NHẶT DẤU
THỜI GIAN
Cư
sĩ Liên Hoa
Một
con người ngàn xưa
đã
có mặt nơi đây
giữa
đất trời bao la
cảnh
trí thiên nhiên thật đẹp
lòng
không còn vướng bận
nguyện
lớn rộng vô cùng, đã vuông tròn
với
đời sống giản dị, bình thường
không
danh không lợi
từ
bỏ ngai vàng, sắc đẹp
bỏ
tuổi thanh xuân
bỏ
lòng tư ẩn
vì
nước mắt khổ đau muôn loài
khoác
chiếc y vàng hoại sắc,
bình
bát đi vào đời
từng
lời nói chân tình, ngát hoa tuệ giác,
chan
hoà, no ấm lòng người
từng
nụ cười, dáng đi, sen vàng nở rực
từ
tấm lòng, mưa pháp tuôn rơi
trời
người đều lợi lạc
là
bóng mát chở che tình nhân loại
là
lòng từ bao phủ khối u minh
lặng
nhìn, ngưỡng lạy Đấng Từ Tôn
trời
người chắp tay, lắng nghe tiếng pháp âm
hận
thù không còn đất sống
vô
minh từng lúc cúi đầu
tâm
người vang rền đời tự tại, an vui
môi
mỉm nụ cười, ngát hương giải thoát …
Minh Thanh
Sáng
nay, ra vườn để tưới các cây cảnh đang trồng, vỏn vẹn
chỉ có vài cây: chậu trúc thân cây ốm yếu, lụ khụ như
tiên ông màu vàng xanh, lá mảnh mai, rung rinh theo gió. Chậu
hoa quỳnh có vài nhánh hoa quỳnh đang cười héo xọp lại
sau một đêm nở, ôi quỳnh hương của tối nở sớm tàn,
mong manh như cuộc đời dù bần hèn, dù vương giả, đài các
v.v…nhưng ẩn tàng, phảng phất vô thường….Chậu cây bồ
đề, thân uốn khúc, vững vàng gốc rễ như tự lâu đời,
lá lớn, đuôi lá nhọn dài, mang dáng dấp của hình trái tim,
tim cuộc đời, tim con người hay tim được mở rộng đến
tâm của muôn loài, trong tuệ giác…
Được
săn sóc chỉ vài cây kiểng sau nhà, nhiều lúc là cái thú
nhàn nhã, an bình, làm cho tâm hồn đầm xuống, nhưng đôi
khi lại chợt buồn, giao động khi nhìn thấy cây ốm yếu
hay lá rụng dù đã đổi sang vàng úa hay còn xanh tươi, lìa
khòi cành, mang dấu vết mông lung của cuộc ra đi vô tận.
Thoang
thoảng đâu đây, hương thơm nhẹ nhàng, dịu ngọt toả cả
một không gian lớn. Ồ, mùi hương của mai chiếu thủy. Lúc
bé, tôi đã say mê hương nầy, khi được đến thăm viếng
nhà những người thân quen lớn tuổi, nhà có vườn và cây
cảnh. Những cây mai chiếu thủy được uốn mình theo dáng
của bonsai, nhiều kiểu, nhiều tầng, có những nụ họa thon
nhỏ bum búp trắng, như cánh thủy tinh dễ vỡ, như giọt sương
mai dễ tàn…Cái cánh hoa bé bỏng, mỏng manh nhưng hương thơm
kỳ diệu làm cho tâm người lắng đọng, trầm tỉnh. Có một
cái gì quyến rủ trong chiều sâu của hương thơm giải thoát
nầy, mang sức sống mãnh liệt. Do đó, dù trong cái vườn
nhỏ nầy, dĩ nhiên; tôi cũng phải có cây mai chiếu thủy,
để mùi hương dìu dắt khứu giác đi vào vùng tưởng tượng,
vẫn biết đó là chấp pháp, để cho ngoại cảnh chi phối.
Nhà
tôi lúc trước ở Harvey, Louisiana. Louisiana là một tiểu bang
có nhiều sắc tộc, đậm đà nhất là người da mầu, trong
đó người Việt Nam có mặt, sau cuộc đổi đời, biến cố
tang thương của đất nước.
Nếu
ai đã có dịp đến New Orleans, Louisiana, có vận động trường
Super Dome to lớn, mang hình dáng như cái bánh bao ( do người
Viêt đặt tên), đến viếng thăm khu phố cổ French Quarter.
Nơi đây có quán Café du Monde đã hiện diện trên 100 năm qua,
có khu Bourbon Street với những hình ảnh trần tục của con
người. Đi bộ dọc theo con đường Canel- con đường chính
của New Orleans, thỉnh thoảng thấy có những nghệ sĩ với
cây saxophone, thổi những bản nhạc jaz…tiếng nhạc trầm
bổng, réo rắc như lời ai oán của những người bị làm
nô lệ năm nào, có thể làm nức nẻ tim người lắng nghe.
Tôi rất mê tiếng kèn saxophone nầy, nhiều khi lắng lòng để
thưởng thức, qua đó, tôi cảm nhận và bắt gặp được
cuộc đời của tôi, của biết bao nhiêu người Việt tha hương,
nhận nơi đây làm quê hương thứ hai. Ai cũng có quê hương,
dù đẹp hay xấu, vẫn vang lên tận trong lòng những nhớ nhung
sâu lắng. Đó là quê hương của tuổi thơ, của lớn lên,
trưởng thành, bâng khuâng, chen chân vào đời, để tìm một
hướng đi, bước đến tương lai. Có những con đường quen
thuộc trên những nẻo đuờng của Saigon thuở nào, với biết
bao nhiêu là kỷ niệm đẹp. Những hàng cây trải dài, những
đám mây lơ lửng, những ngày nóng, nắng chói chang, những
cơn mưa vội vả đi về v.v…tất cả những hình ảnh, âm
thanh, tiếng nói, con đường… đã làm cho tai mắt mũi luỡi
thân ý bơi lội, vẫy vùng, làm chất liệu phù sa để bồi
đắp cho dòng sống của con sông, con rạch tâm linh hướng
chảy ra biển cả mênh mông.
Tôi
còn có một quê hương tâm linh, là suối nguồn tươi mát,
êm dịu, thanh thoát đã đang sẽ là dòng nuớc thanh luơng tưới
tẩm ôm ấp cho nhân loại- nói chung, qua bao nhiêu bỉ cực,
đói nghèo tâm hồn, khổ nạn của cuộc đời thiếu vắng
bóng từ bi, thân thiện…và nói riêng, đã chia sẻ ấm no,
bùi ngọt trong biết bao nhiêu là vinh nhục, thăng trầm suốt
dòng lịch sử và sinh mệnh của con người và đất nước
Việt.
Tôi
hiểu được sự đơn giản, bình dị nhưng đầy lợi lạc
trong suối nguồn vi diệu của Giáo pháp Đạo Phật. Phật
giáo nhẹ nhàng, thanh thoát như hương thơm giải thoát của
các loài hoa lan, mai chiếu thủy v.v.. lan toả cho mọi người-
dù có duyên hay không - vẫn bình đẳng tưới tẩm hay như
trận mưa diệu pháp ngào ngạt từ tâm, tuôn xuống, thấm
nhuần tất cả các loài, cây cối, dù cao thấp, dù lớn nhỏ….
Nhưng,
cũng từ nơi suối nguồn diệu pháp nầy, những lời dạy
như “ Ba cõi không an, giống như nhà lửa”, là những tiếng
chuông cảnh tỉnh đế mọi người về sự hiện hữu mong
manh của vạn pháp, sự bất an của cuộc sống, sự ưu tư,
lo lắng, đau khổ của tâm bất an….tất cả như quyện nhau
lôi kéo mọi tâm hồn cần đến chất liệu giải thoát của
Đạo Phật.
Đoàn
xe chở người đi hành hương đã vượt qua bao nhiêu là cây
số ngàn, tưởng chừng như nếu kéo một đuờng thẳng, sẽ
không bao giờ nhìn thấy được cuối đường. Nhưng, tự trong
tâm trí, hình ảnh của Đức Phật đã ngự trị, chiếm trọn
như đôi bàn tay diệu hiền của bà mẹ ôm trọn đưá con
của mình, làm lòng ấm áp, thư thái, an lạc.
Đã
bao ngàn năm trôi qua, hình ảnh đó, tấm lòng đó, sự thị
hiện giữa cuộc đời uế trược với tư thái, với tuệ
giác vô cùng, với từ bi vô lượng đã hiện diện không cùng
tận trong tâm người con Phật. Mỗi lời nói, mỗi chân ngữ,
mỗi lời thuyết giảng của Ngài đều làm cho mọi sinh linh
tự quán chiếu lại mình để nhận chân được tánh Phật
vẫn sáng ngời, soi chiếu trong tâm. Đó cũng là mãnh lực
vi diệu vô cùng đã dẫn tất cả mọi người trong đoàn hành
hương trên đất Phật tiến bước, dù mồ hôi có đổ xuống,
dù gian nan, dù nhiều lúc bị đói mệt v.v…nhưng môi vẫn
nở nụ cười, lòng vẫn hoan hỷ, không thay đổi, không sờn
lòng, biến chuyển, vẫn sắt son với ước nguyện của khởi
đầu dấn bước theo cuộc hành trình.
Càng
vưọt qua những chặng đường dài, càng cảm nhận được
hết tấm lòng của Bậc Đại Giác, đã không trụ vào Niết
bàn, mà vì sự khổ đau của muôn người, dẫm những bước
chân trên các nẻo đuờng trần gian, chuyển bánh xe Pháp.
Ấn
Độ của những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 vẫn còn
đầy nắng nóng, như thách thức với tấm lòng của mọi người…nhưng,
đoàn người đã tới được thành Xá Vệ (Sravasti) sau khi
qua đoạn đường quá dài, gập ghềnh, cát bụi, mệt lã người.
Những hoạt cảnh nối tiếp ở hai bên đường, hình như không
còn ai muốn để tâm, chú ý đến. Cũng xứng đáng để đến
được nơi đây cũng như may mắn là đi hành hương về đất
Phật trong những năm tháng sau nầy, vì so với những năm về
trước, thì đường xá đã tốt hơn, số người đi chiêm
bái đất Phật ngày càng đông, nên những dịch vụ để phục
vụ cho sinh hoạt của du khách có cải thiện và phát triển
nhiều hơn.
Thành
Xá Vệ là Kinh Thành lớn mà xưa kia thuộc Thủ phủ của nước
Kosala, do Vua Ba Tư Nặc ( Prasenajit ) cai trị. Theo lịch sử
ghi lại, Vua Ba Tư Nặc có người con trai là Thái tử Tỳ Lưu
Ly - người đã tàn sát dòng họ Thích, dù đã ba lần Đức
Phật can ngăn, nhưng vì nghiệp lực, nhân quả và hận thù
của quá khứ của hai dòng họ, nên đã không được giải
kết.
Đoàn
tiếp tục tiến vào khu vườn Tịnh xá Kỳ Viên (Jetvana), do
Ngài Truởng giả Cấp Cô Độc phát tâm bằng cách lát vàng
mua khu vườn của Thái tử Kỳ Đà để dâng cúng Đức Phật
cư ngụ và truyền bá Giáo Pháp, như nhiều Kinh sách của Phật
giáo đề cập đến. Khu Tịnh xá nầy rộng chừng 2 mẫu.
Trước cổng vào nơi Tịnh xá thiêng liêng nầy, có trồng
cây BÒ ñŠ A Nan (Anand Bodhi). Theo sử ghi lại là do Ngài MahaMoggallana
(Mục Kiền Liên) lấy giống từ cây Bồ Đề tại Bồ Đề
Đạo Tràng đem về trồng do theo lời thỉnh cầu của Ngài
A Nan. Từng bước, từng chỗ, từng mảnh đất đi qua tại
Thánh tích nầy, tất cả như làm sống dậy hết tất cả
những hình ảnh xưa cũ, nhưng hoạt cảnh đó lại hiện hữu
trên từng chân bước, cảm nhận được của giờ phút hiện
tại…
Đoàn
đến nơi Hương Thất của Đức Phật, hiện nay chỉ còn lại
nền bằng gạch, nơi mà xưa kia Đức Phật thường trú ngụ
qua 24 mùa Hạ và cũng từ nơi đây, nhiều bộ Kinh quan trọng
của Phật giáo đã được thuyết giảng còn lưu truyền đến
ngày nay. Nơi giữa chỗ Phật ngụ, hoa đang rải phủ ngập,
màu đỏ rực, hương thơm nhẹ nhàng vi diệu toả ra chung quanh
hoà lẫn với hoa của các cõi trời rải xuống cúng dường.
Hạnh phúc thay! Vui mừng thay! Nhưng làm sao có thể biểu lộ
được tất cả tấm lòng nầy để dâng lên Phật. Có một
mãnh lực nào đó, mà đã biết bao con người đến đây, đều
tự động đồng loạt quì xuống, chiêm ngưỡng. Đâu cần
phải có lời nói, có ngôn ngữ, nhưng sự im lặng, lắng sâu
vào trong nội tâm….thì càn khôn, vũ trụ như đã dừng lại,
nương theo tấm lòng của người con Phật, để thấy tánh
không tịch, để thấy sự cảm ứng của đạo vị không nghĩ
bàn.
Cũng
từ cõi đất nầy, đã và đang có bao nhiêu là các vị Bồ
Tát (Tòng địa dũng xuất) từ đất hiện lên để xưng tán,
để vi nhiểu, đảnh lễ Đức Phật, vị Đại Giác Ngộ đã
đem lại lợi lạc cho biết bao nhiêu con người, vạn loại
và cũng chính là để tự xác quyết vào chính mình, bước
đuờng đi của các vị Bồ Tát với tâm không thoái chuyển,
là nhân hạnh thành Phật của tương lai. Ngày xưa, có những
con người đã có mặt nơi đây, nghe Phật giảng dạy, nhận
thức được Tánh Phật nơi mình và mang tâm nguyện Bồ tát
vào đời để cùng con người dấn bước trên đuờng trở
về; nhưng ngày nay, cũng vẫn có những con người mang hoài
bảo lớn của tâm linh, không phải để phiêu lưu trong vọng
tưởng êm ái nào đó, nhưng là để chứng thực tấm lòng
của mình, của người và hoà nhập với nhau trong đường
hướng đem đạo Phật vào trong cuộc đời, chia sẻ đến
mọi con người với ước mong xoa dịu niềm đau nổi khổ..
Chung
quanh Hương Thất, còn nhiều nền các tịnh thất dù đã bị
suy hoại, tàn phá bởi con người và thời gian, nhưng vẫn
còn ghi chứng dấu vết các tịnh thất của các Ngài A Nan,
Ca Diếp, Mục Kiền Liên... là những đại đệ tử của Phật.
Nhìn cảnh vật quanh đây, chùa tháp đã suy sụp, khiến Đoàn
người hành hương không một ai là không cảm thấy bùi ngùi,
xúc động, xót xa cho sự vô thường diễn ra trước mắt,
nhưng linh khí như vẫn còn dầy đặc bao phủ khu vực nầy.
Dù thời tiết thay đổi bất thường, nhưng lòng ai nấy đều
cảm nhận niềm an lạc vô biên tràn ngập. Đoàn đã ngồi
thiền, tụng kinh và sau đó, đi kinh hành, triền nhiễu quanh
khu vực Hương Thất của Đức Phật, để quá khứ không còn,
mà chỉ là hiện tại, với tấm lòng chí thành. Trong tâm ai
cũng cảm nhận được sự an tịnh, dù có sự nhộn nhịp
đâu đây do số người quá động. Nước mắt cũng tuôn rơi,
những giọt nước mắt của hạnh phúc, của niềm vui suớng,
của pháp lạc, của hiện pháp lạc trú…
Sau
khi đi nhiễu nơi Hương Thất xong, đoàn đi dọc theo những
tháp, nền chùa chung quanh, dù đã bị suy sụp, hư hoại, để
lễ bái và chụp hình lưu niệm những khoảng thời gian tâm
linh thật đẹp.
Tiếp
đó, rời khu vườn, đoàn người thăm một ngôi Chùa nhỏ
(Buddhist Temple) nằm phía trước cổng, phía bên kia đuờng.
Khi đã lễ lạy, cúng dường xong, Đoàn được hướng dẫn
lên sân thượng để được nhìn thấy hai cái hồ nước mà
sử ghi rằng một hồ là nơi đoạ lạc của Devadatta, còn
một hồ của một nữ tín đồ ngoại đạo vu cáo, hại Đức
Phật.
Tiếp
đến thăm Tháp của Ngài Vô Nảo (Angulimala) là người đã
tin cuồng tín vào tà giáo dạy cần phải giết nhiều người
để lấy ngón tay hầu đạt đạo, nhưng khi gặp đức Phật
và dù chủ tâm hại Ngài, nhưng không thành công và đã được
Phật cảm hoá trở thành đệ tử. Còn Tháp của Truởng giả
Cấp Cô Độc thì chỉ được nhìn từ xa, không tiếp cận
được vì thời giờ eo hẹp, tranh thủ với bóng chiều gần
kề, cần khởi hành sớm cho cuộc hành trình tiếp tục. Rời
khỏi nơi đây, nhưng lòng mọi người như còn tiếc nuối
vì thực ra cũng nên đến thăm và đảnh lễ Tháp của Ngài
Cấp Cô Độc để tỏ lòng tri ân đối với Bậc Đại Thí
Chủ của Phật giáo, có công hạnh lớn khi xây dựng trụ
xứ để Đức Phật an ngụ và trao truyền giáo Pháp.
Đoạn
đường vừa vượt qua, với những pháp hữu vi được nhìn
thấy, tiếp cận như là thành quách, tháp miếu, chùa chiền
v.v…biến đổi, hư hoại theo thời gian. Những cảnh đói
nghèo, khổ sở của các người ăn xin tại mỗi nơi Thánh
tích rất là nhiều, có người bò lê lết, có những người
ốm yếu, bơ phờ, tật nguyền do cuộc sống đói kém, thiếu
thốn…nhưng may mắn cho họ là hữu duyên gặp đuợc rất
nhiều đoàn người hành hương từ khắp nơi trên thế giới,
đến chiêm bái, ngồi thiền, tu tập các Pháp chuyển tâm tại
các nơi Thánh địa nầy…do lòng từ muốn chia sẻ chút ít,
đã có giúp đở phần nào cho họ- những người xin ăn và
họ đã biết niệm Danh Hiệu Phật với nhiều ngôn ngữ khác
nhau, dù với tâm địa như thế nào, nhưng khi mà Hồng Danh
của Đức Phật một phen qua tai để nghe được, một lần
đã được niệm đến Danh Hiệu Bậc Đại Giác từ đôi môi
xưng tán, một hình ảnh trang nghiêm, giải thoát của Đức
Phật mà con người được nhìn thấy với lòng kính trọng
v.v…thì chắc chắn rằng, những ích lợi tâm linh rất lớn
sẽ chuyển đổi những nghiệp lực, nghiệp quả xấu xa và
đưa họ đến một hình tuớng đẹp, một đời sống an lành
nào đó…..
Những
hoạt cảnh vừa nêu trên, cũng nói lên hình ảnh, cõi giới
mà chúng ta đang sống với rất nhiều biến đổi, vô thường,
vô ngã, không an như Kinh thường ví dụ “ Ba cõi: Dục giới,
Sắc giới và Vô Sắc giới không an, giống như nhà lửa”.
Lửa của nghiệp lực, của phiền não, của vô minh, của sinh
già bệnh chết, khổ đau đã bao phen dằn vật lên thân phận
con người, muôn loại.. Làm sao để có thể vượt thoát ra
khỏi rừng rậm u minh nầy? Làm sao có thể chấm dứt khổ
đau và sống trong An Lạc, Giải thoát, Tự Tại…
Nhiều
tôn giáo đã cố tìm đáp án cho dòng sinh mệnh nầy, với
những giáo lý, kinh điển, triết thuyết, siêu hình v.v…và
trình bày với con người những con đuờng đi như với đức
tin, với cầu nguyện, thần phục, làm lành lánh dữ theo thiên
ý v.v..…để được cứu rổi, được đưa về một
cảnh giới hứa hẹn nào đó.
Đạo
Phật đi nguợc lại trào lưu đó, đưa con người tiếp cận,
sống với tâm, với tuệ giác của chính mình., vì Đức Phật
nhìn thấy rằng biết bao nhiêu tín lý, bao nhiêu là triết
thuyết v.v…đều đưa con người xa rời với mảnh đất của
tâm, bám víu vào những huyển ảo không phải thực của chính
mình, vì đó cũng là giả danh giả hợp. Cho nên, Đạo Phật
qua biết bao nhiêu pháp môn hành trì, tu học…đều dụng công
đem đến hay đặt lại nền tảng cho cuộc hồi sinh các giá
trị đích thực của con người- con người với những yếu
tính như si tham sân, nhưng lại là nguồn gốc của Giác ngộ
hay Giải thoát, cũng thành tựu, nở hoa từ các thành tố nầy,
như “phiền não tức bồ đề”.
Giá
trị của cuộc tái sinh thành con người nhân bản, thánh thiện
không phải là những danh từ hoa mỹ, hay triết lý suông, hình
dung từ của Đức Phật, nhưng là bản chất, là sự sống,
là chất Phật của chính mình, của mỗi giây phút, mỗi sát
na, trên từng bước chân hiện sinh, do từ mỗi một sự chuyển
hoá tâm…ví như hoa sen ( padma) vươn lên từ bùn nhơ, uế
nhiễm nhưng lại mang đầy đủ các bản chất như tánh không
nhiễm nhơ, tánh làm thanh tịnh, trong sạch, cải hoá chung quanh,
tánh mang hương sắc diệu hiền, cao thưọng, thanh thoát…nhưng
tất cả các bản chất trên lại thể nhập lại thành một
hoa sen.
Vẫn
con đường xưa đó
Có
hàng cây che bóng mát
Có
gió vui chơi, mang cánh diều bay bỗng
Thôi
xin trả lại màu thời gian ươm mộng
trả
lại mắt môi gửi bến vô thường
trả
lại mùi hương không mang hương vị
để
dòng sông tánh giác mở lối con thuyền
chở
bình minh dọc đời ảo mộng
con
đường trở về, trăng mở hội như xưa
thuyền
ơi, dừng lại trên bờ tâm nhỏ
chở
hết vầng trăng buổi sớm mai
nghe
trong hơi gió, cơn mưa pháp
chợt
thấy đôi môi nở nụ cười….
Minh Thanh
Cuộc
đời của Đức Phật vẫn là một gương lành, là bài ca siêu
thoát, là một tác phẩm tâm linh không thể nào diển tả hết
được chiều sâu vô tận, nhưng chỉ khi nào tâm trở về
tâm, ta sẽ cảm nhận và sống thực chan hoà với vùng trời
bao la, thanh thoát nầy.. Đó không phải là một huyền thoại,
một biểu tượng vô hồn, nhưng là cả một tâm hồn bao dung
cao cả, rực ngời của tâm đại từ bi và tuệ giác như ánh
sáng vô lượng, không gì so sánh, không thể nghỉ bàn, vi diệu,
trải dài theo tánh tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn..
Đức Phật là con người, nhìn thấy sanh già bệnh chết, nhìn
thấy nghiệp báo đeo dai dẳng trên thân phận con người, nhìn
thấy vòng mắc xích ràng buộc con người trong các cảnh giới,
sanh tử tử sanh v.v…Ngài đã lập nguyện lớn, tu hành và
chứng quả Giác Ngộ Vô Thượng và Ngài đã đem tất cả
những gì qua Giáo Pháp mầu nhiệm để giảng dạy, có thể
giúp cho chúng sinh nếu tu theo, chuyển hoá tâm, sẽ đạt được
Giác ngộ như Ngài. Sở dĩ nói Giáo Pháp của Đạo Phật là
nhân bản đúng nghĩa, vì đến từ con người, vì con người,
con người của đau khổ đã chuyến hoá tâm, đạt không
tánh, chứng nhập Chân Như và là một Giáo Pháp Như Thật.
Là
một hữu tình với tất cả những yếu tố cấu tạo nên
con người: Bảy pháp trói tâm (thất tình), Sáu đường tham
muốn (lục dục), lại bao gồm các nhân duyên như địa-thủy-hoả-phong-không-thức-thời-phương,
phối hợp cùng năm uẩn như sắc- thọ- tưởng- hành- thức
cộng với dòng nghiệp thức, chúng ta đã có một sinh mạng
giả hợp để hiện hữu, để sinh tồn. Mặc dù không có
thể biết đuợc nơi nào chôn dấu niềm đau, nổi khổ, dù
là dục giới, sắc giới hay vô sắc giới, nhưng chúng ta biết
mình có niềm đau nổi khổ, đến từ vọng niệm, vô minh,
tham chấp và từ những nhân dù tốt hay xấu, dù thiện hay
ác, sinh ra những quả và từ quả lại trở thành nhân, để
rồi tạo ra bao nhiêu hệ lụy, phiền não, đưa đến đau khổ
hay hạnh phúc dù tái sinh ở bất cứ nơi nào, sẽ có nhân
quả tương ứng.” Nhân địa dụng công, quả địa liền
theo như hình với bóng”, trừ khi bước chân của tâm dừng
lại.
Bàng
bạc trong sự chấp trước, lấm tấm bụi trần, từng hạt
sỏi, hạt cát, từng cây cỏ, từng giọt nước, sương rơi,
dòng suối chảy hiền hoà, biển cả bao la, núi non trùng điệp,
trời đất trong thế giới hũu tận v.v..vẫn chứa đựng trong
chiều sâu, có trùng trùng nổi đau xót, bất an, phiền muộn
và tâm như vậy, thì cảnh cũng tùy thuộc, sinh hoá như vậy.
Chúng
ta có đôi mắt thịt, mắt trần gian để nhìn sự vật, trước
mặt, chung quanh, nhưng chỉ giới hạn trong một khoảng cách
nào đó. Nhưng, chúng ta cũng có con mắt pháp- tuệ nhãn- nhìn
rõ nhân duyên cấu tạo của các pháp, tường tận, soi sáng
con đường đi, để thoát ra khỏi tham chấp, đi đúng theo
chân lý, vì con mắt pháp rộng rãi, sáng suốt được đến
từ sự tu tập, quán chiếu của nội tâm, thấy được chân
tánh, chân tướng.
Trong
Kinh Giáo Giới Channa, đọc đoạn Tôn giả Sàriputta nói lời
giáo giới: “Do vậy, này Hiền giả Channa, lời dạy này của
Thế Tôn cần được tác ý: Ai có chấp trước là có dao động.
Ai không chấp trước thì không dao động. Không dao động thì
khinh an. Có khinh an thì không hy cầu; không hy cầu thì không
khứ lai; không khứ lai thì không tử sinh; không tử sinh thì
không có đời này, đời sau, không có giữa hai đời. Như
vậy là đoạn tận khổ đau”.
May
mắn cho chúng ta, khi có lòng thâm tín đối với Đức Phật
và với giáo Pháp của Ngài mà chúng ta học và tu học được,
làm tâm chính mình dụng công đi vào nguồn sung mãn pháp lạc,
pháp hỷ, pháp an, pháp tự tại.
Chúng
ta đã đi qua từng chặng đường để trở về với Tánh giác,
theo lộ trình của Bảy Phần Giác Ngộ ( Bojjhanga) như đã
từng phần trình bày, minh chứng…để bước đi trong sự
An Lạc (Passadhi).
Theo
định nghĩa Passadhi ( An) gồm toàn thể các tâm sở, có hai
phần: thân và tâm. Thân an (kàya passadhi ) như sự an tĩnh của
thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và tâm an (citta passadhi) như
sự an tĩnh của thức uẩn.
Tất
cả những tâm sở từ lâu đã khuấy động, lôi kéo con người
khi tâm bất an, tạo nên các sóng thần nghiệp báo, hứng chịu
và trải qua bao nhiêu là con đường dù thiện hay ác, chồng
chất thêm gánh năng nghiệp lực trên đôi vai giải dầu mưa
nắng, gió sương.
Giáo
Pháp của Đức Phật như kéo lại cái tâm buông lung, chao đảo,
đem tâm trở về thân. Tâm không an trụ, cuộc đời sẽ mãi
triền miên trong đau khổ, vì lấy cảnh làm thật, lấy vô
thường làm hiện hữu, lấy vọng niệm làm pháp chấp. Chỉ
có sự chuyển y qua sự tu tập, quán chiếu, kéo dạt qua đám
mây mờ che phủ ánh trăng để trăng soi tỏ, trăng chiếu sáng
rạng ngời, trăng mở không gian rộng thênh thang trên bầu
trời tánh giác. Đèn tuệ là đây, ánh sáng quang minh là đây,
được vực dậy từ trong những phiền não, nhận chân, chuyển
hoá toàn vẹn tâm thức được cấu tạo bởi dục vọng, tham
ái, chấp thủ.
Đạo
Phật đưa con người trở về với chính mình, khơi sáng tánh
giác tự tâm, để trưởng thành, để nhận chân được cuộc
đời, buông rơi gánh nặng đã đeo trên thân qua biết bao nhiêu
là cuộc bễ dâu, bao nhiêu là vòng lẫn quẩn tử sinh sinh
tử. Từ tánh giác sẽ là ngọn đuốc giải hoặc bóng tối,
gở rối những kiết sử ( sợi dây trói buộc, xui khiến)-
là những nhận thức sai lầm về thực tại, làm khuấy động
thân và tâm trong vọng niệm và loại trừ những chấp trước
như những nhận thức sai lầm về thân ( thân kiến sử), nhận
thức thiên lệch về một bên (biên kiến sử), nhận thức
mê mờ, sai lạc ( tà kiến sử), chấp chặt những gì mình
cho là đúng (kiến thủ sử), sai lầm về giới như giới nào
là đúng, là sai (giới thủ sử) v.v…và nhận thức rõ đúng
bản chất của mọi hiện hữu đều bị ràng buộc lẫn nhau
để thành hình, có mặt do bốn duyên giao kết như: nhân duyên,
sở duyên, tăng thượng duyên, đẳng vô gián duyên.
Rõ
đuờng đi, hiểu được chất tố của pháp dược đã được
Đức Phật- một vị Lương Y đầy từ bi hỷ xã và Đại
giác, chúng ta sẽ không còn nô lệ, dù nô lệ cho bất cứ
những gì đã đè nặng nội tâm, trên thân phận con người,
dù đó thần quyền hay đấng nầy đấng nọ. Bởi vì tất
cả mọi cảnh giới như trời, người. a-tu-la. đia ngục, ngạ
quỉ, súc sinh hay trờ thành các Bậc Thánh nhân v.v..đều được
tạo thành do con người qua sự chiêu cảm của nghiệp lực
hay do sự dụng công tu hành.
Nhìn
xuyên suốt lại những chặng đường đã qua, từ lúc khởi
hành, nay đến được chiêm bái nơi Tịnh xá Kỳ Viên, những
hình ảnh của pháp như trải dài theo bước chân đi, cũng
như bước đi dò dẫm vào cuộc đời qua bao nhiêu biến thiên
của đời sống, của xã hội. Chúng ta đã trang bị cho mình
nguồn mạch tâm linh của Phật giáo để làm thăng hoa cuộc
sống, hoá giải mọi biến động của nội tâm, tự tại trong
những hành vi và suy tưởng.
Giữa
cuộc sống hiện tại, hạnh phúc cho chúng ta là có đầy đủ
mọi phương tiện như Kinh sách, Luân giải, truyền thanh, truyền
hình, Internet, các trang nhà Phật giáo, kể thật là phong phú,
vô biên.. để chúng ta tiếp cận, học hỏi, tạo tư lương
tâm linh, tu học và từ đó, có thể dấn thân vào cuộc hành
trình trở về tâm linh. Các pháp tu mà Chư Phật, chư Tổ v.v…đã
.phương tiện trao truyền lại, đưa con người đến Nhất
Thừa là Phật thừa, là thành Bậc Tỉnh Thức, có rất nhiều,
rất nhiều.
Chúng
ta có Thiền với Thiền Giáo đồng hành, hoặc “ bất dụng
văn tự” hay các phương pháp Thiền như Thiền Minh Sát ( Vipassana)
v.v…thấy “ đương thể tức không”, nhập được Tánh
không, đi vào Chân tánh.
Có
Pháp môn Niệm Phật với Tín Hạnh Nguyện để tạo thành
Cảnh giới Cực Lạc ngay trong đời hiện tại, Cực Lạc Tự
tâm, qua sự dung thông, viên định của niệm Phật Tam Muội,
biết được đuờng về.
Có
Mật giáo với cuộc “ du hí thần thông” qua Tam Mật Tuơng
Ưng, thể nhập vào Như Lai Đại Nhật hay Bổn Tôn, tức Phật
Tâm và mọi diệu dụng đều “ tùy sở đắc vật hay tùy
tâm thị hiện”
Đâu
là sự sai biệt giữa các Pháp môn của Đức Phật hay tất
cả chỉ là phương tiện như “tám vạn bốn ngàn pháp môn”
khác, đưa người đến bờ Giác. Quan trọng là chúng ta có
thực tu hay không, và các “phương tiên thiện xảo” đó
được ứng dụng tùy theo “khế cơ khế lý” của chúng
ta. Không có một công thức cố định nào cho các pháp môn,
không có một phương thuốc duy nhất nào cho các bệnh nhân,
nhất là tâm bệnh. Nếu có một công thức giải thoát chung
cho tất cả mọi người để thành Phật, thành Bồ Tát…thì
Đức Phật không cần phải hành hoạt trên bốn chín năm trời
để giáo hoá chúng sanh và các pháp tu của Đạo Phật không
bao la, rộng lớn, uyên thâm như hiện nay để tùy căn cơ chúng
sinh mà thích ứng.
Phật
thường dạy rằng:” Không có một pháp nhất định gọi
là pháp, tức là pháp để tu hành = Vô hữu định pháp danh
A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề”. Chỉ biết rằng,
nếu chúng ta thực sự tìm đến Đạo Phật để thực tập
tu học, thiền, niệm Phật, hay nhập đàn trì chơn ngôn, nếu
tinh tấn, miên mật, tâm không thoái chuyển, quả vị Giải
Thoát dù chưa đạt đưọc trong hiện đời, nhưng trong đời
sống đã có những biến chuyển tốt đẹp.
Như
trong từng lời nói tâm tình nơi đây, dù là dùng văn tự
trần tục, muợn cảnh nói tâm, nói đến chiều sâu của Chân
Như và có sự giới hạn của văn tự sống, vì người viết
chỉ là một người đang tu tập, sơ cơ, nhưng có phải nơi
những dòng chữ nầy có hương thơm của Thiền, có sự hành
hoạt diệu dụng của tâm; có cảnh giới Cực Lạc dù không
có Trì niệm Danh hiệu Phật, hay là có sự dung thông, gia trì
của Bản Tánh Đại Nhật trong Mật giáo?
Đã
biết bao nhiêu lần, chúng ta cố đem tâm ra để trình bày
cho Tổ để được an tâm, vì tâm hồn quá đau khổ trong nghiệp
lực đẩy đưa và chúng ta muốn vưọt thoát qua. Dù nhìn lại
mình, nhìn lại Tâm để đưa ra, nhưng khi quán chiếu lại,
không thấy tâm ở đâu, băn khoăn, rối rắm, sợ hãi….nhưng
rồi vẫn theo lối cũ đường xưa, ôm lại cái tâm vọng niệm,
thấy nhân, thấy ngã, thấy chúng sinh, thấy thọ giả, bỏ
rơi cuộc trùng phùng kỳ diệu với chân tâm.
Tất
cả pháp môn của Đức Phật không ngoài “ Giới Định Tuệ”
và “ Tâm Đại Từ Bi”, đây là pháp môn dung thông tất
cả mọi triết thuyết, mọi triết lý, tư tuởng, tôn giáo
v.v..trên thế giới, vì nếu không thấm nhuần, thực tu theo
pháp môn nầy hay thiếu “Giới Định Tuệ và Tâm Đại Từ
Bi” thì rất là nguy hiểm cho mình, cho môi trường chung quanh,
cho xã hội, cho nhân loại, vì tất cả mọi đối tác, hành
động sẽ đều mang dáng dấp của si tham sân, ái ngã và chấp
trước.
Như
chúng ta được nghe nói:” Nếu bộ áo cà sao có thể làm
cho con người giải thoát khỏi khổ đau, sinh tử, thì chúng
ta cứ việc phủ cho đứa bé khi mới chào đời”, nhưng không
bao giờ được, vì không một ai có thể giải thoát cho ai.
Vì thế, Đạo Phật chú trọng sự tu hay sự dụng công tu
tập. Chuyển hoá tâm, tức chuyển hoá toàn bộ tâm thức,
tâm sẽ an định. Tất cả mọi suy tưởng, mọi hành trạng,
mọi dụng công, mọi đối tác v.v…nếu đến từ tâm an,
thì diệu dụng sẽ vô cùng, vì chúng ta đã tạo được Công
Đức chân thật là nhập vào Pháp Thân, do dụng công, do tâm
bình đẳng và do miên mật trong tánh giác như lời của Ngài
Huệ Năng dạy.
Bạn
ạ! Chúng ta hãy dành ra một phút giây nào đó của một ngày,
để nhìn lên bầu trời, nhìn thiên nhiên, vạn vật có mặt
chung quanh, vì tất cả mọi vật mà ta có thể nhìn thấy bên
ngoài- gần xa, hoặc suy tư đến hoặc giả khi quán chiếu
lại mình v.v..đều đồng thời hiện hữu, kỳ diệu. Vạn
hữu vừa có mặt, vừa biến đổi, vừa tương duyên lẫn
nhau, vô thường. Không gian, thời gian, pháp giới có lúc là
vô cùng tận, nhưng qui lại chỉ là một niệm, vô niệm.
Vô
tình, bắt gặp một hạt sương rơi còn bám trên một nhánh
dây, lung linh trước gió. Trong giọt sương ẩn chứa biết
bao nhiêu là bài pháp, tùy người cảm nhận. Pháp của tương
duyên tương sanh, pháp của không thời gian, pháp cùa sự im
lặng trong im lặng, khi tâm trở về tâm.
Tôi
đã bắt gặp câu kệ nầy từ lâu rồi, nhưng mỗi lần chiêm
nghiệm về cuộc đời qua bao nổi thăng trầm, vinh nhục v.v.
lại càng cảm thấy bức xúc và thấu hiểu được chiều
sâu của lý vô thường.
Tuy
nhiên, vì hiện hữu là một con người, tôi phải sống và
làm tất cả những gì mà con người cần làm, một cách hợp
tình hợp lý, chính danh, để cho chính mình có cuộc sống
ý nghĩa và để lại chút gì đó, có hơi hướm của hương
trầm cho cuộc đời. Vẫn biết rằng, tất cả mọi pháp đều
sanh diệt, biến hoại…và thân mạng con người là vô giá;
nhưng để có được một chút tư lương mà tôi hằng ôm ấp,
nuôi dưỡng và sống với, có thể không quan trọng đối với
bạn, nhưng với tôi lại là tấm lòng chân chất, dấn thân.
Tôi
có gia đình và có những đứa con, nên phải sống một cách
tốt đẹp, vì tôi, vì các con, vì cuộc đời, vì xã hội…để
có món quà tốt đẹp lưu lại cho các con. Là người cha, là
người Phật tử mang một ít hạt giống Phật mà mình nhận
thức và với bao nhiêu năm ươm mầm, tưới tẩm….tôi hiểu
được sự đau khổ của các con khi sống trong một gia đình
mà cha mẹ bất hòa, xáo trộn, gây cấn. Hạnh phúc quá đơn
giản như khi tình thương được chan hoà, chia sẻ trong gia
đình, dù gì với bất cứ lý do gì. Ánh mắt của hạnh phúc,
của yêu thương… như ngọn lửa đốt cháy tất cả mọi
dị biệt, thành kiến, chia rẻ trong gia đình, xã hội, vì
biết rằng : Sự đau khổ của người cũng chính là sự xót
xa, bầm dập của mình.
Đạo
Phật đã cho tôi quá nhiều lợi lạc, an vui…qua sự thực
hành giáo Pháp của Ngài và qua sự sống lục hoà với chính
mình, với gia đình và với môi trường chung quanh. Từ đó,
tôi hiểu rằng lý do vì sao mà Đạo Phật ngày càng phát triển
ở mọi nơi, từ quốc gia này đến quốc gia khác, mọi chân
trời; bởi vì Đạo Phật mang tinh thần nhân bản, phóng
khoáng, hoà bình và thực dụng. Tất cả chất liệu sống
nầy đến từ một con người bình thường, nhưng là bậc
Đại Tỉnh Thức vượt lên trên tất cả những uế nhiễm,
vô minh. Như Kinh Pháp Hoa nói:” Như Lai toà giả, nhất thiết
pháp không thị”. Sự bình dị, chân chất, tự tại của
Đức Phật không phải vì vũ khí hay biểu dương sức mạnh
nào, nhưng lại ảnh hưởng vô cùng đến muôn loài, nên đem
lòng quí trọng, không phải chỉ từ thưở trước, mà còn
lan rộng đến hôm nay và mãi mãi sau nầy.
Tôi
hiểu là làm sao mà tôi trở thành Phật tử, là đệ tử của
Đấng Giác Ngộ, vì Ngài đã chỉ cho tôi cách sống Hạnh
Phúc thực sự, cách trở về lại chính mình, cách để trở
thành người thanh thoát, sống trong tâm Phật và trong tiến
trình thành người tỉnh thức toàn vẹn. Mở không gian của
tâm rộng lớn, để mang tâm nguyện bao la..
Tâm
an thì tư tưởng ổn định, tâm sẽ sáng suốt, bình thản
trước các pháp để có cái nhìn chân thật, là nền tảng
vững chắc để kiến thiết và chia sẻ nổi đau của xã hội,
của con người, dù ở bất cứ đâu…Nghĩ đến thân mạng
con người khó được, nên rất quí trọng và ráng dung nó
để tu đức cho có công, để tánh đức ngày càng sáng, hiện
rõ.
Khi
quán sát thấy năm uẩn đều không, tự thấy mình và muôn
loài đều cùng thể tánh, tánh Phật và từ đó, nhận ra rằng
vạn hữu đều mang ân nặng lẫn nhau do các pháp hiện hữu
tương duyên tương sinh, không tồn tại biệt lập...
Những
tin tức về những biến động của đất nước Tây Tạng
đã làm tâm hồn tôi đau xót, đã có những người chết,
có tiếng nói kêu gọi Hoà bình, tôn trọng thân phận con người.
Đất nước Tây Tạng nhỏ bé, dân số ít, không tài nguyên
thiên nhiên như nhiên liệu v.v…Người tu nhiều hơn là người
thường, tôn giáo và đời sống thường tục dung hoà và có
nền văn hoá tâm linh cao vời vợi, đó là giá trị cao đẹp,
ích lợi cho con người hiện nay trong cơn bối rối, dầu sôi
lửa bỏng của xã hội, trái đất….Tôi đã chắp đôi tay
lại, dâng lên Đức Phật lời cầu nguyện cho những giá trị
con người mãi luôn tồn tại.
chiếc
áo cà sa loang máu
đôi
vai trần gánh nặng lòng từ
trước
bão tố hận thù trút xuống
trước
sắc thép vung lên
này
người ơi ! dã tâm sẽ không tồn tại
bạo
lực sao chịu nổi trước tâm người
có
đổ xuống muôn ngàn vũ khí
có
hung hăng dập nát thân nầy
có
nhiều người ngã gục
có
máu tràn ngập phố phường
nhưng
chúng tôi không oán thù
chúng
tôi không chống trả
nhưng
hỏi rằng, làm sao người trả lời với luơng tâm
làm
sao trả lời với loài người
chúng
tôi có quyền sống
với
giáo pháp từ bi đơm hoa nở tình người
với
trí tuệ rạng ngời dắt người qua nẻo tối
chúng
ta là con người
nào
phải là dã thú
nào
phải là kẻ thù
nào
phải là người xa lạ
xin
mở vòng tay để là biển rộng
xin
mở tâm hồn để vũ trụ bao la
Trăm
năm rồi khép lại
một
cuộc đời rồi qua
tôi
xin chắp tay lại
xin
tặng người những búp sen non….
Minh Thanh
Chúng
ta cũng nhìn thấy bao thảm cảnh xẩy ra trên thế giới, trong
ngôi nhà bé nhỏ của hành tinh mà mọi loài đang sinh sống,
vẫn còn bạo lực, hận thù tràn đầy và chúng ta phải làm
sao ? Tâm an đã cho chúng ta có sự sáng suốt, nhìn thấu rõ
nguồn cơn của căn nhà lửa nầy và mong rằng ai nấy đều
thức tĩnh. Hãy sống như đoá hoa sen thơm, ngoi lên từ bùn
nhơ, vươn khỏi phiền não, uế trược, và để ngày ra đi,
chúng ta vẫn còn lưu lại những hạt sen để kết thành những
xâu chuổi tâm linh, dù nhỏ nhoi, khiêm tốn, nhưng mang lại
ích lợi cho mọi người muốn dụng công tu học, muốn chuyển
hoá tâm minh, để tâm trở về thân, trở về lại tâm sáng
suốt mầu nhiệm và làm lợi lạc cho mình, cho người. Tôi
không biết rằng : Đây có phải là Pháp Bố Thí vi diệu không
?
Khi
muôn loài đau khổ
Tâm
bồ tát mở lòng
Có
thể là áo ấm che sương gió
Là
ánh mặt trời tan bóng màn đêm
Là
áng mây xanh toả dịu tình thương
Là
vòng tay ấm áp bao dung
Là
chiếc lá vàng rơi phủ lên oán giận
Là
giọt mưa nhẹ bay dập tắt lửa hận thù
Là
cánh trắng bồ câu mở rộng
để
nói cho mọi người rõ, lời chân tình
trái
đất nầy cần có tình thương
trẻ
em cần học, người già cần săn sóc
mọi
người đều được đủ ăn, đủ mặc
tiếng
ê a trẻ học thay cho bom đạn
hồi
chuông khuya bừng sáng tâm người
đời
vẫn trôi qua, tham tàn còn đó
bao
con người mang nhu hoà, nhẫn nhục vẫn bước đi
vì
loài người, vì đồng loại, mong nước mắt ngừng rơi….
Minh Thanh
Chúng
ta đi nhặt dấu thời gian của quá khứ để làm hiện tại,
để chụp một quảng thời gian nào đó đưa vào ký ức, rất
đẹp, rất nên thơ. Nhưng thời gian chỉ là ảo hoá, hư không
sẽ có ngày tận, nhưng bước chân của chúng ta sẽ ra sao,
có làm nên những thần thông đơn giản là sự An Lạc trong
từng sát na một hay không ? Tôi được Thầy Tổ dạy rằng,
đừng tìm đâu xa cái Hạnh Phúc Chân Thực, đừng lao vào
những ảo vọng mông lung….chỉ những bước chân ngay bây
giờ, nơi đất với hơi thở bình thường, Đức Phật đã
có ở trước mặt, ở đây và ở trong tâm chúng ta.
Bạn
nghĩ sao, vì đó là điều mà tôi kính xin được chia sẻ cùng
với mọi người, trong tâm tình của người con Phật, để
chúng ta cùng tìm đáp án cho vấn nạn của con người.
Viết
xong ngày sinh nhật 21.04.2008
04-28-2008
11:24:56