tây
phương, một truyền thống đang được hình thành.
Chúng
tôi biết phải tin ai?
Trong
một đoạn kinh Phật giáo xưa cũ [2] , dân làng Kalamas đã
chất vấn Phật như thế này: “Các vị tu sĩ thường xuyên
đi ngang qua làng chúng tôi. Từng người một, ai cũng nói chỉ
có mình mới tuyên giảng sự thực, còn những người khác
đều láo khoét. Vậy chúng tôi biết phải tin ai đây?” Câu
hỏi này nghe thật hiện đại. Dường như 2500 năm qua, không
có mấy điều thay đổi.
Phật
trả lời: “Ta hiểu sự hoang mang của quý vị. Vì thế cho
nên, quý vị hãy đừng dựa vào truyền thống, vào kinh điển,
vào quyền lực cũng như vào triết học.”
Ngay
tức khắc, một số điều mà xưa nay chúng ta vẫn cho là gắn
liền với tôn giáo được câu trả lời này gạt sang một
bên: truyền thống, giáo quyền, triết lý, kinh điển… Phật
không cho rằng những điều này là sai lạc, nhưng chúng không
phải là những cơ sở vững chãi để có thể đánh giá đúng
đắn một giáo lý. Vậy thì phải dựa trên cơ sở nào đây?
Phật
dạy tiếp: “Khi nào quý vị thấy sự thực tập (beoefenen)
một giáo lý mang lại khổ đau (lijden) thì hãy buông bỏ giáo
lý đó. Trái lại, nếu quý vị thấy sự thực tập một giáo
lý mang tới hạnh phúc thì hãy hành trì giáo lý đó.”
Ðiểm
nổi bật đầu tiên trong câu trả lời này là Phật nói tới
khả năng tự thân của mỗi người trong việc tìm kiếm và
đánh giá [một giáo lý]. Vì thế cho nên đoạn kinh này có
khi được xem như là bản tuyên ngôn Phật giáo trong sự tự
mình tìm cầu chân lý. Ðiểm thứ hai là giáo lý của Ngài
không phải là một thứ lý thuyết, một nhân sinh quan hay một
tín ngưỡng mà là một sự thực tập (praktijk) cần được
hành trì. Ðiểm thứ ba là chỉ kết quả của sự hành trì
này (khổ đau hay an lạc) mới đánh giá được giáo lý đó.
Phật
giáo vì thế không phải là một niềm tin, một triết lý,
một danh hiệu. Phật giáo là một sự thực tập để đối
trị khổ đau. Phật nói “ta chỉ dạy về khổ đau và vượt
thoát khổ đau” [3] . Ðiều này đã được Phật phát biểu
trong công thức của bốn sự thực thâm diệu [tứ diệu đế].
Chân đế đầu tiên là sự thực về [sự có mặt của] khổ
đau. Ðây là một xác nhận thuần túy, giản đơn, không phải
là một tín điều. Không ở đâu trong kinh điển nói rằng
tất cả là khổ đau. Cuộc đời còn có rất nhiều điều
lý thú, nhưng đời sống của chúng ta và của những người
khác chứa đựng khổ đau. Mặc cho chúng ta chấp nhận hay
phủ nhận, Phật giáo không làm một cố gắng vô ích nào
để che đậy hoặc xoay chuyển sự thực này. Không đưa ra
một ảo tưởng sai lầm, cũng không bịa đặt thêm ý nghĩa.
Chỉ như thế này: chúng ta được sinh ra, lớn lên, già đi,
mắc những tật bệnh và tử vong. Chúng ta thất vọng bởi
vì chúng ta nhận được những điều chúng ta không muốn và
không nhận được những điều chúng ta ước ao.
Tham
ái (begeerte), sân hận (afkeer) và si mê (verwarring)
Câu
trả lời của Phật cho câu hỏi của dân làng Kalamas đương
nhiên dẫn đến những câu hỏi mới. Ðiều gì gây ra khổ
đau? Sự thực tập nào mang lại an lạc? Phật dạy tiếp:
“Nếu ai đó hành xử vì tham ái, sân hận và si mê, thì kết
quả sẽ là khổ đau hay an lạc?” Người dân làng Kalamas
đều thấy rõ ràng tham ái, sân hận và si mê gây ra khổ đau.
Tham
ái, sân hận và si mê là một bộ ba cổ điển (klasieke triade)
trong Phật giáo. Một thí dụ cụ thể có thể sẽ làm rõ
hơn. Hãy tưởng tượng có kẻ tìm cách đến với bạn vì
tham ái, sân hận và si mê. Có nghĩa người đó sẽ đặt một
số câu hỏi, đại loại: người này có ích gì cho ta, có
hợp với ta không, có giúp gì được cho ta, có cho ta được
tiền tài, danh vọng hay không, ta có thể ngủ với người
đó được không, mặt người đó không hợp nhãn ta, người
đó muốn gì nơi ta? Bạn thấy rõ là một quan hệ như thế
thật là không thú vị chút nào cả. Tùy theo mức độ tham
ái, sân hận và si mê biểu lộ qua hành động cụ thể, bạn
có thể bị người đó lợi dụng. Nhưng cho chính người đó,
quan hệ này cũng là một nguồn khổ đau. Anh ta/chị ta sống
thường trực trong một khung cảnh chiến tranh, mà mỗi lần
gặp gỡ với bạn trở thành một cuộc giao chiến, trong đó
có khi người đó thắng trận, nhưng cũng có thể thất bại
ê chề và bị lợi dụng ngược lại. Ngoại trừ những giây
phút ngắn ngủi, thỉnh thoảng được thỏa mãn nhu cầu, phần
còn lại là sự bất ổn và ê chề.
Chân
đế thứ hai là sự thực về nguyên nhân của khổ đau. Nguyên
nhân này còn được gọi là sự khao khát (dorst). Sự khao khát
ở đây chính là một danh từ khác để chỉ bộ ba tham ái,
sân hận và si mê mới được nói đến ở phần trên. Một
từ ngữ hiện đại hơn có thể được dùng thay cho sự khao
khát: những đòi hỏi của chúng ta. Ở đây không nói tới
những nhu cầu khách quan mà cách thức chúng ta xử sự với
nhu cầu. Cần nhận thức rằng hạnh phúc không phải là sự
thỏa mãn nhu cầu. Trái lại, hành động gấp rút để thỏa
mãn nhu cầu chính là nguyên nhân mang lại khổ đau cho chúng
ta và những người khác. Kể cả ý tưởng có thể có hạnh
phúc, được trả giá bằng sự khổ đau của người khác
cũng là một ảo tưởng cần được gạt bỏ.
Giải
thoát
Cái
gì là nguồn an lạc? Phật dạy tiếp: “Người nào mà cách
hành xử không dựa trên tham ái, sân hận và si mê, người
đó sẽ biểu lộ một cách hồn nhiên lòng từ (liefde), lòng
bi (mededogen), sự hoan hỉ (blijheid) và sự xả bỏ (onbevangenheid)”.
Bốn đặc tính này biểu hiện cho giải thoát được dịch
từ một công thức rất quen thuộc bằng tiếng Pali [4] cần
được chú thích cặn kẽ hơn:
Phạn
ngữ metta, vẫn được dịch là “từ”, có ý nghĩa đích
thực là một ước muốn, thứ ước muốn [cho người khác]
được điều tốt đẹp. Một ví dụ vẫn hay được dùng
để diễn tả lòng từ là hình ảnh một người mẹ ôm một
đứa con trong lòng. Người mẹ muốn đứa con được những
điều tốt đẹp.
Bi
– karuna – có nghĩa là cảm thông với sự khổ đau của
người khác. (Trong tiếng Hòa Lan, karuna được dịch bằng
từ mededogen, một từ hơi cổ so với từ medelijden; từ này
về mặt lập ngữ thì chính xác hơn nhưng về mặt ngữ nghĩa
thì gần với thương hại. Ðiều lạ lùng là tiếng Hòa Lan
không có chữ tương đương để dịch từ compassion trong Anh
ngữ mà chỉ biết có từ pity [trong Anh ngữ]).
Hỉ
– mudita - chỉ thái độ cùng vui. Ðó là khả năng biết trân
quý điều đang xảy ra.
Xả
– upekkha – có nghĩa là sự chú tâm không phân biệt, một
cách nhìn không né tránh cái tệ hại cũng không tuyệt vọng
đòi tìm cái không tệ hại.
Xin
đơn cử tiếp một thí dụ để làm sáng tỏ:
Những
người mắc phải một thứ bệnh hiểm nghèo như ung thư thường
khám phá ra mình bỗng dưng mất đi một số người bạn. Những
người [bạn] đâm ra sợ hãi, không biết phải ứng xử thế
nào trong hoàn cảnh mới. Ðối với một số người, những
người mắc bệnh bỗng dưng không còn đáng chú ý nữa. Ngược
lại, người bệnh thường nhận được những tình bạn mới,
nảy sinh từ chỗ bất ngờ. Ðó là những người mà bệnh
nhân có thể nương tựa, nhận được sự giúp đỡ vô vụ
lợi. Hãy tưởng tượng người bệnh đó đến với bạn.
Tùy theo mức độ thoát khỏi sự ràng buộc của tham ái, sân
hận và si mê mà bạn có thể: hy vọng rằng người bệnh
được điều tốt đẹp (metta), cảm thông những giây phút
lo sợ (karuna), vui với sự có mặt của người bệnh (mudita)
và biết lắng nghe người bệnh nói (upekkha), dù là niềm hy
vọng hay điều tuyệt vọng, trong lúc đau đớn cũng như trong
khi hồi phục. Trong một số truyền thống Phật giáo, điều
này được gọi là Phật tính. Ðiều này thực sự cũng chính
là nhân tính cơ bản của chúng ta [5] .
Chân
đế thứ ba là sự thực về sự chấm dứt khổ đau. Tâm
lý học truyền thống Tây phương cũng biết đến sự thèm
khát, và bộ tam độc là tham ái, sân hận và si mê. Ngành
phân tâm học có nói tới dục vọng (lust), thất vọng (onlust)
và vô thức (onbewuste). Ngành ứng xử trị liệu đề cập
đến sự ân thưởng, trừng phạt và những nhận thức phi
lý. Ðiểm khác biệt căn bản là tâm lý học, qua đó, tìm
đủ cách để giải thích các cách ứng xử của chúng ta.
Trong khi đó, Phật giáo ngược lại chỉ đưa ra khả năng
để giải thoát, điều đó nói về một cách ứng xử không
bị chi phối [bởi tham ái, sân hận và si mê].
Con
đường
Con
đường nào đưa đến giải thoát? Chân đế thứ tư là sự
thực về con đường đưa đến giải thoát. Ðó là bát chánh
đạo. Tám yếu tố của con đường không tạo thành một chuỗi
tiến trình mà là một tổng thể hữu cơ gắn bó. Theo truyền
thống (và nhờ đó rõ ràng hơn) tám yếu tố này vẫn thường
được quy lại thành ba nhóm, đó là trì giới (deugd), thiền
định (meditatie) và tuệ giác (inzicht).
Một
lối thông đến con đường là tuệ giác. Trong bước đầu,
đó là niềm tin vào sự hợp lý của con đường thực tập
và quyết tâm lên đường tu học. Niềm tin này cũng giống
như niềm tin của một bệnh nhân đối với vị bác sĩ trị
liệu. Bệnh nhân không thể biết trước hiệu quả của dược
liệu, nhưng bằng một tinh thần phê phán lành mạnh, bệnh
nhân có đủ niềm tin để sử dụng những dược liệu này.
Tuệ giác quan trọng nhất ở đây chính là ý thức về trách
nhiệm tự thân.
Tới
đây là sự tiếp cận với trì giới. Ðạo đức trong Phật
giáo không có tính chất luân lý như chúng ta vẫn thấy trong
các tôn giáo Tây phương. Trong bước đầu, đạo đức [Phật
giáo] có tính miêu tả. Một số hành vi như giết hại, trộm
cắp, gian dối, tà dâm tạo ra khổ đau vừa cho thủ phạm
lẫn nạn nhân. Phật giáo không lên án những hành vi tội
phạm nhưng kêu gọi ý thức về trách nhiệm tự thân và chấp
nhận những hậu quả của những hành vi đã làm. Ðiều này
được Phật giáo diễn đạt qua ý niệm nghiệp (karma). Những
giới luật đạo đức nêu lên những biên giới mà người
thực tập tránh vượt qua nếu không muốn gây ra bất hạnh
cho chính mình cũng như cho người khác.
Bước
tới nữa là thiền định. Có thể không ở đâu mà sự thực
tập thiền định lại được nhấn mạnh và hành trì nhiều
như trong truyền thống Phật giáo Tây phương còn mới mẻ.
Sở dĩ như thế là vì Phật giáo đã được phổ biến đúng
vào thời kỳ của cuộc mở rộng ý thức, của các chất
kích tạo ảo giác và sự bùng nổ những nhu yếu tìm hiểu
về tâm lý học. Nhưng điều này cũng dễ đưa đến một
hình ảnh sai lạc. Các phương pháp thiền định đúng là có
thể được dùng để làm thuyên giảm căng thẳng hoặc là
phương tiện mở rộng tri kiến nội tại. [Nhưng] thiền định
chỉ thực sự trở thành một pháp môn Phật giáo khi được
hành trì trong tổng thể hữu cơ của bát chánh đạo, nói
khác đi, thiền định trong mối tương quan chặt chẽ với
trì giới và tuệ giác.
Ðối
với Phật giáo, thiền định chính là nơi chốn của sự tự
khảo sát. Thiền định là phòng thí nghiệm, là kính hiển
vi, nơi mà bốn sự thực mầu nhiệm có thể được khảo
sát thật tỉ mỉ. Như trong một chương trình truyền hình
đang thực sự diễn ra, bạn có thể thấy trong khi thiền định
sự khổ đau xuất hiện như thế nào và sự giải thoát có
thể sinh ra như thế nào. Cứ thử để ý đến hơi thở trong
vòng vài phút, bạn sẽ thấy tâm thức của mình liên tục
bị những ý tưởng nhiễm lòng tham ái, sân hận và si mê
thao túng. Tùy theo mức độ học hỏi và hành trì, vào khả
năng biết chú tâm, biết tỉnh giác đích thực trong sự hỗn
loạn [của tham, sân, si] mà bạn khám phá ra khả năng hướng
đến giải thoát.
Qua
sự khảo sát này, tuệ giác sẽ phát sinh. Ðiều mà lúc ban
đầu chỉ là niềm tin có phê phán vào kinh nghiệm và tuệ
giác của người khác nay đã trở thành kinh nghiệm và tuệ
giác của chính mình. Tuệ giác này sẽ giúp ta càng lúc càng
thấu rõ hơn tính cách phi lý của những hành vi không đạo
đức. Ðiều mà lúc ban đầu chỉ là sự tuân thủ giới luật
càng lúc càng trở thành sự hành xử hồn nhiên. Làm sao ta
có thể tiếp tục tạo ra khổ đau cho chính mình và người
khác khi ta biết rõ đó là sai lầm?
Những
kết quả mà bạn đạt được trên con đường tu tập sẽ
tự tạo thêm động lực giúp ta đi xa hơn trên con đường
thiền định, xa hơn trong sự khảo sát để hiểu thấu nguồn
căn của khổ đau và an lạc. Tuệ giác mới này lại giúp
ta trì giới vững chãi hơn, thiền định tinh tiến hơn… Một
vòng tròn bất tận.
Kết
Triết
gia Leo Apostel, một người thực tập thiền chuyên cần, từng
đề nghị hãy xem mỗi đời người như một thử nghiệm về
đạo đức. Cũng tương tự như trong truyền thống khoa học
Tây phương, mỗi người có thể dựa trên kinh nghiệm đạt
được qua những cuộc thử nghiệm của những người đi trước.
Cũng giống như rất nhiều sinh viên vật lý đã thực hiện
lại các thí nghiệm của Newton, với sách giáo khoa trong tay,
để qua đó đạt được sự hiểu biết về những định
lý cơ bản của vật lý học. Cũng vậy, Phật đề nghị với
chúng ta một cuộc thử nghiệm. Nó bắt đầu bằng việc đảm
nhận trách nhiệm cho cuộc sống của chính mình. Cuộc thử
nghiệm này đã được Kinh Pháp Cú (Dhammapada) tóm gọn bằng
những vần thơ hùng mạnh:
Không
làm mọi điều ác (het kwade laten)
Thành
tựu các hạnh lành (doen wat heilzaam is)
Tâm
ý giữ trong sạch (de geest zuiveren)
Chính
lời chư Phật dạy (dat is de leer van de Buddha) [6]
Trong
kinh điển Phật giáo, sự thực tập được ghi nhận là “tốt
từ khi bắt đầu, tốt ở giữa chừng và tốt ở chung cuộc”.
Con đường đã đơm hoa kết trái ngay từ khởi điểm. Phật
giáo là một truyền thống của giới xuất gia và cư sĩ. Không
nhất thiết cứ phải ngồi thiền nhiều giờ hàng ngày trên
tọa cụ mới là tu, cho dù điều đó khả dĩ làm được.
Chỉ cần lên đường, nuôi dưỡng cái nhân tính cơ bản trong
đời sống hàng ngày, như thế đã mang lại cho đời sống
nhiều ý nghĩa và giải thoát. (Nếu không có giải thoát thì
ngồi nhiều giờ trên tọa cụ cũng chẳng mang lại lợi ích
gì). Các truyền thống Phật giáo luôn bác bỏ khuynh hướng
thường tình là đánh giá điều này cao trọng hơn điều kia.
Là
những người [sống ở] Tây phương, chúng ta vẫn được nuôi
dạy với ý tưởng về sự bất khả hợp nhất của hai ý
nghĩa của một “đời sống tốt đẹp”. Một đời sống
tốt đẹp trong nghĩa một đời sống đạo đức và một đời
sống tốt đẹp trong nghĩa tận hưởng đời sống. Kết quả
hỷ lạc nhất và cũng là bất ngờ nhất của cuộc thử nghiệm
Phật giáo là cả hai ý nghĩa trên của tốt đẹp, tựa như
hai mặt của một chiếc mề-đai, hoàn toàn gắn bó với nhau.
Nguyễn
Thanh Hùng (dịch)
(PhatTuVN.org)
[1]Stephen
Batchelor: The Awakening of the West: The Encounter of Buddhism and Western
Culture, Parallax 1994
[2]Các
đoạn kinh được trích từ Kalama sutta (Tăng Nhất bộ kinh,
Anguttara Nikaya 65) và Dhammacakkapavattana Sutta (Tương Ưng bộ
kinh, Samyutta Nikaya LVI.11). Các đoạn kinh đã không được trích
dịch nguyên văn mà ghi lại theo ngôn ngữ đương đại, ý
nghĩa không thay đổi.
[3]Tương
Ưng bộ kinh (Samyutta Nikaya) XXII.86
[4]Tiếng
Pali là một ngôn ngữ có họ hàng với tiếng Phạn (Sanskrit).
Phần lớn các kinh điển Phật giáo được ghi lại bằng thứ
tiếng này.
[5]Han
F. de Wit: De verborgen bloei: Over de psychologische achtergronden van
spiritualiteit (Sự đơm bông âm thầm: những bối cảnh tâm
lý học của tâm linh), Kok Angora 1993
[6]Kinh
Pháp Cú (Dhammapada 183), lời Việt của Thích Minh Châu
Edel
Maex (Theo Nguyệt san Triết học)