TÌM HIỂU
VỀ HIỆN TƯỢNG LÂM TỲ NI
Thích
Nguyên Hiền
Sự
ra đời của Đức Phật nghiễm nhiên đã trở thành sự kiện
quan trọng nhất trong suốt mấy ngàn năm tư tưởng Đông phương.
Hiện tượng Lâm-tỳ-ni, chính vì thế, đã trở thành một
hiện tượng đặc sắc đáng để mọi người nghiên cứu
Phật học quan tâm. Trải qua hơn 2500 năm phát triển của Phật
giáo, lịch sử và huyền thoại cứ quyện chặt và bao trùm
bầu không khí Kapilavastu. Sự ra đời của đấng Giáo chủ
có giao hòa một ít sương mờ của bình minh tư tưởng Vệ-đà,
một ít cây lá của nền trời nghệ thuật Trung Hoa, cùng với
hương hoa bất tuyệt của niềm tin tín đồ, đệ tử đối
với bậc Vô thượng Pháp vương.
Hình
ảnh Thái tử Tất-đạt-đa, một tay chỉ trời, một tay chỉ
đất, kiễng gót trên bảy đóa hoa sen; hình ảnh một Hoàng
hậu Ma-da đưa tay nâng đóa Vô-ưu giữa sự vi nhiễu của
chư thiên Phạm Đế; hình ảnh một vị tiên A-tư-đà phủ
phục chiêm ngưỡng 32 tướng trượng phu …, tất cả đã
tạo thành một họa phẩm vĩ đại nhất vẽ nên một chân
lý, một huyền thoại uyên nguyên về cả Hình nhi thượng
lẫn Hình nhi hạ trong Nhân sinh quan và Vũ trụ quan Phật giáo.
Từ
thuở nhỏ theo chân mẹ đến chùa, khung cảnh vườn Lâm-tỳ-ni
nhân tạo đã làm cho bản thân người viết bài này vô cùng
cảm kích, và đó cũng là một trong những nhân duyên lớn
giúp bản thân xuất gia đầu Phật sau này. Từ đó đến nay
đã bao mùa Phật đản, bao lần được chiêm ngưỡng cảnh
trí huyền thoại của Lâm-tỳ-ni qua những bức họa của các
họa sĩ lẫn những phối cảnh của các nghệ nhân trong các
tự viện, thế mà mãi đến nay, hiện tượng Lâm-tỳ-ni vẫn
là một khái niệm mơ hồ trong lòng kẻ hậu học này. Tại
sao lại bước đi trên bảy đóa sen ? Tại sao nói : "Thiên
thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" ? Có đúng là Thái tử
sanh ra từ hông bên phải của Hoàng hậu Ma-da ? v.v… Những
ẩn dụ hay sự thật hiển bày ? Truyền thuyết ấy là của
Nam Tạng hay Bắc Tạng ? Ấn Độ hay Trung Hoa ? Luận thuyết
ấy là từ Nguyên thủy hay sau này ? Của Bộ phái hay Phát
triển ? Tất cả những câu hỏi ấy luôn thôi thúc bản thân
tìm hiểu.
Thế
rồi, càng lạc vào rừng điển tịch người viết càng hoang
mang, càng thấy hiện tượng Lâm-tỳ-ni là một bức màn không
thể vén lên hết được. Thôi thì, xin góp nhặt những tài
liệu đây đó, một vài ghi nhận chủ quan, tìm hiểu về hiện
tượng ra đời của Đức Phật 2500 năm trước.
1.
LÂM TỲ NI – SỰ THẬT LỊCH SỬ
Nói
đến lịch sử, chúng ta chỉ còn biết khảo sát một cách
khoa học dựa trên những di chỉ còn lại đến ngày nay. Trải
qua hơn 2500 năm, chắc chắn mọi sự đã thay đổi hoàn toàn.
Vì thế, dẫu công tâm đến thế nào, người ta cũng dễ dàng
rơi vào sự ức đoán hoặc phô diễn theo nhãn quan của mình,
không thể tránh khỏi sự nhầm lẫn, đôi lúc làm sai sự
thật.
Lâm-tỳ-ni
(Phạn, Pàli : Lumbini - nay là Rumindai), được người Trung Hoa
dịch là Hoa quả đẳng thắng diệu sự cụ túc, Lạc thắng
viên quang giải thoát xứ, Khả ái, Hoa hương, Đoạn, Diệt,
Diêm…, là khu vườn hoa nằm giữa Câu-lợi (Kol啕a) và Ca-tỳ-la-vệ
(Kapilavastu) thuộc Trung Ấn độ, vốn do Hoàng hậu Lâm-tỳ-ni
của vua Thiện Giác (Phạn : Suprabudha) thiết lập. Khu vườn
này có một thời gian lâu dài bị hoang phế. Mãi đến năm
1896, các nhà khảo cổ khai quật và phát hiện trụ đá của
vua A-dục (Asoka) mới biết đây là Thánh địa, nơi đản sanh
Đức Thích Tôn.
Theo
THE HISTORICAL BUDHA của H.W. Schumann, một học giả người Đức,
thạch trụ do vua A-dục dựng vào năm 245 trước CN, cao 6, 5
m. trên thạch trụ có lời ghi :
"Hai
mươi lăm năm sau khi lên ngôi, quốc vương Devànampiya Piyadasi
(Thiên Ái Thiện Kiến, tức A-dục) ngự đến đây chiêm bái,
vì Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, bậc hiền nhân của bộ tộc
Thích-ca, đã đản sanh tại đây. Nhà vua ban lệnh khắc 1 tượng
bằng đá (?) và dựng một thạch trụ. Ngài miễn thuế đất
ở làng Lumbini và giảm thuế hoa lợi từ 젴heo lệ thường
xuống 1/8". (ĐỨC PHẬT LỊCH SỬ , bản dịch của Trần Phương
Lan, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1997, trang 38 - 39.)
Đây
là một phát hiện di vật sớm nhất còn lại đến ngày nay,
và đoạn văn khắc trên trụ đá này có thể được xem là
"bản khai sanh" của Thái tử Tất-đạt-đa. Còn một phiến
đá có lẽ xuất hiện vào khoảng thế kỷ II TL, được tìm
ra ở Lumbini và được lưu trữ tại một ngôi chùa nhỏ địa
phương. Phiến đá cho thấy Hoàng hậu Ma-da sanh Hoàng tử trong
lúc đang đứng vịn cành cây Sàla (tên khoa học là Shorea Robusta).
Các học giả Tây phương hiện đại cũng khảo cứu kỹ lưỡng
khu vườn nổi tiếng này. Theo CUNINGHAM’S ANCIENT GEOGRAPHY OF
INDIA (S.N. Majundar), di tích vườn Lâm-tỳ-ni hiện nay còn một
khu đất có chiều dài khoảng 30m, chiều rộng khoảng 20m,
có ao tắm hình vuông và ngôi nhà bằng gạch, đây là nhà
thờ Lỗ-mục-mễ-điệt (?), vách bên trong chánh điện có
khắc tượng phu nhân Ma-da bằng đá, được suy đoán là tác
phẩm vào thời đại vương triều Cấp-đa (Guppta) hoặc sau
đó.
Về
Hoàng hậu Màyà và dòng dõi của bà cũng đã được các nhà
khảo cứu truy nguyên kỹ lưỡng, tưởng không cần phải kê
ra dài dòng ở đây. Việc làm của các nhà khảo cứu trên
tinh thần khoa học là đáng trân trọng. Tuy nhiên, do không
được hun đúc trong tinh thần truyền thống và do sự khách
quan quá mức cần thiết, cách nhận định của các nhà khảo
cổ đôi lúc cũng đi quá xa, lệch lạc đối với kinh văn
và suy luận thực tế. Chẳng hạn H. W. Schumann, trong phần
khảo sát "Nguồn gốc Thái tử Sìddhattha và sự đản sanh
của Ngài", có đoạn viết :
" …
Hoàng hậu Màyà đã 40 tuổi, ngay trước thời kỳ lâm sản
đã lên đường trở về quê song thân ở Devadaha để sanh
con và nhờ mẫu thân Yasodharà bảo dưỡng. Cuộc hành trình
bằng xe ngựa hay xe bò cọc cạch lắc lư trên những con đường
đất bụi nóng bức khiến cho việc lâm sản xảy ra sớm trước
khi về đến Devadaha. Gần làng Lumbini giữa trời không có
nhà cửa che chở, chỉ có được tàng cây Sa-la và cũng không
có thầy thuốc nào lo việc hộ sản, Hoàng tử ấu nhi Sìddhattha
sanh ra đời vào khảng tháng 5, năm 563 trước CN." … (ĐỨC
PHẬT LỊCH SỬ , bản dịch của Trần Phương Lan, Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam, 1997, trang 38.)
Tư
liệu do H. W. Schumann khảo cứu quả không có gì khác với
kinh văn là mấy. Song với cách trình bày chủ quan như "…
xe ngựa hay xe bò cọc cạch lắc lư trên những con đường
đất bụi nóng bức khiến cho việc lâm sản xảy ra sớm…",
hay "không có nhà cửa che chở", "cũng không có thầy thuốc
lo việc hộ sản" … khiến người đọc có cảm giác Thái
tử bị sanh ra trong một hoàn cảnh bất đắc dĩ, hoàn toàn
không hợp lý với một vị Vương tử của một vương triều
đang thịnh trị.
Dẫu
sao, việc Thái tử Tất-đạt-đa do Hoàng hậu Ma-da đản sanh
dưới tàng cây Vô-ưu tại vườn Lâm-tỳ-ni là một sự thật
lịch sử đã được xác nhận. Còn những chi tiết quan trọng
khác nói trong kinh văn thì không thể khảo chứng. Đối với
sự ra đời của một vĩ nhân, thường thường người ta hay
xây dựng thêm những yếu tố cần thiết để tạo sự khác
biệt với người thường, đồng thời cũng phù hợp với
quan niệm của người Đông phương. Có những con vật thiêng
như rồng, kỳ lân …, người thường chẳng bao giờ thấy,
nhưng người ta vẫn tin nó một cách tuyệt đối mà chẳng
hề nghi vấn. Đây là điểm mà người nghiên cứu cần phải
bước qua lịch sử để vói đến một giá trị khác khi tìm
hiểu huyền học Đông phương. Nếu không như thế, người
viết sử chỉ là những anh hề trên sân khấu lịch sử mà
thôi.
2.
Những dị đồng trong các điển tịch viết về hiện tượng
Lâm-tỳ-ni
Để
có một cái nhìn khái quát về toàn bộ hiện tượng Lâm-tỳ-ni,
thiết tưởng cần phải đọc nhiều điển tịch của các
tông phái Phật giáo trong nhiều thời kỳ mới có thể có
một cái nhìn đúng đắn được. Bản thân người viết bài
này không có khả năng đọc các kinh điển Pàli, chỉ biết
dựa trên những bản dịch Nikàya của HT. Minh Châu (Hầu hết
các kinh do HT. Minh Châu dịch đều dùng bản Pàli Text Society,
London, do Hội Kinh Tạng Pàli, Luân Đôn xuất bản.) để tìm
hiểu Nam Tạng. Còn Bắc Tạng, chúng tôi dùng bản Hán dịch
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Ngoài ra chúng tôi còn khảo
cứu thêm ở một số bản Việt dịch các tác phẩm của các
học giả Anh, Đức, Nhật, Trung Quốc.
Thật
là vô cùng khó khăn cho người tìm hiểu khi lịch sử Đức
Phật được các bộ phái qua các thời đại trình bày hoàn
toàn không giống nhau, nhất là về niên đại và truyền thuyết.
Tuy nhiên, về ý nghĩa và nội dung, hiện tượng Lâm-tỳ-ni
lại hoàn toàn xuyên suốt từ Nam Tạng đến Bắc Tạng. Đó
là điểm cực kỳ quan trọng giúp người viết có đủ niềm
tin để tìm hiểu một cách thành kính.
Về
sự khác nhau giữa các điển tịch, chúng ta dễ dàng đả
thông khi hiểu được tính phức hợp trong sự hình thành các
kinh điển. Sau khi Đức Phật nhập diệt, các đệ tử đã
thực hiện đúng lời di chúc của Ngài là lấy pháp làm nơi
nương tựa. Do đó, việc kết tập các giáo pháp của Ngài
là việc làm cấp bách mà không chú trọng lắm đến Phật
truyện, các điển tịch cổ đã không có tính tổng hợp khi
thuyết minh về cuộc đời của Ngài. Khi các đệ tử thân
cận của Phật cũng lần lượt qua đời, do niềm luyến tiếc
đấng Giáo chủ mà các môn đệ về sau muốn hình dung lại
cuộc đời của Phật, từ đó Phật truyện bằng văn học
ra đời. Điều đặc biệt là không những chỉ hình dung hình
ảnh của Phật đương thời mà còn truy nguyên đến nhiều
kiếp tiền thân của Ngài nữa, đó là Bản Sanh Đàm của
Nam truyền hoặc các truyện Bản Sanh, Bản Sự, Vị Tằng Hữu
trong Bắc Tạng. Các truyền thuyết về sự ra đời của bảy
Đức Phật quá khứ cũng được trình bày một cách hoàn bị,
đặc biệt là giữa các vị Phật lại rất giống nhau. Chính
vì thế, có thể khi chúng tôi đang trích dẫn hình ảnh của
Đức Phật Tỳ-bà-thi thì cũng như đang nói về Phật Thích-ca.
Các
bản Hán dịch viết về Phật truyện thì nhiều vô kể, như
TU HÀNH BẢN KHỞI KINH, THÁI TỬ THỤY ỨNG BẢN KHỞI KINH,
QUÁ KHỨ HIỆN TẠI NHÂN DUYÊN KINH, PHẬT BẢN HẠNH TẬP KINH,
PHẬT SỞ HÀNH TÁN, THÍCH-CA PHỔ, v.v… Tất cả những Phật
truyện trong các kinh luận kể trên, chúng ta dễ dàng thấy
có hai xu hướng rõ rệt : Một xu hướng tổng kết những
sự kiện để tạo nên một Phật truyện chân xác của Phật
giáo Nguyên thủy, xu hướng thứ hai là căn cứ trên huyền
học để tạo thành Bồ-tát Luận của A-tỳ-đạt-ma trong
Phật giáo Phát triển. Các kinh điển Nikàya và Àgama trình
bày hình ảnh Đức Phật như một nhân vật lịch sử và đầy
tính người. Kinh điển Phát triển thì thần thánh hóa, lý
tưởng hóa hình ảnh của Đức Phật. Tóm lại, Nguyên thủy
và Thượng tọa bộ là nói về Ứng thân, còn Đại chúng
bộ thì nói về Pháp thân, tức Đức Phật đã thành Phật
từ lâu xa, những gì xảy ra ở cõi Ta-bà chỉ là thị hiện.
Dưới đây chúng tôi chỉ xin giới hạn Phật truyện về hiện
tượng Lâm-tỳ-ni mà thôi.
Theo
KINH ĐẠI BẢN, Bồ-tát ở trong thai mẹ 10 tháng trời mới
sanh ra. Mẹ Bồ-tát đứng mà sanh. Khi sanh ra, chư thiên đỡ
Ngài trước, sau mới đến loài người, thân Bồ-tát không
đụng đến đất, có bốn thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt
Ngài trước bà mẹ và thưa : "Hoàng hậu hãy hoan hỷ, Hoàng
hậu sanh một bậc vĩ nhân". Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị
nhiễm ô bởi nước nhớt hoặc máu mủ nào. Có hai dòng nước
từ hư không hiện ra, một lạnh một nóng tắm rửa sạch
sẽ cho Bồ-tát và cho bà mẹ. Ngài đứng vững thăng bằng
trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, một lọng trắng được
che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương rồi thốt lời lớn
như con Ngưu vương : "Ta là bậc tối thượng ở trên đời
! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở
trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái
sanh ở đời này nữa". Pháp nhĩ là như vậy. (TRƯỜNG BỘ
KINH 1, bản dịch của HT. Minh Châu, trang 451, 452, 453).
Đoạn
văn trên chúng tôi tóm tắt từ những đoạn dài dòng trong
KINH ĐẠI BẢN, đoạn nào cũng có câu : "Pháp nhĩ là như vậy".
Đã là "Pháp nhĩ" thì xin miễn bàn ! Điều đáng ghi nhận
trong đoạn kinh trên là không nói đến chuyện Thái tử sanh
ra từ hông bên phải. "Này các Tỳ-kheo, pháp nhĩ là như vậy.
Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, chư thiên đỡ lấy Ngài
trước, sau mới đến loài người. Pháp nhĩ là như vậy".
(Sđd - trang 451).
Các
kinh bản Hán dịch như TU HÀNH BẢN KHỞI, PHƯƠNG QUẢNG ĐẠI
TRANG NGHIÊM, PHẬT BẢN HẠNH TẬP, TRƯỜNG A-HÀM v.v… đều
nói Thái tử "tùng hữu hiếp sanh". Nói chung, Đại chúng bộ
chủ trương : Tất cả Bồ-tát khi sanh đều từ hông bên phải
của mẹ mà ra. (DỊ BỘ TÔNG LUÂN LUẬN, mục Đại Chúng Bộ).
Đây là kết quả của những bậc thanh tịnh chán sự xuất
thai theo sản đạo phổ thông của mọi người thường. Theo
học giả Kimura Taiken, thuyết này là sự kết hợp ngẫu nhiên
với thần thoại cổ(*). Trong Lê-câu Phệ-đà (Rig– Veda),
Nhân-đà-la trỗ cạnh sườn của mẹ mà ra (ẤN ĐỘ TRIẾT
HỌC TÔN GIÁO SỬ , trang 102). Thượng tọa bộ và kể cả
Hữu bộ cũng không có một thuyết minh nào nói đến việc
Bồ-tát từ hông phải mà ra. Về điểm này, theo thiển ý
người viết, vì các kinh đều nói Hoàng hậu Ma-da đứng mà
sanh, nên Đại chúng bộ cho rằng sanh ở bên hông phải (bên
phải biểu hiện ý nghĩa thuận). Học giả H. W. Schumann nói
"hình như sanh con lúc đứng là một phong tục thời ấy" (Sđd,
trang 41), thực ra chúng ta chưa hề nghe một tài liệu nào nói
như vậy.
Tóm
lại, những kinh điển xưa không nói chuyện sanh ở hông phải,
cho nên ta tạm thời xem việc này chỉ như là ý nghĩa tượng
trưng mà thôi.
Chuyện
đi "bảy bước trên hoa sen" là vấn đề thứ hai chúng ta cần
khảo sát.
KINH
ĐẠI BẢN viết : "Này các Tỳ-kheo, pháp nhĩ là như vậy.
Vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai
chân, mặt hướng về phía Bắc, bước đi bảy bước, một
lọng trắng được che trên …" (TRƯỜNG BỘ KINH, Sđd, trang
453).
KINH
PHƯƠNG QUẢNG ĐẠI TRANG NGHIÊM 3 (Đại Chánh 3, 553 thượng)
ghi : "Lúc bấy giờ Bồ-tát khéo tự tư duy, tùy sức chánh
niệm, không nhờ dắt đỡ, liền tự có thể bước đi bảy
bước về phía Đông, dưới chân đều nở hoa sen (túc xứ
giai sanh liên hoa)".
KINH
PHỔ DIỆU 1 (Đại Chánh 3, 494 thượng) ghi : "Lúc bấy giờ
Bồ-tát từ hông phải sanh ra, hốt nhiên thấy thân trụ trên
hoa sen báu (hốt nhiên kiến thân trụ Bảo liên hoa), bước
đi 7 bước trên đất mà diễn nói Phạm âm…".
KINH
THÁI TỬ THỤY ỨNG BẢN KHỞI, thượng (Đại Chánh 3, trang
473), KINH TU HÀNH BẢN KHỞI, thượng (Đại Chánh 3, trang 462),
KINH TRƯỜNG A-HÀM 1 (Đại Chánh 1, trang 4 – tương đương
KINH ĐẠI BẢN Pàli) … đều không nói đến chi tiết Liên
hoa. THÍCH CA PHỔ được xem như tác phẩm tổng hợp các thuyết
trên, dĩ nhiên có nói "lúc bấy giờ dưới cây (Vô-ưu) cũng
sanh 7 cọng hoa sen bằng 7 báu (thất bảo thất hành liên hoa),
lớn như bánh xe, Bồ-tát liền đi 7 bước trên hoa sen ấy
mà không cần ai nâng dắt" (Đại Chánh 50, trang 16).
Như
vậy đã rõ, bước đi 7 bước là thuyết chung, còn bước
trên hoa sen là chi tiết được thêm vào sau này. Về con số
7, không thấy các điển tịch giải thích, các Luận giả sau
này cho rằng con số 7 là "con số của huyền học Đông phương".
Theo tư tưởng Hoa Nghiêm, toàn thể vũ trụ không ngoài con
số 7 : trên, dưới, trong, ngoài, phải, trái và chính giữa,
từ vật nhỏ như vi trần đến vật lớn như núi Tu-di, tất
cả đều không ngoài con số 7, "lớn không ngoài mà nhỏ không
trong" là thành ngữ ta thường gặp trong tư tưởng Hoa Nghiêm,
có 7 Phật quá khứ, 7 Phật Dược Sư, 37 phẩm Trợ đạo cũng
gồm 7 chi (Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần …); 7 lần 7 là 49;
cách tính độ lớn của các pháp cũng dùng con số 7 để nhân
lên (7 vi trần = 1 kim trần, 7 kim trần = 1 thủy trần …),
toàn thể vũ trụ từ con số 7. Cách giải thích này có vẻ
phù hợp với người từng nghiên cứu Lý học Đông phương.
Còn
về hoa sen, tất cả hình tượng chư Phật, Bồ-tát đều đứng
trên hoa sen, vì hoa sen có những tính chất đặc thù mà các
loài hoa khác không có. KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA đã thuyết minh
một cách tuyệt vời đóa hoa vi diệu này. Ở đây không cần
kê ra, chỉ biết rằng việc xây dựng hình ảnh Phật trên
hoa sen là một sáng tạo độc đáo nhất của kinh điển Đại
thừa. Nó đã biểu hiện trọn vẹn tinh thần Bồ-tát đạo,
xuyên suốt giáo lý và trở thành hình tượng mỹ học đẹp
nhất về cuộc đời của đấng Giáo chủ, thay vì sanh ra trong
máng lừa hay trong một hòn đá nào đó…
Trong
một số bản Hán dịch không chỉ nói Thái tử bước đi trên
7 hoa sen mà còn có thuyết Tứ phương thất bộ", hoặc "Châu
hành thất bộ" (tức Tứ phương tứ duy), hẳn cũng để thăng
hoa ý nghĩa thất bộ lên cho trọn vẹn mà thôi. KINH PHƯƠNG
QUẢNG ĐẠI TRANG NGHIÊM 3 (Đại Chánh 3, 55 thượng) ghi : "Tự
đi 7 bước về phía Đông ( … ) nói lời thế này : Ta đạt
được tất cả thiện pháp nên vì chúng sanh mà nói. Lại
đi 7 bước về phía Nam nói lời thế này : Ta ứng thọ sự
cúng dường của cõi trời người. Lại đi 7 bước về phía
Tây, nói lời thế này : Ta là bậc tối tôn tối thắng trong
thế gian, đây chính là thân sau cùng của ta, dứt tận sanh
lão bệnh tử. Lại đi 7 bước về phương Bắc, nói lời thế
này : Ta là bậc Vô thượng thượng trong tất cả các loài
chúng sanh. Lại đi 7 bước về phương dưới, nói lời thế
này : Ta đang hàng phục tất cả quân ma, đối với các khổ
cụ hay mãnh hỏa ở địa ngục, ta thi thiết đại pháp môn,
mưa đại pháp vũ, khiến cho chúng sanh tận niềm an lạc. Lại
đi 7 bước về phương trên, nói lời thế này : Ta đang làm
chỗ cho tất cả chúng sanh chiêm ngưỡng".
Theo
KINH PHẬT BẢN HẠNH TẬP 8, bước đi 7 bước về 4 phía để
biểu thị sự thù thắng mà thế gian không gì sánh bằng.
KINH ĐẠI BÁT NÊ HOÀN 3 nêu ý nghĩa của Tứ phương thất
bộ như sau :
- Bảy
bước về phía Đông biểu thị bậc đứng đầu dẫn đạo
chúng sanh.
- Bảy
bước về phía Nam là thị hiện vì chúng sanh làm phước điền
vô thượng.
- Bảy
bước về phía Tây là thị hiện thân sau cùng vĩnh viễn đoạn
tận cái khổ sanh lão bệnh tử.
- Bảy
bước về phương Bắc là thị hiện đã độ hóa các Hữu
sanh tử.
Hai
thuyết nói trên đủ cho ta hiểu được ý nghĩa Tứ phương
thất bộ của kinh điển Đại thừa. Sự ra đời của Đức
Phật là một đại sự nhân duyên, hiển bày pháp môn tối
tôn tối diệu, cho nên hình ảnh nào cũng được thăng hoa
đến mức tột cùng như thế.
Chi
tiết quan trọng nhất trong hiện tượng Lâm-tỳ-ni là câu
nói của Thái tử : "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn…".
Đây là câu kệ có nhiều dị bản và gây nhiều ý kiến khác
nhau. Để có một cái nhìn tổng quát, chúng tôi xin liệt kê
một số câu kệ này trong nhiều bản kinh khác nhau để tiện
khảo cứu :
- KINH
PHỔ DIỆU 1 (Đại Chánh 3, 494 thượng) ghi : "Ngã đương cứu
độ thiên thượng thiên hạ, vi thiên nhân tôn, đoạn sanh
tử khổ, tam giới vô thượng, sử nhất thiết chúng sanh vi
thường an".
- KINH
THÁI TỬ THỤY ỨNG BẢN KHỞI, thượng (Đại Chánh 3, 473 hạ)
ghi : "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, tam giới giai
khổ, ngô đương an chi".
- KINH
TRƯỜNG A-HÀM 1 (Đại Chánh 1, 4 hạ) ghi : "Thiên thượng thiên
hạ, duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sanh, sanh lão bệnh tử".
- KINH
PHẬT BẢN HẠNH TẬP 7 (Đại Chánh 3, 687 trung) ghi : "Thế gian
chi trung, ngã vi tối thắng, ngã tùng kim nhật, sanh phần dĩ
tận".
- THÍCH
CA PHỔ 1 (Đại Chánh 50, 16 thượng) ghi : "Ngã ư nhất thiết
thiên nhân chi trung, tối tôn tối thắng, vô lượng sanh tử
ư kim tận hỷ, thử sanh lợi ích nhất thiết thiên nhân".
Còn
có nhiều bản kinh nói về lịch sử Đức Phật và câu kệ
này. Những bản được kê ra đây tương đối phổ biến đối
với người tìm hiểu lịch sử Đức Phật, nên chúng tôi
đặc biệt dẫn dụng. Ở trên, chúng ta thấy dù các câu kệ
khác nhau, nhưng nội dung ý nghĩa lại tương đồng. Câu nói
chính yếu vẫn là "Trong cõi trời người chỉ có ta là tôn
quý hơn cả". Câu còn lại thì mỗi bản mỗi khác, hoặc là
Ta ra đời để làm an ổn chúng sanh trong tam giới khổ đau,
hoặc độ hết sanh lão bệnh tử của chúng sanh, hoặc nói
đây là tối hậu thân của ta… Tóm lại, câu kệ thuyết
của Đức Phật khi mới đản sanh trong các kinh là nhất quán.
Vấn đề còn lại là hiểu câu nói ấy như thế nào. Chúng
tôi xin cắt phần ý nghĩa thành một mục riêng để tiện
trình bày.
3.
Ý nghĩa câu kệ thuyết ở vườn Lâm-tỳ-ni
Câu
kệ phổ thông được các sách vở hiện tại thường dẫn
dụng là :
"Thiên
thượng thiên hạ
Duy
ngã độc tôn
Vô
lượng sanh tử
Ư
kim tận hỷ".
Toàn
bộ ý nghĩa của câu kệ trên đều tập trung ở một chữ
vô cùng quan trọng, đó là chữ "Ngã". Hiểu được chữ "Ngã"
là hiểu câu kệ này. Và khi đã hiểu được câu kệ này
rồi thì họa sĩ có thể vẽ thêm bất kỳ một hình ảnh
cao đẹp nào vào vườn Lâm-tỳ-ni cũng được. Chính vì lẽ
đó chúng tôi không bàn luận gì thêm về các chi tiết khác
như hai dòng nước tắm cho Thái tử , Tiên A-tư-đà, hoa Vô-ưu
hoặc chư thiên quy ngưỡng. Tất cả các pháp đều nương
vào một pháp, và một pháp là tất cả pháp.
"Thiên
thương thiên hạ duy ngã độc tôn…", dịch một cách nôm
na là "Trên trời dưới trời chỉ có ta là cao quý hơn hết…".
Chính
bản thân người viết cũng từng nghĩ một cách trẻ con rằng
: "Sao Phật có vẻ tự cao tự đại quá ! Biết rằng Ngài
tuyệt thế vô luân đấy, nhưng hãy để người ta ca tụng
…".
Để
bào chữa cho cái hiểu nông nỗi này, có nhiều người đã
dịch câu trên theo một cách khác, đại loại : Có khi ta sanh
lên cõi trời (thiên thượng), có khi ta sanh về cõi người
hay các cõi dưới (thiên hạ) cũng chỉ vì cái "Ngã" này. Ta
chịu sanh tử trong vô lượng kiếp (vô lượng sanh tử) cũng
chỉ vì cái "Ngã" này, đến ngày nay là đã chấm dứt (Ư
kim tận hỷ).
Hiểu
như thế đôi lúc còn tai hại hơn nữa. Lẽ nào lời tuyên
ngôn lập giáo của một đấng Giáo chủ khi đản sanh lại
là một cái thở phào nhẹ nhõm khi đã thoát được cái ngã
tầm thường ấy thôi sao ? Nếu Phật chỉ là người thoát
khỏi bốn thứ chấp Ngã si, Ngã mạn, Ngã kiến, Ngã ái thì
Ngài chỉ là một A-la-hán đơn thuần. Ngã chấp đã tận,
còn Pháp chấp thì sao ?
Thực
ra, đối với triết học hiện đại, luận đề về Ngã không
còn là vấn đề để phải tốn nhiều giấy bút, nhưng đối
với 2500 năm trước trong bối cảnh đa nguyên của Ấn Độ,
"Ngã" là một phạm trù triết học cực kỳ quan trọng. Trước
hết, chúng ta truy nguyên chữ "Ngã" trong triết học Ấn Độ
và quan niệm diễn tiến của nó qua các tông phái.
Theo
PHẬT QUANG ĐẠI TỪ ĐIỂN, Ngã, tiếng Phạn là Àtman, nguyên
nghĩa là hô hấp. Từ nghĩa này phát sanh nghĩa sanh mạng, tự
kỷ, thân thể, tự ngã, bản chất, tự tánh. Ngã còn chỉ
chung cho chủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn
gốc của tất cả sự vật và chi phối cá thể thống nhất.
Từ
thời Lê-câu Phệ-đà (Phạn : R易- veda, khoảng 1500 năm trước
TL) đã có sử dụng chữ "Ngã", đến thời đại Phạm Thư
(Phạn : Bràhman từ năm 1000 - 800 trước TL) thì hơi thở
(Phạn : Pràn trong chủ thể hoạt động của sanh mạng dần
dần diễn tiến thành hiện tượng sanh mạng theo ý nghĩa cá
thể, còn "Ngã" thì lại là bản chất. Như trong Bách Đạo
Phạm Thư (Phạn : S١tapatha), các hiện tượng sanh mạng như
ngôn ngữ, thị lực, thính lực… lấy "Ngã" làm cơ sở để
biểu hiện, xem "Ngã" là chủ tể đồng với Tạo vật chủ
(Phạn : Prajàpati). Đến thời đại Áo Nghĩa Thư (Phạn : Upanis,
từ năm 800 - 600 trước TL), tức cùng thời đại Đức Phật,
"Ngã" được xem là cái sáng tạo ra vũ trụ, ngã là cá nhân
(tiểu ngã) đồng thời cũng là nguyên lý trung tâm của vũ
trụ (Đại ngã, Phạn : Brahman). Tiến xa hơn, thời kỳ này
còn chủ trương chỉ có "Ngã" mới là chân thực tại, ngoài
ra đều là hư huyễn (Phạn : Màyà). Tóm lại, có bốn quan
niệm về "Ngã" : Cá thể là Ngã (ngũ uẩn), sanh mạng trung
tâm trong các cá thể là Ngã, nguyên lý vũ trụ là Ngã và
tính chất (tự tánh) cá hữu trong mỗi yếu tố tồn tại
là Ngã. Trong các kinh Nikàya và Àgama đều phủ nhận bốn
quan niệm về Ngã trên. Đức Phật cho các quan niệm trên là
Ngã sở và Ngã sở kiến. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ tuy
phủ định ngã của sanh mạng cá thể (tức nhân ngã), nhưng
thừa nhận ngã thật thể (tức pháp ngã, yếu tố tạo thành
tất cả sự tồn tại) là hằng hữu. Độc Tử Bộ, Chánh
Lượng Bộ chủ trương Ngã và Ngũ uẩn bất tức bất ly.
Kinh Lượng Bộ thì có thuyết Bổ-đặc-già-la thắng nghĩa…
Còn Phật giáo Đại thừa chẳng những phủ nhận cái ngã
cá thể (nhân ngã) mà còn phủ nhận cả pháp ngã tồn tại
đã được các bộ phái thừa nhận. "Tất cả pháp vô ngã"
được xem là 1 trong 3 hoặc 4 pháp ấn của Phật giáo. Tiểu
thừa chủ trương nếu diệt trừ hết phiền não thì đạt
đến cảnh giới Niết-bàn; còn Đại thừa thì chủ trương
tất cả sự tồn tại là Không, cảnh giới Niết-bàn là tuyệt
đối tự do. Sự tự do tuyệt đối này chính là "Ngã" của
Phật, là Niết-bàn của Đại thừa, Pháp thân của Như Lai.
Theo KINH NIẾT BÀN 23 (bản Bắc), Niết-bàn có bốn đức Thường,
Lạc, Ngã, Tịnh. Giác ngộ được cảnh giới Niết-bàn này
thì vĩnh viễn bất biến, đó gọi là Thường. Cảnh giới
ấy không có khổ, chỉ có sự an vui, đó gọi là Lạc. Tự
do tự tại, không có mảy may câu thúc, đó gọi là Ngã. Không
có sự nhiễm ô của phiền não, đó gọi là Tịnh. Cái ngã
ở đây là Chân ngã, khác xa cái ngã chấp trước của phàm
phu và Nhị thừa.
Trở
lại câu kệ của Phật, "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc
tôn", chúng ta có thể hiểu rằng chỉ có Niết-bàn là hơn
hết, chỉ có giác ngộ, bậc Giác ngộ (Giác giả, Phật) là
tôn quý hơn hết. Đó là chỗ cứu cánh của Phật giáo. Không
có cái Ngã ấy, toàn bộ lâu đài kinh điển Phật giáo chỉ
được xây dựng trên kiến chấp bình thường.
"Thiên
thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" là Chân thường, Chân
ngã; "Vô lượng sanh tử ư kim tận hỷ" là Chân lạc, Chân
tịnh. Bốn câu kệ trên nói đến bốn đức của Niết-bàn.
Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên, khai ngộ
chúng sanh nhập Phật tri kiến, nhập vào cái Ngã tự do tuyệt
đối này. Nếu Phật mà không tối tôn thì sao gọi là Phật
? Câu kệ hiển bày một lý tánh tuyệt đối, mưa đại pháp
vũ, thổi đại pháp loa, khiến tà ma ngoại đạo phải điếc
tai, thiên thượng thiên hạ phải quy kính. Phật đã nói Đại
pháp từ khu vườn Lâm-tỳ-ni nhỏ bé này.
Tóm
lại, dù hiện tượng Lâm-tỳ-ni là một sự thật lịch sử
hay chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng thì nó vẫn
có một giá trị tuyệt đối. Sự ra đời của Đức Phật
đã thổi một ngọn gió mát mẻ vào thành trì kiên cố của
tư tưởng Phệ-đà, đã rọi một tia nắng ấm đầu tiên
đến màn đêm tâm thức Ấn Độ, và bình minh tiếp tục rạng
rỡ trên những khung trời triết lý Đông phương cho đến
toàn thể nhân loại hiện nay. Tất cả chúng sanh đều có
Phật tánh, tất cả đều có thể thành Phật là một tuyên
ngôn tự do vĩ đại nhất của loài người. Đức Phật đã
trả quyền con người lại cho con người, con người không
còn nô lệ bởi thần linh hay một thế lực siêu hình nào
cả. Đó là Nhân bản Phật giáo. Sự ra đời của Đức Phật
không chỉ xóa bỏ bốn giai cấp ở Ấn Độ mà là xóa bỏ
hết mọi cảm thức phân biệt giữa con người và con người
trong toàn thể nhân loại, khơi mở một chân trời thực tại
uyên nguyên cho tất cả những ai dám rũ bỏ phiền não nhiễm
ô để hướng về thể tánh thường hằng của vạn pháp.
Bây
giờ thì chúng ta lại chiêm ngưỡng hình ảnh vườn Lâm-tỳ-ni
với một tâm hồn hoan hỷ và thành kính vô biên. Kìa ! Hoa
Mạn-đà-la, mưa hoa Mạn-đà-la, nhạc Càn-thát-bà. Hoa Vô-ưu
hay Linh thoại dưới rặng Hymalaya ? Một đóa sen, bảy đóa
sen, vô lượng đóa sen vi diệu, cây lá xanh hơn, chim hót rộn
rã hơn, bầu trời xanh lơ, hào quang chiếu diệu. Còn có một
điều, một điều mới lạ nữa – niềm tin bất diệt chói
lọi trong hồn Thích tử xưa sau. Xin đảnh lễ vườn Lâm-tỳ-ni
như đảnh lễ vô biên chân lý nhiệm mầu.
04-08-2008
12:23:46