THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
MỤC LỤC
TẮM PHẬT KHÔNG ÐỦ  
Chân Hiền Tâm 

Phật đản ngày  xưa - cái thuở chân cẳng có thể bụi bờ rong chơi, nhưng chưa đủ cao với tới đức Phật xối một gáo nước - rất là háo hức. Giả như ông Phật đặt thấp, chị em chúng tôi có thể thỏa mãn cầm gáo dội tới dội lui, chưa chắc hao hức nôn nóng đã còn. Nhưng ông đặt cao, không có ông Bô thì chịu. Chùa đông, ông Bô còn phải đi làm. Năm tắm được, năm lại không. Sự háo hức càng lớn. Sự thỏa mãn càng nhiều khi được ngắm nhìn dòng nước từ từ chảy trên mình Phật. Một đứa dội, năm đứa nhìn. Một lần dội, sáu lần vui.

Ông Bô mất đi, con gái còn chưa kịp lớn. Mẹ không đủ thời gian đi chùa. Tắm Phật trở vào quên lãng. Mong muốn sao cho chân mình đủ dài chen qua đám đông tự mình tắm Phật. Nhưng rồi mọi thứ thay đổi. Một thời con gái qua nhanh. Cái thời phụ nữ trở dài. Chùa chiền vắng bóng. Tắm Phật không thiết, chỉ biết tắm con. Mặn, ngọt, chua, cay ở đời nếm đủ. Như để thật hiểu chữ khổ Phật nói trong đời.

Phật đản bây giờ, háo hức đã qua. Có lẽ, ngắm nhìn đức Phật hoan hỉ không đủ tẩy sạch cặn bả trong lòng. Dòng nước tắm Phật chỉ đủ vui cùng tâm trạng thơ ngây chưa lấm bụi trần. Mặn, ngọt, chua, cay trong đời cần một thứ khác : Kho tàng giáo lý mà Phật đã nói. Kho tàng đã khiến chúng ta nhớ đến ngày sinh của Phật, không như người đời tưởng nhớ ngày giỗ. Phật đản không lìa Pháp đản. Pháp nếu không có, Phật không khác người bình thường. Phật đản không còn ai nhớ. Ðời khổ không biết nương đâu. 

KHỔ - TẬP - DIỆT - ÐẠO, là bốn chân đế ở cuộc đời này. Phật nói như thế. Ta đã học nhiều. Nói lui nói tới cũ mèm. Nhưng chưa một lần thật biết thế nào là KHỔ, bạn không thể thấy giá trị thật sự của ÐẠO. Không như thật biết thế nào là ÐẠO, bạn cũng không thể chiêm nghiệm cái gọi là DIỆT, để dừng đi TẬP và KHỔ. 

VÔ MINH duyên HÀNH, HÀNH duyên THỨC ... một vòng duyên khởi lê thê, nêu lên một mặt cái gọi là TẬP. Vòng đó, chỉ thẳng cội nguồn làm ta đau khổ. Nói rõ cái gì ràng buộc khiến ta không an. Chính là vô minh. Vô minh, nên khi gặp cảnh, ít ai không động.  Đối cảnh không vui thì buồn. Vui thì ưa thích chấp thủ. Không vui, tìm cách đẩy đi. Có ÁI sinh lo. Có ÁI sinh sợ. Bỏ mất lực dụng từ bi. Bỏ mất trí tuệ trùm khắp. Cái vòng XÚC - THỌ - ÁI - THỦ cứ thế mà ràng buộc mình. Một vòng tích tập khiến ta gây nghiệp. Hiện ra cái quả lo âu, sợ hãi, sanh tử triền miên, thay hình đổi dạng vô chừng. 

Niệm trước mê là chúng sanh. Niệm sau giác là Phật. Nhưng thường đối duyên, mình ít tự chủ. Vui cho tới bến. Buồn chơi tới cùng. Niệm niệm chúng sinh dọc dài nối đuôi. Mọi thứ cứ thế tiếp diễn. Phật chính ngay đó mà chê, chỉ nhận chúng sinh làm mình.  Suy nghĩ chưa đủ còn ra hành động. Trôi theo thói đời một cách tự nhiên. Không hề một lần tự tỉnh quay về, ngưng dứt suy nghĩ ham muốn cho tâm thanh thản, cho đời an vui. Cứ niệm trước mê, bồi thêm một niệm mê nữa. Mê một niệm đầu, thêm niệm thứ hai, rồi niệm thứ ba … Niệm niệm nối đuôi, cứ thế tích tập. TẬP là nhân. Quả đương nhiên KHỔ. Không phải chỉ có cái khổ sanh tử quá khứ vị lai. Ngay đây đã khổ. Niệm niệm suy nghĩ làm tâm không yên. Cái không yên đó chính là một phần của KHỔ.

Giờ cần đến ÐẠO. Tắm Phật không đủ, cần phải tắm mình. Cho trôi mọi thứ tập tục đời thường. ÐẠO mà Phật nói, một bộ A Hàm, Thắng Man, Pháp Hoa v.v… Biết bao kinh điển chỉ bảo phương tiện, giải thích ngọn nguồn để ta trở về cội nguồn bình an. Tổ Tổ nối truyền chỉ thẳng mọi người đều có đức tướng trí tuệ Như Lai. Niệm trước mê là chúng sanh. Niệm sau giác là Phật. Niệm niệm tỉnh giác, Phật Phật đản sinh. Ngay tâm mình mà tu. Ngay tâm mình mà ngộ. Quản Ngạch buông đao đồ tể, thành Phật không xa. 

Bồ tát xuất hiện truyền thừa không biết bao nhiêu luận ngữ. Mỗi mỗi chỉ dạy cho hợp căn cơ chúng sanh. Ðể LÝ vẫn còn, mà SỰ thì vẫn thực hành không khó. Khuyên đừng tích tụ, thương người như thể thương thân. Ta người không khác. Tay đau, chân đau, thân cũng ảnh hưởng. Bầu ơi! Thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Người đau thì ta sẽ đau. Người vui ta rồi sẽ vui. Xan xẻ chứ đừng tích góp. Ðừng bán cái đức mà mua cái phước. Cái vui trí tuệ mới là cái vui lâu dài ... 

Thật nhiều phương cách, chung qui cũng chỉ phá đi cái sự tích TẬP. Cái nhân của mọi KHỔ đau. Nhưng mình chỉ đọc vớt vát vài thứ lều bều trên mặt, lấy đó làm ruột làm rà cho qua nỗi buồn chúng sinh. Hết buồn tìm vui thứ khác. Lại theo dòng đời trôi dạt. Càng dạt càng xa. Trở về càng cực. Bởi sự tích tụ càng nhiều, lực nghiệp càng lớn, thói quen càng mạnh, từ bỏ càng khó. Như con nghiện thuốc lâu năm, bỏ nghiện vật vả khó khăn. Ý chí không vững, đành phải đâm đầu nghiện tiếp dù biết sự sống không còn. Kiếp tằm cứ thế mà vương. Càng trói càng khổ. Tuổi thọ càng ít. Hoạn nạn càng nhiều. Chỉ vì hay thích tích tụ. Cái gì cũng muốn tích tụ cho nhiều. Công danh, sự nghiệp, lương thực, châu báu … thứ gì cũng muốn tích tụ. Một gáo tắm Phật không đủ trừ hết tham sân. Si ái còn hoài. Vô minh duyên hành, hành duyên thức … cứ thế luân hồi, Ta bà mãi mãi đông vui. Giờ phải tắm mình, không chỉ tắm Phật. 

Thiện nghiệp làm nhiều, tính ra cũng là tích tập? Tích tập là nhân của KHỔ? 

Thiện nghiệp làm nhiều, không khéo cũng sinh tích tụ. Tích tụ là nhân của khổ. Có điều, ác nghiệp nhiều quá, cần có thiện nghiệp giải trừ. Không có thiện nghiệp, ác nghiệp khó trừ, lấy gì để được LÝ SỰ VIÊN DUNG mà có cái quả SỰ SỰ VIÊN DUNG? Thành LÝ không đủ, phải có cái SỰ đi kèm. Chứng tỏ LÝ ta học đó, không chỉ có ở bờ môi. Ra thành hành động hẳn hòi. Không phải nói thương, nói yêu, nói Phật, nói thiện chỉ trên đầu môi chót lưỡi, còn SỰ thì mặc, để dành người làm cho có công đức. Cái nớ không được. Cái gì mình chưa làm được, mình nguyện từ từ sẽ làm. Lý sự từ từ viên dung. Viên rồi mới nhập cảnh giới Hoa Nghiêm SỰ SỰ VÔ NGẠI. KHỔ thật sự hết. DIỆT mới tròn đầy.

Cho nên, phải cần tích tập thiện nghiệp. Cho tiêu cái tham cái sân. Có điều, TÍCH TẬP MÀ VÔ TÂM. Kinh Ðại Bửu Tích – phẩm Hằng Hà Thượng – Phật nói “Tín nữ! Khi tích tập mà vô tâm. Khi không tích tập cũng như vậy”. Tích tập hay không, quan trọng vẫn là vô tâm. VÔ TÂM không phải là tâm si si ngu ngu, không phải là không quan tâm đến ai. Vô tâm là không tâm phân biệt, không tâm thủ xả. Nó là khái niệm dùng rất phổ biến trong chốn thiền môn. Ðối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền! Chính là nó đó. Không thiền không định không có vô tâm. Nhưng không vì vậy mà mình không vô tâm được. Không vô tâm được đúng nghĩa, thì mình gầy tạo cái nhân vô tâm. Làm rồi đừng nhớ, đừng có kể công, đừng có nghĩ tưởng, hồi hướng tất cả cho đường Phật đạo của mình và người.

Một gáo tắm Phật, xin nguyện thế giới chúng sanh không chỉ tắm Phật mà phải tắm mình. Tham cứu pháp mầu, ứng dụng gột rửa tham sân, cho cõi Ta bà bớt đi tai ương hoạn nạn. 

Nhân mùa Phật đản, xin nguyện không chỉ Phật đản một ngày, ngày ngày Phật đản, nơi nơi tâm TỪ niệm niệm đản sinh.    
 

BÁT NHÃ BA LA MẬT ÐA TÂM KINH
Chân Hiền Tâm

Gần như Phật tử nào cũng biết qua bài Bát Nhã tâm kinh. Bát Nhã tâm kinh là bài kinh nói về tâm, nhưng không phải là tâm suy nghĩ thường tình của người đời, mà nói về cái tâm “đến bờ kia”. Nó là cái trí có thể soi thấu được cội nguồn của mọi hiện tượng, sự vật v.v… trên thế gian. Bài kinh là ngọn đuốc dẫn đường cho một hành giả tu Phật.

Bát nhã, được người xưa phân làm  ba : 

1. Văn tự Bát nhã  
2. Quán chiếu Bát nhã
3. Thực tướng Bát nhã 

I. VĂN TỰ BÁT NHà

Bài tâm kinh viết bằng tiếng Phạn hay đã dịch ra tiếng Hán, tiếng Việt … gọi là VĂN TỰ BÁT NHÃ. Thực tướng của Bát nhã thì không ba cũng không một. Nhưng phân ba là do tâm của chúng sinh. Do căn cơ chúng sinh cạn mỏng, chưa thể một bước vào thẳng Quán Chiếu hay Thực Tướng Bát Nhã, nên phải mượn ngôn từ chuyển tải mà thành VĂN TỰ BÁT NHÃ.

Nếu ngày đêm chỉ làm một việc là tụng Bát nhã, không cần hiểu cũng không cần hành, là ta đang ứng dụng Văn Tự Bát Nhã. Tuy chưa hiểu và hành theo những gì kinh nói, việc tụng niệm vẫn mang lại ít nhiều lợi lạc cho mình. Tụng kinh dù là kinh gì, đương nhiên phải là kinh Phật, thì ngoài việc giúp huân tập kinh điển vào tạng thức, đó chính là bước đầu giúp ta qui hướng Phật đạo. Nó có tác dụng giúp tâm an định phần nào. Nhờ vậy, tụng bất cứ kinh gì với tâm thành kính và tập trung, ta đều gặt được sự an lạc trong hiện tại.

Không chỉ tụng mà còn hiểu được ít nhiều bài kinh nói gì, là ta đang vận dụng VĂN TỰ BÁT NHÃ ở mức cao hơn. Ðó là nhịp cầu giúp ta bước lần từ VĂN TỰ BÁT NHÃ sang QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ. Vì thế, chư vị thiện tri thức phải bỏ công dịch hết kinh này đến kinh khác để ta có thể hiểu mà hành. Bởi chỉ khi thực hành đúng những gì kinh đã nói, ta mới nhận được lợi ích thiết thực, không chỉ cho mình mà cả cho người. 

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Ða thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách. Ðó là âm Hán của bài Bát nhã tâm kinh. Người không hiểu thì đọc thuộc lòng bao nhiêu, cũng chỉ thế và chỉ thế mà thôi. Cho nên, phải dịch ra tiếng Việt để hiểu. Hiểu rồi còn thăng tiến lên QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ. 

Bồ tát Quán Tự Tại, khi hành sâu Bát nhã ba la mật đa, chiếu thấy 5 uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.  Câu kinh không nói đến chúng sanh cũng không nói đến Phật mà nói đến Bồ tát. Là những hữu tình giác đang học và hành theo những gì Phật Tổ đã dạy. Tất cả những ai đang qui hướng Phật đạo, đều gọi là Bồ tát. 

Bồ tát nói đây có pháp hiệu là Quán Tự Tại. Tự tại là không bị trói buộc. Không bị trói buộc là do không dính mắc. Không dính mắc là nhờ không bị thói quen và tập khí dẫn chạy. Không nghiện ớt thì có ớt hay không ớt, mọi thứ vẫn tự nhiên. Ta tự tại với ớt. Nhưng một khi đã nghiện ớt thì không có ớt, mọi thứ thành lạt lẽo thiếu thốn. Ðó là trạng thái dính mắc, không tự tại. 

Ta tập quen với quá nhiều thứ, không chỉ trong hiện đời mà từ vô thủy đến nay, nên khó tự tại với sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu chúng đầy đủ thì ta thấy tự tại, nhưng thiếu chúng, mình như con thuyền gặp sóng, lao đao lận đận cô độc chênh vênh. Vì thế, ngũ uẩn thay vì không, đều thành có. Giờ muốn trở lại chỗ ban đầu, phải làm Bồ tát Quán Tự Tại. Muốn làm Bồ tát Quán Tự Tại thì phải tập bỏ dần các thói quen ở thân cũng như tâm.     

Tụng Bát nhã tâm kinh, tuy tâm hồn có phơi phới. Nhưng kinh không nói tụng mà nói HÀNH SÂU. Nếu tụng Bát nhã mà thân tâm đều không, là điều kiện để ta vượt qua tất cả khổ ách, thì tụng Bát nhã chính là HÀNH SÂU. Khổ nỗi, muốn thân tâm đều không thì phải “Tâm hành ngôn ngữ đoạn” . Không chỉ ngôn ngữ phải đoạn, mà tâm hành cũng phải đoạn, thân tâm mới thành không. Vì thế, muốn hết khổ thật sự, muốn làm Bồ tát Quán Tự Tại, thì không thể cứ ứng dụng VĂN TỰ BÁT NHÃ mãi, mà phải chuyển qua QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ. Phải dụng cho được cái QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ đó thì mới có ngày làm Bồ tát Quán Tự Tại chiếu thấy ... Có chiếu thấy 5 uẩn đều không, mới qua được tất cả khổ ách.

II. QUÁN CHIẾU BÁT NHA 

Xá Lợi Tử! Một lời kêu gọi. Một lời nhắn nhủ. Một lời lay tỉnh. Kêu gọi ai? Nhắn nhủ ai? Lay tỉnh ai? Tất cả Phật tử đang qui hướng Phật đạo. Tất cả những ai có duyên với Bát Nhã tâm kinh. Chỉ một lần lướt qua kinh này, ta đã có phần trong đó. 

Xá Lợi Tử! Là hãy lắng nghe, đừng quay lưng như những kẻ vô phần. 

Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Cái thân mà các vị đang thấy là thật đây, chúng không lìa không. Ngay sắc là không. Ngay không là sắc. Không đợi sắc phải hoại mới nói sắc không. 

Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Không phải chỉ có sắc mà bốn thứ còn lại cũng như vậy. Tức, ngũ uẩn chẳng khác không. Không chẳng khác ngũ uẩn. Ngũ uẩn tức là không. Không tức là ngũ uẩn. 

Xá Lợi Tử! Lại lần nữa kêu gọi, lần nữa lay tỉnh, lần nữa nhắn nhủ ... Bồ tát của Phật không phải ai cũng hoàn toàn tỉnh thức trong tất cả thời. Vẫn có kẻ nửa đường quên phận, dong ruỗi vui chơi theo nghiệp cũ Ta bà. Vì thế, khi muốn nhấn mạnh điều quan trọng, cần phải lay tỉnh lần nữa. 

Tướng không của các pháp, không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không tăng không giảm … Nói “tướng” là thuận theo ngôn từ thế gian mà nói. Bởi đây vẫn là VĂN TỰ BÁT NHÃ. Vì là văn tự nên nó cho phép ta sử dụng ngôn từ phù hợp với ngữ  điệu của thế gian để chúng sanh dễ nhận. Cái không mà ta nói đó, không phải bỏ sắc nhập không, không phải bỏ không nhập sắc, không phải là cái không duyên khởi cùng với sắc, mà là cái không “không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch …”. Nó không thuộc nhị biên phân biệt. Nó không phải là cái sanh của phàm phu, cũng không phải là cái diệt của Nhị thừa.  Phi tất cả mà tức tất cả. Nó chính là thế tánh của tất cả pháp. 

Cho nên, trong cái không đó, không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không có nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có nhãn giới cho đến ý thức giới. Không có vô minh cũng không có hết vô minh. Cho đến, không có già chết, cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không trí cũng không đắc. Vì không có sở đắc, nên Bồ tát y nơi Bát nhã ba la mật đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, ly hẳn tất cả điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn. Vì “không” không thuộc nhị biên phân biệt, nên cái không mà tâm kinh nói đây, không những không có ấm, giới, nhập như hàng Nhị thừa đã chứng nghiệm, mà cũng không luôn pháp Tứ đế hay Thập nhị duyên sanh. Ngay cả cái gọi là trí, là chứng, cũng không. Bởi phần thức ấm sâu sa (là Alaida và Matna) đều không. Ðây là mượn ngôn từ để nói về THỰC TƯỚNG BÁT NHÃ như Bát bất của luận Trung Quán, 108 chữ Phi trong kinh Lăng Già. Chứng được chỗ này chính là chứng được cái nhân vô sanh, để có cái quả là niết bàn Phật. 

Tánh thể vốn vậy, cái nhân để có cái quả niết bàn đã như vậy, thì QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ phải có tác dụng đưa tâm hiện nay của chúng ta thuận dần với cái không đó, để mỗi Xá Lợi Tử có thể “bùng vỡ” và thể nhập. Vì thế QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ là dùng trí dụng của chân tâm để thấy và chiếu vào những gì hiện lên trong tâm. Ngài Hám Sơn nói : 

Tất cả chúng sanh mê chân tâm mình, một bề chỉ nương vọng tâm làm việc. Nên nay tu tập, lấy việc trừ tưởng làm đầu. 

Vọng tưởng không tánh, vì sao lại trừ? 

Tất cả các tưởng thuộc niệm đều trừ. 

Nay mới dụng tâm, cần đề khởi nhất niệm này làm chủ. Do lực quán chiếu của nhất niệm này, chỉ cần thấy được chỗ khởi của vọng tưởng thì nhất niệm này lập tức chiếu phá, chẳng để vọng tưởng tương tục. Ngài Vĩnh Gia nói “Ðoạn tâm tương tục” là đây. 

Chủ yếu của việc tham thiền là không để mất nhất niệm này. Song một khi vọng tưởng đã diệt, thì nhất niệm này cũng phải bỏ. Vì nhất niệm này chỉ do trừ tưởng mà lập. Tự thể của chân tâm xưa nay ly tướng, đâu thể dung niệm. Vọng tưởng không tánh, nên xưa nay không phải là thứ có sẵn. Vọng tưởng không phải là thứ có sẵn, nếu lập nhất niệm - là cái đối đãi với vọng tưởng - thì nhất niệm này lại là cái gốc trợ cho vọng tưởng phát triển. Nên nhất niệm này cũng phải bỏ. Vì chỗ lập là chân, nên chân vọng đều hết, năng sở cả hai đều quên. 

Nhất niệm chẳng lập thì niệm niệm chẳng sanh. Niệm niệm chẳng sanh thì cái sáng thường hằng hiện tiền. Tịch chiếu rực sáng nên niệm niệm chẳng diệt. Ðây là yếu chỉ đích thực của việc tham thiền. 

Theo đó thì thấy, với những gì hiện lên trong tâm, ta chỉ cần tỉnh giác biết được chúng, là ta đang ứng dụng QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ. Quan trọng là ta có tỉnh giác để thấy được vọng tưởng mà chiếu hay không, hay vẫn mãi mê đắm chìm trong những loạn tưởng sanh tử, bỏ mất cái dụng vô bờ của chân tâm.    
 
Hỏi : (Trích từ thắc mắc của một Phật tử) 

Vì sao Hán văn không có từ “đắc”, mà đa phần các bậc tôn sư xưa cũng như nay đều dịch “Xa hẳn tất cả điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh niết bàn”. Dịch như vậy có mấy vấn đề cần coi lại :

1. Nếu thật sự viễn ly điên đảo mộng tưởng để được cứu cánh niết bàn thì e rằng chúng ta đang cố vượt qua thế giới ảo này để bước vào thế giới ảo khác, vì kinh luận vẫn nói “Tôi nói Phật đạo như ảo như mộng, tôi nói niết bàn cũng như ảo như mộng … vì ảo mộng và niết bàn không hai” v.v...   

2. Nếu viễn ly điên đảo mộng tưởng để được cứu cánh niết bàn rồi, thì câu “Chư Phật ba đời đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề” đâm thừa. Vì được cứu cánh niết bàn rồi, thì đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề chi nữa.  

Ðáp

1. Bát nhã nói đây vẫn còn là VĂN TỰ BÁT NHÃ, nên ta phải chấp nhận một số hạn chế nhất định khi nói về chỗ tâm chứng. Nói chứng mà thực là không chứng, nói đắc mà thật là không đắc. Vì thế, một trong 4 pháp dạy người tu Ðại thừa là “Y nghĩa bất y ngữ”. Tức khuyên người tu nên hiểu ý, không nên chấp vào văn tự. 
Không chấp nhưng khôngvì vậy mà ta có quyền dùng văn tự tự do đến nỗi ý kinh trở thành sai lệch. Vì thế, cần xét coi việc thêm từ “được” hay “đạt đến” như thế, là hợp hay trái ý kinh. Nếu không trái thì không có lỗi để bàn. 

Kinh nói “Ly hẳn tất cả điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh niết bàn”. ÐIÊN ÐẢO nói đây, được dùng để chỉ cho cái thấy không bị chi phối bởi nhị biên phân biệt. So với phàm phu, Nhị thừa được cho là bậc thánh giả. Nhưng so với chân lý tối hậu thì cái thấy của chư vị vẫn còn thiên lệch, vẫn bị coi là điên đảo. Vì thế, muốn hiểu đúng câu trên thì phải hiểu : Không chỉ viễn ly tâm thức phàm phu mà còn viễn ly luôn tâm thức “xả sanh tử trụ niết bàn” của hàng Nhị thừa. Tức được niết bàn nói đây, không phải là “Vượt qua thế giới ảo này để bước vào thế giới ảo khác”. Chỉ là xa lìa tâm thức hai bên. Ngay đó chính là niết bàn. Niết bàn này chính là thể tánh vô sanh của vạn pháp. Soi thấu được cái THỂ đó là soi thấu cội nguồn của mọi hiện tượng sự vật ở thế gian, nên nói “Cứu cánh niết bàn”.

Hiểu như vậy, thì thêm một từ “được” hay “đạt đến’ không có gì để bàn. Bởi nó vẫn thuận với những gì tâm kinh muốn nói. Nó chỉ giúp cho chúng sanh dễ hình dung hơn về những gì kinh nói. Dịch sát quá - như bài viết này đã dịch - thì nghĩa lại thành tối. Người đời khó mà hiểu được. Có khi còn hiểu lầm nếu không có phần giải thích bên cạnh. Cho nên, lỗi nếu có, không phải ở chư vị dịch thuật mà là ở người hiểu tâm kinh không đúng, hoặc giảng giải lầm lẫn. 

2. Lăng Già Trực Giải của ngài Hàm Thị nói “Phật tánh là nhân, niết bàn là quả”. Vì thế, chứng nghiệm được tánh thể tột cùng, mới chỉ là nhân. Y cái nhân đó, hành Bồ tát đạo, tiêu trừ tập khí, làm lợi ích cho chúng sanh, mới có cái quả là niết bàn Phật. Nói cách khác, chứng được Phật tánh chỉ mới là chứng được cái THỂ, còn TƯỚNG và DỤNG của thể ấy vẫn chưa hiển bày đầy đủ. Quả Phật, chính là lúc TƯỚNG và DỤNG của THỂ ấy được hiển hiện tròn đầy. Vì thế tâm kinh có hai câu rõ rệt : 

a. Bồ tát y nơi Bát nhã ba la mật đa, đạt đến cứu cánh niết bàn. 

b. Chư Phật ba đời y Bát nhã ba la mật đa mà được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Theo Biệt giáo, “Cứu cánh niết bàn” là cái QUẢ mà chư vị Bồ tát thuộc Tam hiền phải đến. Ðạt được cái QUẢ đó là bước vào Thập địa. Ðó là cái NHÂN để có cái QUẢ là niết bàn Phật, chính là thế giới Hoa Nghiêm của mười phương chư Phật.   

III. THỰC TƯỚNG BÁT NHà

Thưc hành QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ liên tục, đủ thời tiết nhân duyên ta nhận ra được THỰC TƯỚNG BÁT NHÃ. Chính là nhận ra được cội nguồn của VĂN TỰ BÁT NHÃ cũng như QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ. Nói nhận nhưng không có cảnh giới sở nhận cũng không có chủ thể năng nhận. Thực tướng Bát nhã cũng chính là thực tướng của vạn pháp. Ðó là chỗ không thể dùng lời nói để diễn tả, không thể dùng thức phân biệt mà thấu được. 

Vậy thì … Quán chiếu Bát nhã thôi, Xá Lợi Tử! 
 
 
 

05-08-2008 10:23:46

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap