THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
MỤC LỤC
TƯỞNG NHỚ ĐỨC PHẬT
P. Gopakumar 

Phật giáo là một tôn giáo được ngưỡng mộ nhất trên thế giới hiện nay, được sáng lập bởi Đức Phật Thích Ca hiệu Gautama, với niềm tin vào hòa bình, từ bi và trí tuệ, Phật giáo giúp chúng ta hiểu rõ nguyên nhân của những chấp thủ và đau khổ của con người, cũng như cung cấp cho nhân loại con đường đạt đến giải thoát khỏi những đau khổ. 

Theo Phật giáo, con người là một thực thể cứu cánh, nhưng vốn bị ràng buộc, trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi. Cuộc sống con người là một biển khổ mênh mông, tất cả mọi người bất luận tôn giáo, chủng tộc hay địa vị xã hội đều không thể tránh khỏi đau khổ, đó là một sự thật không thể chối cải được. 

Nguyên nhân của mọi đau khổ của con người là do Vô minh, Vô minh là nguồn gốc phát sinh mọi tham ái và chấp thủ. Nếu chuyển hóa được vô minh thành trí tuệ thì con người có thể đạt đến giải thoát khỏi mọi đau khổ trong cuộc đời. Sự chuyển hóa này hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua sự tu luyện tâm thức và giữ gìn giới luật. 

Phật giáo tin rằng tất cả mọi người đều có thể đạt đến giải thoát giác ngộ, tức Niết Bàn, ngay trong đời này. Niết bàn không phải là lẫn tránh vòng sanh tử luân hồi mà là sự giải thoát của con người khỏi những chấp thủ của tâm. Niết bàn, nghĩa là một sự chấm dứt, nhưng không phải theo nghĩa chấm dứt sự sống, mà là chấm dứt hay giải thoát mọi khổ đau. Niết bàn trong Phật giáo là sự chấm dứt mọi tham ái và chấp thủ. 

Đức Phật thường nhắc nhở các đệ tử rằng, mục đích tối hậu của cuộc sống là giải thoát khỏi mọi vướng mắc ràng buộc của cuộc sống chứ không phải chấm dứt đời sống. Vì vậy, một người hướng đến Niết Bàn không có nghĩa là tìm cách thoát khỏi thế giới này, mà là hiểu rõ về sự thật của thế giới này, sống trong thế giới này mà không bị ràng buộc bởi những vướng mắc, chấp thủ. Giữa một người bình thường và một người đã giác ngộ không có sự khác nhau về mặt vật lý, mà chỉ có sự khác biệt về mặt tâm linh; người đã giác ngộ thì không còn bị trói buộc bởi những tham ái và chấp thủ trong cuộc sống. 

Theo Phật giáo, một hành giả muốn đạt đến giải thoát giác ngộ, phải tuân giữ giới luật và thực hành theo giáo pháp; các giáo pháp đó là Từ Bi, Nghiệp báo, Đoạn tham, Đoạn dục, Đồng sự và Bất bạo động…, nếu hành giả thoát ly khỏi cộng đồng hay xã hội thì làm sao thực hiện được pháp môn từ bi hay đồng sự được. 

Ngày nay thế giới bị ngăn cách bởi các ranh giới như tôn giáo, chủng tộc, quốc tịch, ngôn ngữ, giai cấp hay ý thức hệ. Thế giới của chúng ta có rất nhiều nguồn lực, chúng ta có rất nhiều đất đai, nhiều thực phẩm và nhiều tài nguyên khác để duy trì sự sống của chúng ta, nhưng chính vì lòng tham lam vô tận của con người mà tạo nên sự hận thù và chia rẽ ngày càng gia tăng giữa các quốc gia, dân tộc với nhau. Trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy rằng: “Với hận diệt hận thù, Ðời này không có được. Từ bi diệt hận thù, Là định luật ngàn thu”. Chính vì vậy, chúng ta phải biết chia sẽ và yêu thương nhau, thì mới có thể làm cho thế giới của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn. 

Phật giáo cho rằng chỉ có nổ lực của chính mình mới có thể đạt đến giải thoát giác ngộ. Phật giáo bao dung tất cả sự khác biệt của mọi người về kinh nghiệm sống, bối cảnh văn hóa cũng như tín ngưỡng tôn giáo. Phật giáo là một tôn giáo của từ bi, hỷ xả và khoan dung, bình đẳng đối với tất cả mọi chúng sanh. Đạo Phật không tự rao giảng rằng, chỉ có Phật giáo mới là tôn giáo vượt trội hơn các tôn giáo khác, không phân biệt kỳ thị đối với bất kỳ ai cũng như bất kỳ tôn giáo nào, mà là bình đẳng đối với tất cả mọi người cho dù họ có tín ngưỡng khác với Phật giáo. Chính vì vậy, Phật giáo không bắt buộc ai phải cải đạo, đó là tính chất nhân bản của Phật giáo. Tất cả hữu tình chúng sanh đều được tôn trọng bình đẳng và đều có khả năng đạt đến giải thoát giác ngộ thành Phật. Và hãy nhớ rằng, trong cộng đồng thế giới có xu hướng ngày càng toàn cầu hóa này, tất cả chúng ta đều là những người mà cuối cùng phải gánh chịu những nghiệp quả xuất phát từ những hành động của chúng ta hôm nay. 

Đạo Phật dạy chúng ta phải tu tập những hành vi, cử chỉ trong cuộc sống hàng ngày để đạt đến mục đích bất bạo động, từ bi và hợp tác. Đó là những bước căn bản nhất phải thực hiện, chứ không phải chỉ nói suông. Những kẻ chỉ biết kính cẩn tụng đọc kinh điển mà lơ là trong việc thực hành, tức là đã phản bội lại tinh thần chân chính của Phật giáo. Chư Phật trong quá khứ cũng đã thực hành hạnh từ bi cứu khổ và không ngừng cứu độ cho tất cả chúng sanh trong nhiều đời nhiều kiếp, và cuối cùng khi Công hạnh đã viên mãn, thành tựu quả vị Phật, đã thị hiện một Đức Hạnh cao quý như là thông điệp cho tất cả chúng ta. 

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi giác ngộ, đã đi khắp nơi thuyết pháp độ sanh trong suốt 49 năm, lưu lại cho chúng ta vô số kinh điển, thần chú và pháp môn tu tập. Ngài đã giáo hóa và làm gương cho nhiều vị vua quan, dân chúng từ già trẻ trai gái, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo hay giai cấp xã hội. Sự dấn thân hóa độ của Đức Phật đã thể hiện truyền thống nhân bản của Phật giáo, là tịnh hóa nhân tâm và thiết lập nhân gian tịnh độ. Hình ảnh Đức Phật là tấm gương sáng trong việc thực hành hạnh từ bi và hòa bình hợp tác. 

Để nối theo gót chân Phật, trước hết chúng ta phải biết phát hiện và nuôi dưỡng Phật tính vốn có, cũng như phát khởi và nuôi dưỡng Bồ Đề tâm có sẳn trong mỗi chúng ta để mở toang cánh cửa giải thoát giác ngộ, giải thoát hết mọi khổ đau trong cuộc đời. Bằng sự phát hiện và nuôi dưỡng kho báu vô giá đó, chúng ta có thể giúp cho tất cả hữu tình chúng sanh khác phát hiện những đức tính vốn có sẳn trong họ như từ, bi, hỷ, xã, thanh tịnh, trang nghiêm và sự báo ân. Có nhiều phương pháp nhỏ có thể giúp ta khởi động quá trình đi tìm kho báu vô giá đó, chẳng hạn như phải biết tôn trọng sự sống của mình cũng như tất cả mọi loài, tôn trọng và bảo vệ môi trường tự nhiên, phải có thái độ biết ơn, đừng tham lam và biết tri túc… 

Chúng ta cần phải xét lại những ứng phó xưa nay của chúng ta đối với sự mất trật tự và bạo hành; chúng ta thường có khuynh hướng dùng hình phạt đối với những người gây ra bạo hành, mất trật tự, để ngăn chận không cho nó trở nên nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, hình phạt chỉ đạt được những kết quả tạm thời mà thôi, chỉ có sự chuyển hóa, chuyển hóa bạo lực thành hòa hợp, đố kỵ thành tán thán, xan tham thành bố thí, bất tịnh thành thanh tịnh …mới có thể chấm dứt được bạo hành. Chúng ta không thể chỉ dựa vào những hình phạt một cách tiêu cực như thế mà phải thúc đẩy thực hiện quá trình chuyển hóa với thái độ tích cực, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, hơn nữa phải có tâm từ bi, hợp tác và công bằng, chân thành đối với tất cả chúng sanh.

Thích Chí Viên dịch
(Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Liễu Quán)


MỘT ƯỚC MƠ NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN
Cư sĩ Liên Hoa

Thân Phật thanh tịnh tợ lưu ly
Trí Phật sáng ngời như trăng sáng
Phật ở thế gian thường cứu khổ
Tâm Phật không đâu không từ bi..

Vừa đọc xong bài Kệ Tán Phật, tôi cầm dùi đánh nhẹ một tiếng chuông, rồi cúi đầu đảnh lễ. Âm thanh ngân vang của tiếng chuông như vượt qua không gian vô tận và vào chiều sâu của tâm hồn, làm lòng tràn ngập niềm vui lẫn xúc cảm không sao tả hết. Khi lắng lòng, chúng ta sẽ cảm thấy biên giới giữa không gian và thời gian không còn, trở thành vô biên, vô ngại.

Nhìn lên Tôn Tượng của Đức Phật, gương mặt thoáng nhẹ nụ cười mỉm, thanh thoát như toả ra một sức sống hiền dịu. Một con người bình thường siêu việt trên những con người bình thường, xuyên suốt từ ngày Đản sanh, tầm đạo, và đắc quả vị Phật, tất cả như những thước phim mầu nhiệm, vô giá, nối kết quanh một nhân vật lịch sử của nhân loại- Đó là Đức Phật. 

Sức mạnh hay uy lực nào mà qua những hình ảnh linh diệu của cuộc đời đó lại có tác động mạnh đến muôn loài như vậy. Vì tất cả loài người từ ở nơi đâu, bất cứ quốc độ nào v.v.. nếu như biết hoặc nghe danh được Đức Phật và khi nói đến Ngài- đều phải kính phục đối với Trí tuệ siêu việt và tấm lòng Từ vi vô hạn của Ngài, vì  Đạo Phật là đạo của Hoà bình, của Tình thương, của hạnh phúc, Giải thoát và An lạc.

Những giọt sương trên cành cây lung linh theo gió, chiếu rực rỡ dưới ánh sáng mặt trời vừa ló dạng, chợt tan biến để chào đón một ngày mới xuất hiện. Một ngày thật đẹp, tưởng chừng như một ngày đẹp như bao nhiêu ngày đã qua. Nhưng hôm nay, ánh sáng của mặt trời  khác lạ, trong dịu. Gió đã bao lần thổi, bao lần nối tiếp qua, nhưng lại bỗng nhiên êm đềm mát mẻ lạ thường. Bầu trời, có những đám mây vân du thay đổi màu sắc, trong xanh rồi chuyển dần qua những năm sắc màu hiền dịu, rồi hoà lẫn với nhau. Màu sắc là màu của thế giới thẩm mỹ, là màu của nội tâm sâu thẳm. Có tiếng nhạc du dương, thánh thót…của các cõi trời, của Càn Thát bà vang vọng. Có mùi hương toả khắp không gian…tạo thành một không gian thánh thiện, an lành và hạnh phúc. 

Mọi tâm ác bỗng run sợ, trở nên hiền hoà. Mọi thù hằn, ganh ghét, oán giận …biến thành thương yêu. Mọi khổ đau của các hữu tình đều dập tắt. Âm thanh của muôn loài đồng  cất lên tiếng hát hoà bình, an lạc. Muôn sinh linh trong các cõi đều cảm thấy mình được yêu thương, tôn trọng, tự tại, thanh thoát, có giá trị thật sự, không vì lợi mình mà hại người, hại vật. 

Các cõi trời đều vân tập lại, dày đặc trên hư không, rải hương hoa cúng dường. Muôn lòng đều chấp tay cung kính hướng về Vườn Lâm tì ni ( Lumbini ).

Hoàng Hậu Maha Maya trên đuờng về quê ngoại để chuẩn bị cho ngày sanh Thái tử, tách rời đoàn quân hộ tống cùng các tì nữ, đi hướng về cây Vô ưu. Cây Vô ưu vừa lúc nở hoa- đoá hoa mà theo truyền thuyết chỉ nở khi có bậc Thánh nhân ra đời. Bà cảm thấy xúc động, bồi hồi, an lạc và lòng tràn đầy niềm vui sướng. Tay vịn vào cành cây Vô ưu, mặt toả đầy hạnh phúc. Bà làm một trợ duyên hy hữu trên thế gian, là sanh ra một Thái tử- một vị Phật sẽ thành

Một sự kiện tối quan trọng của lịch sử nhân loại vừa xuất hiện- đó là sự Đản sanh của Thái tử Tất Đạt Đa ( Siddharta )- hoặc là  Bồ tát Hộ Minh trên cung Trời Đâu Suất giáng thế do đại nguyện độ sanh đã nuôi dưỡng qua bao nhiêu kiếp tu hành. 

Những hạt mưa nhẹ do chín rồng phun xuống để tắm rửa thân Thái tử. Muôn hoa, cỏ lá, chim chóc, các loài…đồng mở tâm chào đón Ngài. 

Vườn sen tâm vừa mở
toả ngát một trời hương
Phât tức thời thị hiện
Trên mặt đất nhiệm màu
đất của hồn nhân loại 
đất của tâm mọi người
   ( Minh Thanh )

Các cõi trời người đều rung động. Các ma quân sợ hãi, qui phục. Trên mặt của vị Thái tử vừa chào đời, nụ cười chớm nở. Bước đi bảy bước, từng cánh sen nâng đở chân của Thái tử. Hương thơm của hoa ngào ngạt.  Hoa sen mọc lên từ bùn nhơ, những bước chân dẫm lên  trên bảy đoá sen tinh khiết, an lành. Tay chỉ trời, tay chỉ đất :

Thiên thượng thiên hạ
duy ngã độc tôn

Một cảnh tượng đẹp quá, huy hoàng, chấn động lòng người. Biểu tượng và huyền thoại lẫn vào nhau, đan thành hiện thực. Vị Thái tử lịch sử là linh hồn sống động của biểu tượng, khởi đầu đã bước chân dẫm trên những thất tình lục dục, để vượt lên toả ngời, như ánh mặt trời soi chiếu, làm tan biến bóng tối âm u, như những đoá sen vươn lên khỏi đất bùn. Bảy đời chư Phật của hiện kiếp cũng đều như vậy, vượt trên những giả tướng để hiển lộ chân tướng, vươn lên những năm trược của cuộc đời để chỉ dẫn cuộc đời.
 

Mội cõi không gian ngời rực sáng
Muôn lòng thanh tịnh tận trời mây
trần gian chợt tỉnh, vui hoan lạc
chấp tay đổng hướng chốn nhiệm mầu

từ trong bóng tối, Vô Ưu nở
từng bước chân trần, bảy đoá sen
sen hồng toả ngát trời hoa thảo
một cõi chân tình, tỏ bước đi 
                                             ( Minh Thanh )

Tiếng chuông vẫn còn vọng vang xa, riêng tôi vẫn ngồi đây vững tâm, an tịnh, thảnh thơi trong quán tưởng. Vẫn biết rằng:” không thể lấy sắc tướng để thấy Ngài, không thể lấy âm thanh …để cầu Ngài”, nhưng một chúng sinh như tôi vẫn không thể làm khác hơn được, vẫn phải đảnh lễ, vẫn phải Xưng Tán về Ngài.

Thời gian đã qua trên 2631 năm, bây giờ, chúng ta chỉ cảm nhận được Ngài là một vĩ nhân trên các vĩ nhân, nhưng lại không quên nói đến bối cảnh cũng như những hành trạng viên dung, tuyệt đẹp của Ngài cho con người, cho cuộc đời, cho muôn loài….đó là những điều không thể nào nói đủ, dù đã biết bao nhiêu ngòi bút, bao nhiêu tác giả, bao nhiêu người ca tụng từ ngàn xưa cho đến ngày nay và mai sau  v.v…

Một xã hội tại Ấn độ với quá nhiều bất công, giai cấp ..đã tạo ra biết bao nhiêu nổi khổ cho  con người- nhất là những hạng người cùng đinh, vì tất cả nhân phẩm không còn một giá trị nào, do quan niêm phân chia giai cấp theo Thần quyền Ấn giáo đã có mặt và tồn tại từ bao ngàn năm qua.  Ngài là người đã phá bỏ những bất công đó :” Tất cả mọi người đều có nước mắt cùng mặn và dòng máu luân lưu trong cơ thể đều đỏ…” 

Sự xuất hiện của Ngài trên cõi Ta bà, còn lđể chỉ cho muôn loài nhận chân được Tánh Phật trong mình. Tánh Phật có mặt, toả sáng, vi diệu trên những mê lầm, nghiệp chướng, oán thù…Ngài chỉ cho chúng ta tìm thấy con người “ Nhân bản đích thực”  không phải ở một thế giới nào khác của loài người, không phải trên những từng mây cao vời vợi, mà Ngài chỉ cho chúng ta một vị Phật nơi chính mình : “ Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành “.  Con người Nhân Bản đó giải thoát khỏi sự chi phối của 3 độc tố của si – tham – sân cấu tạo nên cái bản ngã, định kiến, chấp thủ v.v…

Hy hữu thay ! Sung sướng thay ! Hạnh Phúc thay ! Chưa một vị Giáo chủ nào trên thế gian nói được lời nầy. 

Tôi chợt thấy mình quá nhiều phước duyên, dù đã trôi lăn qua bao nhiêu lần sanh tử tử sanh, được làm thân người và lại được là người con Phật. Con Phật sẽ hưởng được gia tài của cha là kho tàng vô tận- đó là Tánh giác của mình.

Chìa khoá mở cữa kho tàng đó, chính là sự Nghe ( Văn ), Suy tư ( Tư ) và Tu ( thực hành ). Không nghe, không suy tư và không chứng nghiệm được những gì Phật dạy qua công phu tu tập, thì đó là đi sai lạc con đường mà Đức Phật hướng dẫn, sẽ rơi vào tà kiến, mê tín.

Trong Kinh Kim Cang, Ngài Tu Bồ Đề đã thay cho chúng ta để hỏi Phật :

- ” Bạch Đức Thế Tôn ! Ngài thường hay giao phó sự nghiệp cho các vị Bồ tát. Như vậy, nếu muốn phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì nên nương tựa vào đâu và làm thế nào để điều phục tâm”. 

Đức Phật dạy rằng :”Nếu muốn  phát  tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì phải hàng phục tâm họ như sau. Có bao nhiêu loại chúng sanh hoặc sanh bằng trứng, hoặc sanh bằng thai, hoặc sanh từ sự ẩm ướt, hoặc bằng sự biến hoá, hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tri giác, hoặc không có tri giác, hoặc không phải có tri giác cũng không phải không có tri giác, ta phải cứu giúp các loài đó đạt được Niết bàn tuyệt đối để họ được giải thoát. Giải thoát cho vô số, vô lượng vô biên chúng sanh như thế mà kỳ thực ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, nếu có một vị Bồ tát mà còn có khái niệm về “ngã” về “nhân” về “chúng sanh” về “thọ giả”, thì vị ấy không phải là vị Bồ tát đích thực”.

Qua những lời dạy của Ngài, vượt qua những khái niệm mà đặt chính danh lại vấn đề. Tất cả yếu tố tạo nên luân hồi hay địa ngục, đều do tâm: vọng tâm, chấp trước, chấp ngã v.v… và tất cả yếu tố tạo thành một vị Bồ tát, một vị Tỉnh thức cũng đều do tâm: khoan dung, vô ngã- không ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả.

Tự trong tâm mà chúng ta đã tạo ra bao nhiêu cảnh đời, bao nhiêu hình dạng, hay biết bao nhiêu quốc độ để thọ sanh như não thai thấp hoá v.v…chỉ có sự quán chiếu, trực nhận, trực tâm để nhận thức được tất cả chỉ là giả tướng, để đạt đến vô tướng, để độ và chuyển hoá cho những trạng thái bấp bênh, vọng kiến do nhận thức sai lầm hay là gốc rễ ( chủng tử ) của ba độc tố si – tham – sân – đưa vào Niết bàn mới làm hiển lộ được Chân tâm hay Tánh giác.  “ Niết bàn của Diệu Tâm là Vô Ngã “ như lời của vị Thiền sư nào đó đã nói. 

Tất cả tùy tâm “Ứng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm “. Cái tâm lăn xăn được quán chiếu, nhìn sâu, mọi huyển tướng không còn trụ, và đèn tuệ hiện rõ.

Đèn tuệ sáng soi, vô minh tan vỡ
Tâm chân hoan hỉ, vọng niệm cúi đầu 
( Minh Thanh )

 Dù theo bất cứ pháp môn nào, dù thực hành bất cứ Tông phái nào như Tịnh độ với Tín Hạnh Nguyện để đạt Bát Chu Tam Muôi, đi vào Di Đà Tánh Thể hay Mật tông qua Thân Khẩu Ý tương ưng, nhập vào Tất Địa hay Thiền với Phật thiền, Tổ sư thiền, Thiền Minh Sát, thiền Quán, Chỉ ( Ngũ đình tâm quán ) v.v…để đi vào Không Tánh, tất cả đều phải do sự thực hành. Sự dụng công tu hành mới đem con người vượt qua những biên ải của vọng kiến, vọng niệm, thể nhập vào vùng trời bao la vô tận hay kho tàng vô giá mà Phật đã chỉ dẫn.

Sự dụng công tu hành còn đưa người con Phật mở rộng tấm lòng thực sự đối với chính mình và tha nhân, vì nhận chân được sư tương duyên tương sinh và tất cả mọi việc làm mới thực sự chân thật vì xuất phát từ tâm Bồ đề.

Trước bối cảnh của một thế giới mang nhiều phân chia, chiến tranh, thù hận, bất công…do những dị biệt về văn hoá, chánh kiến, tôn giáo, địa dư …Một con người bình thường nếu biết yêu con người, yêu mạng sống, yêu những yếu tố làm nên những nền văn minh tâm linh của nhân loại, trước những khổ cảnh như hiện đang xảy ra, thảy đều bàng hoàng, đau xót- Huống gì là người con Phật.

Chúng ta không thể nói rằng đó là chuyện những người khác, ở đâu đâu, không liên quan đến mình. Đó là một quan niệm thật sai lầm, không nhận thức được tánh duyên sanh của mọi Pháp trong Đạo Phật và không nhận thức đúng ý nghĩa Sự Đản sanh của Đức Từ Phụ.

Sự thật phủ phàng là sự chia rẻ, hận thù, cực đoan v.v.. đã len lỏi vào tất cả mọi môi trường và nực cười, đau đớn thay vì ngay chính cả tôn giáo cũng bị xâm phạm…do thành kiến, cố chấp, bảo thủ, độc tôn… làm cho con người không thể nhìn nhau, đến với nhau. Kinh nghiệm đau thương nầy, khi nhìn lại thấy rằng tất cả những người lớn, cha ông, những người hữu trách trong quá khứ đã vô tình hay hữu ý, tạo ra biết bao nhiêu oan nghiệt, đớn đau, thảm cảnh v.v… mà thế hệ hiện nay đang lãnh chịu và còn ảnh hưỡng đến các thế tương lai. 

Chúng ta không thể nói đoàn kết khi chúng ta còn chia rẻ. Chúng ta không thể nói hãy yêu thương nhau, chở che cho nhau trong hoàn cảnh thương tâm hiện nay ở mọi nơi trên thế giới, khi chúng ta không thể tiếp cận, nhìn nhận nhau.  Trong tâm của chúng ta còn có biết bao nhiêu hạt giống của ác nghiệp chưa gột rữa, vượt qua…kiến không thể cho nhau bàn tay nắm, chia xẻ… 

Chúng tôi hiểu và trân trọng tất cả những người một thời đã qua hay hiện nay, ở vị trí quí vị…quí vị đã làm hoặc đang làm hay suy nghĩ sẽ làm… đều vì muốn đem sự tốt đẹp, hạnh phúc, an lạc cho con người, và không ai có thể nhẫn tâm đùa giỡn trên nổi khổ đau của đồng loại do sự ích kỹ, chấp ngã của mình. Cho nên, chúng tôi cầu xin rằng : 

Ngày Phật Đản sanh là Ngày mang lại Hạnh phúc- An vui cho nhân loại do tấm lòng Từ bi và Trí tuệ của Đấng Cha Lành, muốn cho con người ý thức được thân phận mỏng manh của kiếp người mà làm những gì hữu ích hơn cho mình, cho xã hội, cho đồng loại.

Cuộc đời đã có nhiều bất công, đổ vỡ, hận thù, chia rẻ…chúng ta không thể vì sự riêng tư, ích kỹ, thiếu lòng thành thật  v.v....mà gây khổ đau cho nhau.

Một kiếp người rồi cũng trôi qua. Danh vọng, tiền tài, vật chất …tất cả đều biến thiên, vô thường. Và quan trọng hơn hết- thân mạng con người thật tối ư quan trọng. Không có thân, chúng ta không thể làm được gì hết. Tâm phải có thân để thể hiện và thân phải theo tâm để làm những lợi ích cho đời, cho người, cho muôn loại. Nhưng : thân thì thật vô thường và với cái thân quá mong manh nầy, chúng ta sẽ làm gì ? 

Tất cả người con Phật sẽ làm gì ? Đây là một vấn đề, một suy tư lớn, thật quan trọng…mà chúng tôi nghĩ rằng tất cả người con Phật có lòng với Đạo, với đời, với Đất nuớc. với con người v.v…nhân ngày Khánh Đản của Đấng Cha Lành, cần quan tâm, quán chiếu đến. Mình không thể nói bất cứ ai điều gì dù là nói về Từ bi, Hạnh phúc, An lạc, Đoàn kết v..v..khi chính mình không có hoặc là không nuôi dưỡng chính những chất tố thánh thiện được nói và khuyên nhủ người khác. Đức Phật được gọi là Như Lai, vì Ngài nói và làm được chính những điều mà Ngài đã nói và chỉ dạy. Là người con Phật, chúng ta phải học và làm theo hạnh của Ngài.

Cho nên, Đức Phật không chỉ Đản sanh nơi vườn Lâm Tì Ni cách đây trên 2631 năm, mà Đức Phật đang và còn mãi có mặt trong từng sát na, từng giây, từng giờ và bất cứ nơi đâu khi con người còn đau khổ do vọng chấp, vô minh..

Đó là một ước mơ rất tầm thường nhưng cũng là nguyện lớn, hướng đi làm lợi ích cuộc đời- của tất cả mọi người con Phật thành kính dâng lên Đức Phật nhân Ngày Đản Sanh của Ngài.

Nam mô lâm Tì Ni viên trung, thị hiện Đản sanh, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
 

27.05.2007

Cư sĩ Liên Hoa kính bái

NGHĨ VỀ NGÀY QUỐC LỄ PHẬT ĐẢN
TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC
Thích Thanh Thắng 


Người Ấn thường dùng hoa sen để chỉ cho sự ra đời của Đức Phật. Tổ tiên chúng ta đã đồng cảm về điều ấy, nên 2.000 năm về trước, từ những nụ sen mọc trên khắp quê hương, trí tuệ và phẩm hạnh của Đức Phật đã nở hoa trong tâm thức văn hóa Việt. Cũng với tâm thức gần gũi ấy, Đức Phật đã trở thành ông Bụt, hiện thân cho tình thương, lẽ công bằng, rồi nhanh chóng đi vào cổ tích, huyền thoại và phương thức ứng xử của mọi người… Và kể từ khi chùa Khai Quốc (Mở Nước) được dựng nên, vị hoàng đế và nền văn hóa tự chủ đầu tiên đã khẳng định Đức Phật ở trong tâm mình… Đức Phật của dân tộc Việt Nam. 

Dẫu chưa có nhiều tư liệu cung cấp đầy đủ những thông tin về ngày Lễ Phật đản, nhưng thông qua mối liên hệ và quy mô của những lễ hội được ghi chép trong sử sách, chúng ta có thể tìm ra sự dung hội trong đời sống tín ngưỡng tâm linh của người Việt. Từ đó xây dựng dù chỉ là khái quát bức tranh về ngày lễ Phật đản trong một mối liên hệ đặc thù với văn hóa bản địa. Sâu rộng hơn cả chính là các lễ hội Phật giáo được nằm trong sự bảo trợ đầy thành kính của nhiều vị vua Phật tử. Có thể nói, ở điểm này, nhiều nhà lãnh đạo đã bộc lộ tầm nhìn bao quát, sáng suốt trong việc ổn định chính trị, cũng như đáp ứng được khát vọng tâm linh, thể hiện trách nhiệm của người Phật tử trước dân tộc, tiến tới xây dựng một xã hội nhân nghĩa, thuần hậu trong sự khác biệt, ước thúc lẫn nhau của ba hệ tư tưởng Phật - Đạo - Nho đương thời, mà ở đó, Phật giáo luôn giữ vai trò trung tâm, hòa giải. 

Đại Việt sử ký toàn thư có viết, vào đời vua Lý Thánh Tông, năm Nhâm Tý, Thần Vũ 1072: “Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 8, vua xem lễ tắm Phật”. Còn vua Lý Nhân Tông: “Mùa hạ, ngày mồng 8 tháng 4, xa giá ngự đến, đặt lễ cầu phúc, bày nghi thức tắm Phật, hàng năm lấy làm lệ thường”… 

Trong Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, Nguyễn Công Bật viết về không khí đầy sinh động của ngày lễ Phật đản như sau: “Nhà vua tôn sùng đạo Phật, hâm mộ thắng nhân. Mở chùa Diên Hựu ở tại vườn Tây. Dấu vết theo quy mô thuở trước, lo toan cho thánh ý ngày nay. Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao chồi lên một cột đá, trên cột đá có một đóa hoa sen nghìn cánh xòe ra. Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm, trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang bao bọc. Ngoài hành lang lại có ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. Ở sân trước cầu, hai bên tả hữu xây tháp báu lưu ly. Để mồng một hàng tháng, để mùa xuân hàng năm, nhà vua thân ngồi xe ngọc, đến mở tiệc chay. Hương hoa bày ra hình thức kỳ an, bồn chậu đặt lễ nghi tắm Phật. Trang sức tướng tinh thành cho năm chúng, hoặc hở vai tiến thoái nhịp nhàng, tạo đội ngũ thiên vương ở bốn phương, nâng khí cụ bồi hồi nhảy múa. Tinh cần chẳng trễ, kính phụng nào ngơi. Vì vậy mà huyền tạo linh thông, đều cùng phù hộ”… 

Việc nhân dân, triều thần quy ngưỡng về ngày Phật đản và đích thân nhà vua làm chủ lễ cho thấy Phật đản thực sự là một ngày Quốc Lễ. Và trong không khí của ngày quốc lễ đó, các vị vua không chỉ thể hiện lòng thành kính nhất tâm quy Phật, thể hiện tinh thần từ bi, khoan thứ mà còn gửi gắm tâm nguyện trị quốc an dân, giữ vững nền độc lập dân tộc. Điều này nói lên sự thâm nhập của Đạo Phật vào tận nguồn cội của văn hóa Việt Nam, đến mức không thể phân chia được. 

Đơn cử vào ngày Lễ khánh thành tháp Sùng Thiện Diên Linh, hoàng đế đã đích thân tham dự: “Khói trầm đàn như mây tỏa khắp sơn khê, bóng cờ phướn như ráng phô đầy muôn ngả. Chuông trống vang lừng, khánh tiu rộn rã. Phía trước xe mây Tam bảo, đằng sau kiệu báu thánh hoàng. Dốc nghiêng xanh tía sáu cung, về hết trẻ già muôn nước. Điện hoa vắt ngang phía trước, chùa Phật mở rộng bên trong. Hội tăng ni trai khiết, diễn Giác đế chân kinh. Hoàng đế nghiêm trang, đọc kệ đoạn cúi đầu tạ lễ; cung nga khép nép, nghe kinh xong dâng sữa múa ca. Thổi cơm chay trắng muốt, thết khách đói qua đường; phát tiền quý ùn ùn, cấp dân nghèo khắp chốn. U hiển đều về, thiên long cùng đến. Đem lực công tối thượng, phúc đức vô lường, ca ngợi hoàng cương vững bền như trời đất; cầu mong bảo vận vằng vặc như trăng sao. Sớm sinh thái tử, nối mãi mệnh trời. Mong gốc ngành ngàn thuở, cầu xã tắc muôn năm. Cỏ lướt nhiều phương, qùy nghiêng muôn nước. Thần dân yêu mến, tổ khảo khuông phù. Thần đạo giúp ngầm, trời người nâng đỡ” (Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh). 

Sự mô tả này cho thấy, chính tinh thần và tâm nguyện dựa trên nền tảng Phật pháp đã có sức vận động lớn lao sức dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Vì thể hiện mạnh mẽ lòng tự hào dân tộc nên đã quy tập được các tư tưởng khác nhau phục vụ cho công cuộc chung. Đặc biệt, các vua Lý đều nhân dịp mở hội Phật mà đại xá thiên hạ, tha tội cho các tù nhân, chu cấp tiền, lương cho dân nghèo… Điều đó càng tăng thêm ý nghĩa và sức sống của Phật pháp. Đến nỗi sử Nho Ngô Sĩ Liên phải viết: “Nhân Tông thường nhân việc mở hội Phật mà tha cho người hết tội, là không phải lẽ, nhưng mà còn mượn tiếng hội Phật. Còn như vua Thần Tông thì không có việc gì mà cũng tha bổng”. Lòng nhân ấy đã hướng dẫn hành vi của nhiều nhà lãnh đạo, nên đã tránh cho dân tộc không đi vào con đường chiến tranh hận thù, huynh đệ tương tàn, mà có một đời sống tâm linh phong phú, vì thế lịch sử đã minh chứng rất rõ, thời đại Lý - Trần là thời đại mà con người sống khoan dung, nhân hiếu, thuần hậu và giàu bản sắc hơn hết. 

Chúng ta đã từng có một ngày quốc lễ trang nghiêm, hoành tráng, nô nức, hân hoan… như thế. Nhưng vì chiến tranh, vì những nhận thức sai lầm về văn hóa trong một thời gian dài, Lễ Phật đản nhiều lúc đã bị thu hẹp không gian văn hóa, tâm linh, và vì nhiều lý do khác nhau, đến nay vẫn chưa có nhiều dấu hiệu phục hồi thực sự. Thế nên, chỉ có tinh thần khoan dung tư tưởng và đời sống giàu bản sắc của nghìn năm về trước mới đủ cơ sở để chúng ta vượt qua mọi giới hạn của nhận thức, mọi thái độ hẹp hòi trong văn hóa, và chỉ có tinh thần tự tôn, thủy chung với dân tộc, người Phật tử mới có thể “gặp Đức Phật trong lòng dân tộc”, bởi không ít lần chúng ta đã bỏ quên Đức Phật của dân tộc mình, của tâm hồn mình. Như vậy, ngày Lễ Phật đản không chỉ là ngày chúng ta tỏ lòng tôn kính Đức Phật, tri ân tổ tiên đã làm rạng danh non sông mà còn là ngày chúng ta tìm lại cho chính mình một ngôn ngữ của yêu thương và hòa bình. 
 

 Nguồn: vanhocphatgiaocom
 
 

05-30-2007 12:30:13
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap