Ý NGHĨA
YẾU TỐ HUYỀN SỬ
TRONG LỊCH
SỬ ĐẢN SINH CỦA ĐỨC PHẬT
Thích
Phước Đạt
Lịch
sử Đức Phật Thích Ca là lịch sử của một con người,
nhờ công phu tu tập tự thân đã chứng đạt quả vị Giác
ngộ. Suốt 45 năm thuyết giáo độ sinh, Ngài trở thành con
người vĩ đại nhất sinh ra ở đời. Chính cuộc đời Đức
Phật vĩ đại như thế khiến cho yếu tố huyền thoại của
Ngài khi Đản sinh đi vào tâm thức nhân loại như là một
huyền sử thiêng liêng, ngõ hầu tạo ra những dấu ấn tâm
linh, ngay từ khi con người cất bước chân đi tìm về miền
đất an lạc.
Thế
nên, hàng năm Phật giáo đồ trên khắp cõi hành tinh này hân
hoan đón mừng Đại lễ Khánh đản bằng tấm lòng tôn kính.
Mục đích cuối cùng là để phô diễn tận cùng hình ảnh
Phật đản sinh qua những yếu tố huyền sử hóa thân từ
huyền thoại có xuất xứ từ Kinh tạng, được xem như là
những tác phẩm văn học Phật giáo. Đó là mô thức Phật
đản sinh được giới Phật giáo đồ diễn trình bằng hình
ảnh Ngài từ cung trời Đâu Suất cưỡi con voi trắng sáu
ngà hiện xuống ứng mộng với hoàng hậu Ma Da. Sau đó, Ngài
thị hiện giữa cõi đời nhân lúc mẫu thân giơ tay vin cành
Vô ưu trong vườn Lâm Tỳ Ni và liền cất bảy bước chân
đi hóa hiện trên bảy đóa hoa sen diệu kỳ. Ngài dõng dạc
tuyên bố như là một thông điệp giải thoát với âm vang
rung động trời đất: "Trên trời dưới đất, duy Ta là độc
tôn”.
Rõ
ràng, chính các yếu tố huyền sử được xuất phát từ những
huyền thoại trong Kinh Hi hữu vị tằng hữu pháp - A hàm, cũng
như Kinh Đại bổn - Nikaya làm cho lịch sử Đản sinh của
Ngài, từ con người bình thường trần thế lại hóa thân
trở thành con người phi thường ngay giữa đời này. Với
lòng tịnh tín bất động đối với Như Lai, con người phi
thường như Ngài lại thị hiện, sống mãi trong tâm thức
mỗi con người.
Xem
ra, những bài kinh có tính văn học, ngay từ khi ra đời đã
gắn liền với huyền thoại. Suy cho cùng, huyền thoại là
một kho tư liệu vô cùng quý giá nằm trong ký ức nhân loại.
Huyền thoại nghiễm nhiên trở thành vô thức tập thể thông
qua các biểu mẫu, siêu mẫu, cứ thế ăn sâu vào tiềm thức
người đọc mà di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Các nhà trước tác mặc nhiên sử dụng các yếu tố huyền
thoại, trước hết như là một biểu tượng, một ẩn dụ
để nói lên ý nghĩa tác phẩm đằng sau một hệ thống ngôn
ngữ được diễn đạt qua một lớp ngôn từ, hình ảnh cụ
thể với những chi tiết cực kỳ sinh động. Vì thế, huyền
thoại được sử dụng để đi vào giấc mộng, đi vào cõi
vô thức của nhân vật và hóa hiện thật phi thường. Từ
đó, yếu tố huyền thoại được nối kết thật chặt chẽ
để tạo ra tính liên văn bản của tác phẩm tưởng chừng
như thật hoàn toàn, khiến cho người ta dù ở và sống
với các nền văn hóa khác nhau vẫn có thể hiểu nhau như
là thông điệp chung của nhân loại. Tuy nhiên, các nhà trước
tác tùy theo tính chất của tác phẩm mà trong quá trình sáng
tác có thể biến cải, chuyển đổi huyền thoại thành huyền
sử để có nhiều giá trị tư tưởng nghệ thuật hơn.
Chúng
ta không có gì ngạc nhiên để nhìn nhận hoàng hậu Ma Da ứng
mộng mang thai cho đến ngày hạ sinh Ngài. Voi trắng sáu ngà
là một biểu tượng của Bồ tát thanh tịnh với muôn hạnh
cứu đời. Voi tượng trưng cho sức mạnh hùng dũng luôn hướng
về phía trước. Sáu ngà lại càng đặc biệt hơn, vì thực
tế không có con voi nào sáu ngà, nhưng đây lại biểu đạt
hình tượng Bồ tát thành tựu được Lục độ ba la mật.
Thế nên, voi trắng là cũng là hình tượng Đức Phật hóa
thân. Ngài chính là Bồ tát Hộ Minh từ cung trời Đâu Suất,
cưỡi voi trắng sáu ngà ứng mộng với hoàng hậu Ma Da, sau
đó Bà mang thai và sinh ra Ngài. Khi Đản sinh, Ngài không như
những con người bình thường khác mà được hóa hiện bằng
hình tượng siêu thực nhưng vô cùng sống động như kinh Hi
hữu vị tằng hữu pháp mô tả:
“Vị
Bồ tát khi sinh ra Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân,
mặt hướng về phía Bắc bước đi bảy bước, một lọng
trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương lên
tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc
tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn trên đời!
Nay là đời sống cuối cùng, không còn tái sinh ở đời này
nữa…”.
Rõ
ràng, hình tượng siêu thực của Phật đản sinh xuất phát
từ trong hiện thực. Ngài được sinh ra, lớn lên trong đời.
Mỗi bước đi của Đức Phật là mỗi bước làm hóa hiện
hạnh nguyện từ bi trí tuệ đem đến tình yêu và hạnh phúc
cho muôn loài. Vì thế, kinh điển thường diễn tả Ngài như
hoa sen sinh ra trong bùn, mọc lên trong bùn mà không bị nhiễm
ô mùi bùn. Thế Tôn cũng thế, sinh ra trong đời, lớn lên
trong đời mà không nhiễm mùi đời. Cho nên hoa sen được
biểu tượng cho hình ảnh của Ngài. Phật là hoa sen, hoa sen
là Phật. Khi Ngài sinh ra bước đi trên bảy đóa hoa sen là
hình ảnh biểu đạt con đường đi đến thăng chứng qua bảy
giai trình tu tập: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý
túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát Thánh đạo. Nói
chung là 37 phẩm trợ đạo. Đây chính là con đường đưa
Ngài đến thành tựu Vô thượng Bồ đề. Bảy đóa hoa sen
cũng biểu trưng cho bảy vị Phật thị hiện để giáo hóa
chúng sanh ở đời.
Và
lời tuyên bố “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”
(trên trời dưới đất, duy Ta là độc tôn) là một sự thật
minh chứng cho tiến trình tự thân tu tập, tự thân hành trì,
tự thân chứng ngộ, đạt quả vị Niết bàn là cao quý nhất
ở đời mà Thế Tôn đạt được. Một con người nếu không
thành tựu trí tuệ vô thượng và giải thoát Niết bàn thì
cũng đều bị tác động sự biến hoại của luật vô thường,
chẳng có gì cao quý cả. Chỉ có sự chứng ngộ chân lý là
cao quý nhất mà không bị bất cứ luật gì ở đời chi phối.
Nói theo Chánh pháp, ai thành tựu được trí tuệ vô thượng,
an trú tâm đại bi, người đó là độc tôn. Phật là mẫu
người như thế nên Ngài xưng: “Thiên thượng thiên hạ,
duy ngã độc tôn” là sự thật hiển nhiên.
Vả
lại, thời kỳ Đức Phật đản sinh là thời kỳ triết thuyết
Bà La Môn giáo thịnh hành trong xã hội Ấn Độ. Chỉ có Bà
la môn là cao quý, Phạm thiên tạo hóa sinh ra muôn loài. Chúng
sanh hiện hữu đều do Phạm thiên, thần chủ Bà la môn mà
được sinh ra ở đời. Các bậc Thánh nhân cũng thế. Sự
Đản sinh của Thế Tôn là nhằm bác bỏ quan điểm truyền
thống sai lầm đã ăn sâu trong tín ngưỡng người Ấn Độ
bấy giờ. Trên hết, Ngài thị hiện ở đời để xác chứng
Ngài sinh ra không phải từ Phạm thiên, Bà la môn nào cả mà
Ngài sinh ra từ kết quả nghiệp lành và công hạnh đã tạo
lập nhiều đời, nhiều kiếp trong sự nỗ lực tu hành thành
tựu quả vị Niết bàn. Sự kiện Phật đản sinh được diễn
trình trong bối cảnh hào quang chiếu rọi kỳ diệu và mười
ngàn thế giới rung động là để minh chứng có một thế
giới giải thoát là có thật. Nó có tác động mạnh mẽ làm
chuyển hóa tâm thức chúng sanh muôn nơi, rung động mọi thế
giới cho những ai biết hướng tâm nỗ lực tu hành thành Phật.
Do đó, Ngài tuyên bố: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc
tôn”.
Đạo
Phật là đạo đến để thấy! Thấy để mà tu hành! Tu hành
để thành Phật. Phật đản sanh hôm nay chính là Phật đản
sinh trong lòng khi chúng ta cất tiếng kinh cầu, sống theo lời
Phật dạy, từng bước nở đóa hoa sen, hướng về miền đất
an lạc.
05-05-2007
11:23:14