ĐẢN
SINH CỦA ĐỨC PHẬT
Kiêm
Đạt
Dẫn
nhập
Đức
Phật ra đời cách đây đã hơn hai thiên niên kỷ. Thời ấy,
phương tiện ghi chép lịch sử chưa được như ngày nay, chủ
yếu là truyền miệng từ đời này sang đời khác, nên việc
lưu lại lịch sử Đức Phật rất khó chính xác. Tuy nhiên,
không vì thế
mà
chúng ta không khẳng định được những nét cơ bản hợp
lý trong lịch sử cuộc đời Ngài. Những cứ liệu lịch sử
do các nhà khoa học chứng minh thì đã rõ, nhưng những truyền
thuyết dân gian cũng không thể chối bỏ, bởi truyền thuyết
cũng phần nào dựa trên những yếu tố cơ bản có thật để
xây dựng. Những tình tiết dù không có thật nhưng cũng nói
lên, phản ánh được tinh thần của vấn đề. Con người
không thể bảo rằng cái gì chưa chứng minh được thì điều
ấy là không có thật. Ngày nay, khi mà khoa học chưa thể tìm
ra một cách đầy đủ về cuộc đời Ngài, thì truyền thuyết
là những nét chấm phá để chúng ta có thể dựa vào đó
mà hoàn thiện hình ảnh một con người vĩ đại đã mang lại
cho nhân loại sự độc đáo về tư duy, về triết học; mang
lại cho những người quan tâm đến đời sống tâm linh một
con đường an lạc, giải thoát siêu việt, và thiết thực
nhất là mang lại cho xã hội một nền tảng đạo đức cao
cả về lòng từ bi, vị tha vô lượng. Có khá nhiều sử sách
ghi chép khác nhau về năm sinh, năm xuất gia của Đức Phật.
Điều này có nhiều nguyên do (do quan niệm, do cách suy luận,
do dựa vào nhiều cứ liệu lịch sử khác nhau...) nhưng nguyên
do cơ bản nhất có lẽ là xuất phát từ đặc điểm tư duy
của người Ấn Độ. Người Ấn xưa không đặt nặng vấn
đề thời gian, chính vì vậy mà lịch sử Ấn Độ xưa thường
không chú trọng việc ghi chính xác ngày tháng. “... Người
Ấn chú ý đến những điều giáo huấn, nghi thức hơn là
tính chính xác của lịch sử” (Nguyễn Tấn Đắc - Văn hóa
Ấn Độ). Tuy nhiên, dù chưa xác định chính xác niên đại,
thì năm sinh của Đức Phật - theo một số sách sử nghiên
cứu, được nhiều ý kiến đồng tình, ghi lại - cũng chỉ
dao động trong vòng khoảng 100 năm. Do vậy, chúng ta có thể
chấp nhận được, vì điều này không ảnh hưởng đến hệ
thống tư tưởng giáo lý của Ngài, bởi trong vòng một thế
kỷ, hệ tư tưởng con người không có sự khác biệt nhiều.
Về
niên đại
Ða
số sử gia Âu châu nghiên cứu Ấn Ðộ cho rằng năm 563 trước
CN là năm sinh của đức Phật và cũng là niên đại sớm nhất
được xác nhận. Niên đại ấy được tính toán cách nào
và khả năng sai lạc lớn đến mức nào?
a)
Vì sử sách cổ Ấn Ðộ chỉ ghi các khoảng cách giữa các
sự kiện mà không ghi niên đại của các sự kiện ấy như
các sử sách về sau, cho nên muốn xác định niên đại trong
sử Ấn Ðộ cần phải thỉnh cầu đến các sử gia Hy lạp.
Các quan hệ Ấn - Hy phát triển là do kết quả chiến dịch
Ấn Ðộ của Ðại Ðế Alexander (327 trước CN). Vào khoảng
năm 303 trước CN, Hoàng đế Ấn Ðộ Candragupta Maurya (hay Candagutta
Moriya, triều Khổng Tước) đạt được một thỏa hiệp về
lãnh thổ và mở màn quan hệ ngoại giao với vị cựu đại
tướng của vua Alexander là Seleukos Nikator hiện thời cai trị
thành Babylonia. Qua các báo cáo của sứ thần Hy lạp là Megasthenes
được bổ nhiệm đến thủ đô Pàtaliputta (Patna ngày nay),
vua Candragupta dần dần được các sử gia Hy Lạp biết rõ
qua danh hiệu Sandrokottos trong tiếng Hy lạp, và nhờ các sử
gia này, chúng ta có thể tính niên đại ngài lên ngôi vào
năm 321 trước CN.Niên đại này còn cho chúng ta xác định
các niên đại của chuỗi sự kiện liên tục được liệt
kê trong sách sử ký tiếng Singhala là Dìpavamsa (Ðảo Sử)
và Mahavamsa (Ðại Sử) khoảng thế kỷ thứ tư đến thứ
sáu CN. Theo các sách này, (Dv5.100; Mhv 5.18), vua Candragupta trị
vì hai mươi bốn năm (đến 297), hoàng nam kế vị ngài là
Bindusàra (Tần-đầu-sa-la) trị vì hai mươi tám năm (đến
269), tiếp đó là khoảng bốn năm trước khi Asoka, con vua Bindusàra,
lên ngôi bằng cách tiêu diệt tất cả hoàng gia huynh đệ
và tự làm lễ quán đảnh phong vương (Dv 6.21; Mhv. 5.22). Như
vậy biến cố này có lẽ đã xảy ra vào năm 265 trước CN.Ta
có thể nhìn lui về ngày đức Phật đản sinh dựa vào lời
xác nhận trong cả hai sách sử ký này (Dv 6.1; Mhv 5.21) rằng
vua Asoka lên ngôi hai trăm mười tám (218) năm sau khi đức Phật
diệt độ (Bát Niết-bàn). Sự kiện này do vậy được ghi
vào năm 483 trước CN. Và vì Bậc Ðạo Sư sống đến tám
mươi tuổi, năm đản sinh của ngài nhằm vào năm 563 trước
CN.Mặc dù con số hai trăm mười tám năm giữa thời đức
Phật diệt độ và vua Asoka tức vị được xem là đáng tin
cậy, cách tính toán này cũng có nhiều nhược điểm. Về
một phương diện, các năm trị vì của vua chúa thường được
làm tròn cho chẵn số, và một phương diện khác, ta không
nên bỏ qua sự kiện là trong sách Purànas (Chuyện Cổ Nhân)
cho rằng vua Bindusàra chỉ trị vì khoảng hai mươi lăm năm.
Như vậy cách tính toán dựa trên các sử ký cần được kiểm
tra lại từ nhiều nguồn khác nữa.
b)
-Một nguồn thông tin khác do các sắc dụ của hoàng đế Asoka
cung cấp, các sắc dụ này được hoàng đế Devànampiya Piyadasi
(Thiên Ái Thiện Kiến, tức A-dục) truyền khắc lên đá và
đặc biệt truyền dựng thạch trụ khắp đế quốc vĩ đại
của ngài. Sắc dụ trên thạch trụ số XIII, ghi ngày chinh
phục đẫm máu nước Kalinga (Orissa) của vua Asoka tám năm sau
khi ngài đăng quang, và trụ này có lẽ được xây dựng mười
hai năm sau biến cố ấy, nêu danh tánh năm vị vua không phải
người Ấn Ðộ mà hoàng đế Asoka đã tiếp kiến, đó là:
Antiochus II của nước Syria, Ptolemy II của Ai Cập, Antigonus
của Macedonia, Magas của Cyrene và Alexander của Epirus. Niên đại
của các vua này đều được biết rõ, và năm gần nhất các
vua này vẫn còn sống là 258, như vậy đó cũng có thể là
năm gần nhất của sắc dụ này. Tính lùi lại mười hai năm
sau ngày vua Asoka lên ngôi, cọng thêm 218 năm được nêu trong
các sử ký, ta đạt con số 488 trước CN dành cho năm đức
Phật tịch diệt và năm 568 dành cho năm đản sinh của đức
Phật.Một điểm sai lạc có thể thấy ở đây nằm trong khoảng
thời gian giữa năm đăng quang của hoàng đế Asoka và năm
ban hành sắc dụ, khoảng ấy có thể hơi ít hơn mười hai
năm.
c)
Các sử gia Trung Hoa cũng hỗ trợ một phần qua sách "Ðiểm
Sử Ký" của Quảng Châu, sách này trình bày rõ mỗi điểm
tượng trưng một năm sau thời đức Phật diệt độ. Xuống
đến năm 489 CN, sách này nêu ra 975 điểm, tức là đặt thời
đức Phật diệt độ vào năm 486, và đản sinh vào năm 566
trước CN. Dầu tính cách chính xác trong sử sách của người
Trung Hoa đáng tin cậy đến đâu chăng nữa, thì cũng không
phải là không có sai lầm, nhất là vì đạo Phật đến Trung
Quốc khá trễ và các sử gia Trung Hoa đã không khởi công
viết sử ký ngay khi bậc Ðạo Sư Ấn Ðộ tịch diệt.
d)
Ta cũng có thể xem xét truyền thống Kỳ-na giáo. Vị tổ sáng
lập đạo này là Jina (Thắng giả) hay Mahàvira (Ðại Hùng),
người đồng thời với đức Phật, sống đến bảy mươi
hai tuổi và được Kinh Ðiển Phật giáo nhắc đến qua danh
hiệu Nigantha Nàtaputta( Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử).
Các
học giả Âu Châu thường ghi đạo sư Mahàvira mất năm 476
trước CN theo lời tuyên bố của Hema Candra, một tu sĩ Kỳ-na
(thế kỷ 12 sau CN) rằng sự kiện vua Candragupta Maurya lên ngôi
(năm 321 trước CN) xảy ra cách 155 năm sau khi tổ sư Mahàvira
tịch diệt (Nirvàna). Nhưng các học giả đạo Kỳ-na lại
tranh luận sự chính xác của con số này và nêu ra điểm sai
lầm đã được thừa nhận của Hema Candra và nhiều đoạn
trong kinh điển Kỳ-na đã đặt con số 215 năm giữa cuộc
chinh phục vương quốc Avanti của vua Candragupta (312 trước
CN) và sự từ trần của tổ sư Mahàvira. Cách tính này sẽ
đặt sự kiện tổ Mahàvira tịch vào năm 527 trước CN. Năm
này được xem là khởi điểm của biên niên sử đạo Kỳ-na
(sử này chỉ mới được khai sinh sau CN) .
Giá
trị tư liệu về đản sinh
Thời
gian gần đây, nhiều học giả đã nỗ lực xây dựng lại
cuộc đời Đức Phật lịch sử – bậc Thánh Triết của
dòng họ Thích-ca (‘Saakyamuni). Tác phẩm "Cuộc Đời Đức
Phật qua Truyền Thuyết và Lịch Sử" (The Life of the Buddha as
Legend and History) của ông E. J. Thomas (1927) là quyển cổ điển
nhất. Một tác phẩm uyên bác quý báu thứ hai là của Tỳ-kheo
~Nyaa.namoli. "Cuộc Đời Đức Phật" (The Life of the Buddha) (1972).
Tác phẩm này bao gồm những bản dịch chọn lọc từ kinh
điển Paali và các bản sớ giải đã được sắp xếp và
xác định tác giả, chẳng hạn như được những vị đệ
tử trực tiếp của Đức Phật như Ngài A-nan-đa (AAnanda),
Ưu-ba-ly (Upaali) trùng tuyên, hoặc các bản giải thích của
những nhà sớ giải truyền thống. Khi làm việc với các tham
khảo liên hệ đến các sự kiện lịch sử quý hiếm này,
một cách khác của việc xây dựng lại cuộc đời Đức Phật
là phải chú ý nghiêm túc đến những tư tưởng triết học
mà Ngài đã trình bày, và làm thế nào để phản ánh những
triết lý ấy qua đời sống và hạnh nguyện của Ngài. Một
nỗ lực như vậy đã được thể hiện qua tác phẩm Con Đường
Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatha): Cuộc Đời Đức Phật (The Way of Siddhartha:
A Life of the Buddha) xuất bản năm 1982. Vì tác phẩm này[1] trình
bày đại cương về những lời dạy triết học của Đức
Phật, tưởng cũng nên có một chương giới thiệu nhằm tóm
tắt toàn bộ nội dung của tác phẩm vừa nêu "Bụt"
(Buddha), nghĩa là "Người Giác Ngộ" là thuật ngữ được
biết khi Bồ-tát Sĩ-đạt-ta chứng thành Phật quả. Cha của
Thái tử là vua Tịnh-phạn (Suddhodana) trị vì một vương quốc
nhỏ thuộc dòng họ Thích-ca (‘Saakyan) dưới chân Hy-mã-lạp
sơn (Himalayas). Thủ đô của nước là Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu).
Mẹ của Thái tử là Hoàng hậu Ma-da (Maayaa), Bà đã băng hà
sau khi hạ sinh Thái tử. Em gái của hoàng hậu là Ma-ha-ba-xà-ba-đề
(Pajaapatii Gotamii) nuôi dưỡng Ngài suốt thời thơ ấu. Được
trưởng thành trong môi trường tiện nghi, hưởng thụ những
đặc ân mà biết bao những đứa trẻ khác không có được
trong bối cảnh xã hội đầy dẫy bất công giai cấp. Sĩ-đạt-ta
được giáo dục chu đáo trong chương trình đào tạo theo lối
truyền thống, võ thuật kiếm cung và những lãnh vực nghiên
cứu khác, thích ứng cho một vị vua tương lai. Tuy nhiên, ngay
từ buổi đầu, Thái tử dường như đã tỏ ra không phù hợp
với vua cha- người muốn thái tử sẽ trở thành vị nối
ngôi vua hơn là một triết gia hay một nhà lãnh đạo tôn giáo
– người phải đối đầu với tư tưởng và các giá trị
truyền thống. Những mâu thuẫn này được biểu hiện trong
một số huyền thoại ngay từ buổi đầu của cuộc đời
Ngài, đặc biệt là tiên đoán của tiên tri A-tư-đà (Asita
Kaaladevala) và những ngăn cản của vua cha không cho Ngài chứng
kiến những cảnh sinh già bệnh chết. Cách giáo dục truyền
thống bao gồm nghiên cứu các kinh điển Vệ-đà (Veda) cũng
như sáu môn khoa học phụ: ngữ âm học (‘sik.saa), tế lễ
(kalpa), ngữ pháp (vyaakara.na), từ nguyên học (nirukti), thi pháp
học (chandas), và thiên văn học (jyoti.s) . Như chúng ta
thấy trong kinh, cách nhận định sáng suốt về kinh điển
Vệ- đà của Thái tử, kiến thức về ý nghĩa và quá trình
phát triển tế lễ, đánh giá phê bình về cơ cấu chính trị
xã hội đương thời, lối phân tích chi tiết những quy ước
đạo đức, những tư tưởng sáng ngời về bản chất và
chức năng của ngôn ngữ, tất cả những điều này được
xem là những đặc tính của ngài, vốn không thể là kết
quả đơn thuần của đốn ngộ, lại càng không phải là toàn
trí mà Đức Phật đã từng phủ bác. Thật ra, sự giác ngộ
của Ngài có thể được xem như là sự kết hợp của phản
ứng chín chắn đối với sở học truyền thống mà ngài tiếp
nhận khi còn là Thái tử, với sự hiểu biết thâm nhập trọn
vẹn về nhân sinh và bản chất của hiện hữu.
Ý
nghĩa của sự thị hiện
Bắt
nguồn một tôn giáo nào, vị giáo chủ bao giờ cũng là một
tấm gương sáng cho tín đồ soi chung để tiến bước. Nhưng
trong các vị giáo chủ của các tôn giáo hiện có trên thế
giới này, không có một vị nào đầy đủ ý nghĩa cao
đẹp, một đời sống sâu xa bằng đức Phật Thích Ca Mâu
Ni. Mỗi hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, cho đến
mỗi im lặng của Ngài đều là những bài học quý báu cho
chúng ta. Nếu chúng ta học giáo lý của Ngài mà không hiểu
rõ đời sống của Ngài, thì sự học hỏi của chúng ta còn
phiến diện, thiếu sót. Đời Ngài chính là những biểu hiện
giáo lý của Ngài. Ngài nói và Ngài thực hành ngay những lời
Ngài đã nói. Đời Ngài là một bằng chứng hiển nhiên để
người đời nhận thấy rằng giáo lý của Ngài có thể thực
hiện được, chứ không phải là những lời nói suông, những
không tưởng, những lâu đài xây dựng trên mây, trên khói.
Vậy cho nên khi chúng ta học hỏi đời Ngài, chúng ta không
nên có cái quan niệm học cho biết để thỏa mãn tánh hiếu
kỳ, mà chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa thâm túy của
đời sống ấy để đem áp dụng cho đời sống của chúng
ta. Làm được như thế mới khỏi phụ ý nguyện lớn
lao của đức Phật khi giáng sinh xuống cõi Ta Bà này và đã
cam chịu bao nỗi đau khổ, gian lao trong kiếp sống như mỗi
người chúng ta. Thường trong danh từ nhà Phật, khi nói
đến sự hiện diện của đức Phật Thích Ca trong cõi đời
này, người ta thường dùng chữ đản sinh (nghĩa là một sự
ra đời vui vẻ, làm hân hoan, xán lạn cho cõi đời); hay thị
hiện (nghĩa là hiện ra bằng xương bằng thịt, cho con mắt
trần của chúng ta thấy được); hay giáng sinh (nghĩa là từ
một chỗ cao mà xuống một chỗ thấp để sinh ra). Ba chữ
ấy đều có 3 ý nghĩa khác nhau: Chữ đản sinh dùng để ca
tụng một bậc tôn quí ra đời; chữ thị hiện hàm cái ý
Phật bao giời cũng có cả, nhưng vì mắt người không thấy
được, phải hiện rõ ràng ra mới thấy; chữ giáng sinh hàm
cái ý đức Phật ở một cảnh giới cao hơn, tốt đẹp hơn
mà hạ xuống cảnh giới phàm trần này. Ba chữ ấy mặc dù
khác nhau, nhưng đều có thể dùng để chỉ sự ra đời của
đức Phật. Trái lại, khi một nguời phàm ra đời thì gọi
là "đầu thai". Đầu thai có nghĩa là bị nghiệp báo hoặc
thiện hay ác bắt buộc phải luân hồi để chịu quả báo
lành hay dữ. Còn giáng sinh hay thị hiện thì không hàm cái
nghĩa bị nghiệp nhân câu thúc, mà do nơi lòng từ bi, muốn
lợi ích cho chúng sinh, nên tự nguyện ứng thân xuất hiện
ra đời trong một thời gian để cứu độ chúng sinh; xong xuôi
thì thâu thần tịch diệt, tự tại vô ngại ra ngoài sống
chết.
Tài
liệu cổ nhất về lễ Đản sinh
Công
trình sưu khảo của nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Bửu
Tập cho thấy niên đại về đức Phật đản sinh như
sau:
Sau
Thế Chiến Hai, Hội The Pali Text Society ở Luân Đôn là tổ
chức sưu khảo về đạo Phật quy mô nhất, tiếp tục chương
trình nghiên cứu và cọng tác với Viện Đại học Colombo
ở Tích-lan để dịch thuật, giảng giải các tài liệu cổ
văn Pali trên các bia đá, lá cót... tại các chùa. Năm 1972,
học giả tì-kheo Isabel Horner, chủ tịch Hội The Pali Text Society
công bố một số tài liệu mới tìm được trong quốc sử
Mahavamsa của nước Tích Lan. Một tài liệu nói về lễ cầu
mưa Gangarohana là một tập tục của dân Tích Lan theo đạo
Phật ngày nay còn tồn tại từ vùng quê đến thành thị.
Một tài liệu khác quan trọng hơn nói về lễ Đản sinh của
đức Phật. Dưới triều vua Dutthagamani (101-77 trước Tây lịch),
quốc sử ghi chép lễ Đản sinh do nhà vua thiết lễ cầu nguyện,
có cuộc rước kiệu tượng đức Phật do một nghìn thanh
niên cầm cờ kéo liễn đi hộ tống. Có thể tìm
hiểu qua di chỉ ở các trụ đá Asoka (đại đế A-dục). Đức
Phật mất (nhập niết bàn) năm 544 trước Tây lịch. Hai trăm
năm mươi năm sau, nước Ấn Độ có vua Asoka hoằng dương
đạo Phật. Vua cho khắc trên trụ đá và vách đá các bổn
ngự chỉ tuyên dương sự tích và những lời răn dạy của
đức Phật. Cho đến bây giờ, các nhà khảo cổ đã tìm ra
được 35 di tích ngự chỉ, đánh số, khám đọc, và giải
thích cặn kẽ. Ngự chỉ số Bốn, tìm được tại núi Kandahar,
ngày nay thuộc đất Afghanistan, ghi lời dạy của nhà vua cho
con cháu phải tiếp tục phụng thờ đức Phật và dặn dò
mỗi năm ngày lễ Đản sinh, phải tổ chức trọng thể, thiết
lập cuộc rước kiệu đức Phật. Ngự chỉ số Sáu ở núi
Girnar, miền Tây Ấn Độ ghi rõ hơn cách lập kiệu để rước
tượng và di tích đức Phật, khi tổ chức lễ Đản sinh.
Như vậy, lễ Đản sinh đức Phật đã được thiết hơn hai
ngàn ba trăm năm trước, đặc biệt huy hoàng dưới triều
đại vua Asoka là người đã dựng lên 84000 ngôi tháp thờ
Phật.
Lễ
Đản sinh tại các quốc gia Tây Vực
Dưới
thời đại đế Asoka, đạo Phật đi vào các quốc gia ở miền
Vịnh Địa trung hải và các quốc gia ở miền Bắc và Tây
Bắc nước Ấn Độ. Từ Ấn Độ sang Trung Hoa, phía Đông
Bắc có dãy núi Hy-mã-lạp-sơn là một bức trường thành
bằng thép ngăn cản lưu thông. Phía Tây Bắc, dọc theo sườn
núi Kunlun sát vào hồ lớn Alma Ata là một số đô thị như
Kashgar, Yarland, Chokkuta và Khotan. Cao hơn trên phía Bắc, dọc
theo sườn núi Tienshan (Thiên sơn) là đất Thổ-nhỉ-kỳ tư-thản
(Chinese Turkestan), gồm bốn tiểu quốc cùng chung văn hóa là
các nước Aksu (còn gọi là Baruka), Kucha, Karashar (ngày nay là
quận Yen-ki thuộc Trung-hoa), và Turfan (ngày nay gọi là Kao chang).
Các quốc gia này kết thành một trục gọi là con Đường
Tơ Lụa, trục giao thông căn bản giữa Trung-hoa và các nước
Phương Tây ngày đó. Từ đầu thế kỷ Hai-mươi, các phái
bộ khảo cổ Tây phương khai quật các động đá nằm trên
trục Đường Lụa như Huân tước Aurel Stein, Albert Grunwedel,
Paul Pelliot (thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ Hà Nội) Các
công trình khảo cổ này phát xuất từ hai quan điểm tranh
đua nhiều khi đi gần đến chỗ thù nghịch của hai trường
khảo cổ La tinh và Anglosaxon, lại cũng đã đi tới một số
kết luận rất giống nhau. Những điểm kết luận đó có
thể tóm tắt làm ba mục: thứ nhất là các dân tộc sống
trên con Đường Lụa từ hai mươi thế kỷ trước đã thấm
nhuần đạo Phật rất sâu sắc; thứ hai là đạo Phật của
các sắc dân này mang nặng tập tục Đại thừa Mahayana; và
thứ ba -- điều quan trọng đối với người tìm học Phật
-- là các tài liệu văn tự của các bậc cao tăng Trung-hoa
"đi Tây vực tìm học đạo, đã quan sát tận chỗ, viết thành
sách" để lại, đã được chứng minh là những tài liệu
rất sát với "sự thật khoa học" ta quan niệm ngày nay.
Tại Tây tạng (Tibet), trước khi bị Trung-hoa cọng sản cưỡng
chiếm, nơi đây là đất Phật. Niên lịch Tây tạng ghi ngày
lễ Đản sinh là ngày 15 tháng Giêng âm lịch, là ngày quốc
lễ lớn nhất trong năm, gọi là lễ Son lan chen po (Lễ Đại
nguyện), liên hoan từ ngày mồng bốn cho đến ngày 21 tháng
Giêng. Đêm Đản sinh, tại thủ đô Lhassa, mỗi cơ sở công
hay tư, mỗi gia cư đều treo đèn, kết hoa. Đức Hoạt Phật
(Phật sống, Đạt-lai lạt-ma) ngồi trên kiệu có ban quốc
nhạc và đội binh bảo giá tháp tùng, đi viếng và chấm điểm
từng đơn vị trong thủ đô, nơi nào có trần thiết lễ.
Dân chúng từ mọi nơi trong nước, và cả ở ngoài nước
như Mông Cổ, kéo về thủ đô tham dự lễ Đại nguyện, cầu
xin đức Phật ban ơn một năm đầy hạnh phúc.
Lễ
Đản sinh tại Trung Hoa
Nước
Trung-hoa cổ, có bộ môn sử ký chép sự việc theo nguyên tắc
trung thực và theo thời gian. Theo thứ tự năm tháng, ta đọc
trong Pháp uyển Châu lâm, vào đời Đông Tấn (318-420 TL) có
người Thái Kiều đúc năm tượng Phật hài đồng để dùng
vào lễ Rước Kiệu, trong ngày lễ Đản sinh. Một tư liệu
cổ khác tìm thấy trong sách Cao tăng truyện, viết vào thời
Ngũ hồ, cũng tại Đông Tấn (319-351 TL), có người mộ đạo
tên là Thích Lộ, mỗi năm vào ngày mồng tám tháng Tư đến
chùa làm "lễ chiêm bái đức Phật ra đời," bằng cách tắm
tượng Phật bằng nước cam lồ. Học giả đạo Phật Trung-hoa
cho là truyền thống đản sinh tại nước Tàu bắt đầu từ
các chi tiết này.
Kế
đến, trong sách Ngụy Tấn Nam Bắc triều luận tập có đoạn
ghi vua Thái Võ đế nhà Ngụy (408-452 TL) nhân ngày Đản sinh,
ngự giá ra ngoài thành, thiết lễ rước kiệu Phật. Vua và
hoàng hậu đứng trên đài rải hoa lên tượng Phật sơ sinh
lúc đoàn kiệu đi qua. Một tư liệu cổ khác, theo thứ tự
thời gian, đọc được trong Phật tổ Thống ký, kể chuyện
vua Cao tổ Võ đế nhà Tống tên là Lưu Dũ, năm 462 TL, ngày
mồng tám tháng Tư, thiết lễ Đản sinh ngay trong cung điện
nhà vua. Cũng trong Phật tổ Thống ký, ta lại thấy vua Hiếu
Võ nhà Tây Ngụy (467-499 TL) cho lệnh rước tượng Phật trên
kiệu từ các ngôi chùa lớn ở Lạc Dương vào cung đình,
dâng hương hoa làm lễ Đản sinh ngày mồng tám tháng Tư, và
ra lệnh mỗi năm từ đó phải thiết lễ Phật đản như vậy.
Lại sách Lạc Dương Già Lam ký, mỗi năm trước một hôm
ngày Phật đản mồng tám tháng Tư, các chùa trong vùng Lạc
Dương phải rước tượng Phật trên kiệu đến Thanh Minh thiền
viện, tất cả hơn một nghìn tượng Phật để cử hành đại
lễ ngày hôm sau. Buổi lễ được cử hành rất tưng bừng
náo nhiệt đến nỗi một nhà sư từ Tây Vực đến viếng
Lạc Dương kể lại là "(ngày Phật đản) hoa vàng ngời sáng
dưới ánh dương, lọng hoa lợp kín như mây phủ, cờ phướn
giăng lên như rừng cây, trầm hương xông lên dày đặc như
sương phủ, tiếng kinh và tiếng nhạc rung chuyển đất trời"
(Kenneth Chen, "Buddhism in China", Princeton 1973, trang 279).
Đời
nhà Đường ở Trung Hoa là thời đại hoàng kim của đạo
Phật tại châu Á. Ta theo dõi được là dưới đời nhà Đường
(được ghi chép trong Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao tăng
truyện của thầy Nghĩa Tịnh (I Tsing, 635-713 TL) và đời nhà
Tống (được ghi chép trong Đại Tống chính biên) tức là
từ năm 618 đến năm 1279, lễ Đản sinh được thường xuyên
cử hành tưng bừng trong các chùa lớn nhỏ trong dân gian.
Sách
Phật tổ Thống ký thuật là dưới đời Đường, vua Hỷ
tông năm 873 TL, ngày tám tháng Tư, thiết lễ Phật đản bằng
cách rước kiệu di tích đức Phật từ Phụng hoàng Pháp môn
về Lạc dương. Vua và hoàng hậu ngự ra cửa An phúc đón
võng Phật vào nhà Thái miếu; dân chúng hân hoan nổi nhạc
đốt pháo vui mừng. Dưới đời Đường, lúc đạo Phật cực
thịnh, người ta đem từ Ấn Độ sang ít nhất năm di tích
xá lợi, của đức Phật. Chùa Pháp môn ở phía Bắc Kinh thành
Lạc Dương có một lóng xương tay của đức Phật; bốn chùa
khác trong thành mỗi chùa thờ trên tháp một chiếc răng của
đức Phật. Mỗi năm, vào ngày Phật đản hay ngày rằm tháng
Bảy, di vật này được chưng bày cho dân gian lễ bái chiêm
ngưỡng. Riêng di tích xá lợi lóng xương tay ở chùa Pháp
môn thì hằng năm, ngày lễ Phật đản, lại được rước
trên kiệu vào cung đình cho nhà vua hành lễ. Mỗi lần rước
kiệu lễ Phật đản là một cơ hội đình đám quá lớn,
dân chúng tham gia quá sức nháo nhiệt, lắm khi thành hỗn loạn.
Vì lý do đó, Hàn Dũ, một nhà Khổng học quá khích chống
đạo Phật, năm 819 viết bài sớ xin nhà vua bãi lệ Phật
đản (Kenneth Chen, đã dẫn, trang 280).
Đầu
thế kỷ thứ Mười TL, tại Huệ Lâm thiền viện phủ Khai
Phong, vị trụ trì là đại sư Nguyên Chiếu, muốn làm giảm
mối căng thẳng giữa đạo Nho và đạo Phật nên chấn chỉnh
nghi lễ của đạo Phật, đặt ngày Phật đản, lễ Tắm Phật
(còn gọi là Quán Phật) vào ngày mồng tám tháng Tư. Lễ Rước
kiệu cũng chỉ làm trong khuôn viên chùa. Chi tiết sự việc
đều ghi trong sách Đông Kinh Mộng Hoa lục chú (Đông Kinh là
phủ Khai phong).
Dưới
đời Nguyên, người Mông Cổ là những người mộ đạo Phật,
nên vẫn giữ tục lệ thiết Phật đản lớn vào ngày tám
tháng Tư. Người khai sáng ra nhà Minh, Chu Nguyên Chương, lúc
thiếu thời đi tu ở chùa, nên khi lập quốc, tôn thờ và
chỉnh đốn đạo Phật. Dưới đời Thanh, người Mãn Châu
vào chế ngự Trung Hoa cũng là những người mộ đạo Phật,
nên giữ các tập tục làm lễ Phật đản đã có từ nghìn
năm trước, cho tới khi tiếp xúc với Tây phương.
Nghi
lễ của đạo Phật tại Trung Hoa, từ cuối thế kỷ Mười
chín cho đến cuộc Cách mệnh Cộng sản được một nhà học
giả phương Tây Holmes Welch mô tả kỹ càng trong sách The Practice
of Chinese Buddhism 1900-1950 (Harvard University Press, 1973). Trước
Đại hội Kiết tập Sangiti lần Sáu (ta sẽ nói ở sau), người
Trung Hoa cử hành lễ Phật đản vào ngày tám tháng Tư, tại
chùa đông đúc thiện nam tín nữ tham dự, nghi thức được
tả rõ trong sách Holmes Welch (sách dẫn, trang 109 và tiếp theo).
Nghi lễ tại các chùa lớn tại Trung Hoa ngay cả trong thời
kỳ Dân quốc, đều cử hành theo quy luật ghi trong sách Bách
Trượng Thanh quy có từ đời Tống, và được thay đổi ít
nhiều dưới triều Minh, gọi là sách Chỉnh Huấn Bách Trượng
Thanh quy, dùng làm khuôn thước lễ nghi.
Lễ
Đản sinh tại Nhật Bổn
Nước
Nhật Bổn tiếp nhận đạo Phật vào thế kỷ thứ Sáu và
người Nhật phát huy đạo Phật vững mạnh cho tới ngày nay.
Theo Sử ký Nhật Bổn Nihonshoki, buổi lễ Đản sinh đầu tiên
được thiết vào ngày mồng Tám tháng Tư năm 606 TL (người
Nhật dùng dương lịch, nhưng các lễ Phật nhiều lúc vẫn
theo âm lịch Trung Hoa). Nữ hoàng Suy-Cơ (Sui-Ko, 593-628 TL) và
chồng là Thánh Đức thái tử (Shokotu) rất mộ đạo Phật,
ra lệnh cho tất cả các chùa, trong dịp lễ Đản sinh phải
thiết lễ và phát chẩn. Trong các chùa lớn và đền Thần
đạo tại Nhật ngày nay, một số tượng Phật đản sinh (hình
tượng đức Phật lúc mới sinh, một tay chỉ xuống đất,
một tay chỉ lên trời, miệng đọc câu "duy ngã độc tôn"),
tạc từ thời đại Nại lương (Nara) vẫn còn giữ được
nguyên vẹn, làm bằng chứng là lễ Phật đản đã được
cử hành trong các thế kỷ Bảy, Tám tiếp theo. Từ thế kỷ
Tám đến thế kỷ Mười hai (triều đại Bình An, Hei-an, 749-1185
TL), đạo Phật ảnh hưởng mạnh vào sinh hoạt xã hội và
văn hóa nước Nhật, các buổi lễ Phật càng được cử hành
lớn, dựa vào hoàng gia và quý tộc.
Qua
triều đại Kiếm thương (Kamakura, 1185--1335) Phật giáo Nhật-bổn
bắt đầu nhận chân những mối bất lợi vì lễ bái cúng
tế hào nhoáng gây ra và Thiền tông trở nên hưng thịnh. Thêm
vào đó là mối cạnh tranh với Thần đạo bây giờ có nhiều
khuynh hướng thực tiễn ái quốc, nên Phật giáo phải nhẹ
việc phô trương thanh thế bên ngoài, vì vậy càng giúp cho
Thiền tông nẩy nở mạnh hơn, và các buổi lễ Phật phải
cử hành đơn giản hơn. Ta nhận thấy sự kiện này trong một
tập ký ức của Koka Shiren: "Trong nhiều năm, ngay tại thủ
đô, người ta thiết lễ Phật đản vào ngày mồng Sáu để
tránh một ngày lễ lớn Thần đạo vào ngày mồng Tám tháng
Tư." Trong một bổn Đại tự Nhật ký của chùa Kenchoji do
Đạo lan Đan khê (Doryu Rankei) viết năm 1249, rõ ràng và hàm
ý châm biếm cách thức thiết lễ Đản sinh nhuộm màu Thần
đạo: "(Năm nay) ngày Phật đản, lễ tắm Phật do các vị
phu nhân 'shoguna' (vợ của các vị chính quyền tướng quân)
phụ trách, gây ra nhiều điều lạ mắt. Ngày xưa (vào lễ
Phật đản) có bao nhiêu chi tiết đẹp ý đẹp lòng, như lễ
cắm hoa. Ngày nay kiểu cách mới được đem vào chùa, làm
lạ tai lạ mắt người theo Phật." Sau đó, có lẽ chính quyền
Võ sĩ đạo muốn tránh quần chúng dị nghị, nên từ thế
kỷ Mười ba, tổ chức buổi lễ Thần đạo vào ngày mồng
Chín, dành ngày mồng Tám cho các chùa và dân chúng làm lễ
Đản sinh. Gần đây hơn, ta đọc được trong Nhật Bổn Niên
giám Ký sự 1953 một đoạn viết về lễ Đản sinh: "Mỗi
năm trên toàn quốc, vào ngày mồng tám tháng Tư (lễ Phật
đản) dân chúng đi hái mọi loại hoa rừng, cắm vào cành
tre vót nhọn, làm lễ Phật. Các bó hoa này gọi tên là hoa
hướng thiên đường (tentobana), hay là hoa tôn quý (takahana)".
Cũng vì tục lệ đẹp đẽ này mà tại Nhật, ngày tám tháng
Tư còn gọi là ngày Lễ Hoa. Ta cần nhắc thêm là người Nhật
mộ đạo tin là nhân loại sẽ được hoàn toàn cứu rỗi
trong tương lai khi đức Phật Di Lạc ra đời, và nếu mỗi
năm thành tâm thiết lễ Phật đản, thì ngày đức Phật Di
Lạc hiện đến sẽ gần hơn. Vì vậy, mà ngày tám tháng Tư
lại có thêm tên là ngày Nguyện cầu (Ryu ye-e), tên của một
tông phái tại Nhật thờ Phật Di-lạc.
Lễ
hội Khánh Đản tại các nước thờ Phật giáo Theravada
Tại
các nước thờ Phật giáo Nguyên thủy, ngày Phật đản gọi
là Visakha Puja (chữ Sanskrit viết là Vaisakha; Tích Lan: Vesak;
Cao Mên: Vissakh bochea; Thái Lan: Vaishaka Puja; Lào: Vixakha bouxa).
Lễ này kỷ niệm ba biến cố quan trọng trong đời đức Phật:
đản sinh, thành đạo, và nhập niết bàn vào một ngày...
Chữ Nho ta gọi là lễ Tam Hợp. Người Phật tử phái Nguyên
thủy tin là đức Phật đã chọn sinh ra đời, thành đạo
và mất vào cùng một ngày. Nói chung, tại Đông Nam Á Nguyên
thủy, Visakha là ngày quốc lễ nhưng được thiết trong khuôn
viên chùa (vat, wat). Lễ được thiết vào ngày trăng tròn,
giữa tháng Tư và tháng Năm dương lịch. Trong dịp lễ, dân
chúng tụ họp tại chùa, đọc kinh, nghe thuyết giảng về
đời sống của Thích Ca. Tại Thái Lan, chẳng hạn, buổi thuyết
giảng pathama-sambodhi, bắt đầu từ trưa, kéo dài suốt đêm.
Bài giảng kể lại lễ thành hôn của vua Tịnh phạn và hoàng
hậu Maya (vương phụ và vương mẫu của đức Phật), đời
sống lúc trẻ của đức Phật, quyết định đi tu cho tới
khi thành đạo, hoằng Pháp và nhập diệt. Bài giảng kết
luận nêu lên các nguyên do đạo Phật bị tru diệt tại Ấn
Độ, để cho tín đồ suy nghĩ đừng phạm vào lỗi lầm cũ
mà mất đạo.
Tại
Ai Lao, lễ Tam hợp còn gọi là ngày Buon Bang Fay, có nghĩa là
Hội Pháo. Trong năm, Hội Pháo là ngày lễ vui nhộn nhất.
Các chùa thi nhau làm pháo, cùng một loạt ban đêm đốt lên,
xem chùa nào đẹp nhất lãnh thưởng, làm trò vui cho dân chúng.
Tại
Nepal (người Tàu phiên âm là Nê-bạc-nhỉ) đạo Phật pha
trộn gắn bó với Ấn Độ giáo, nhưng Phật đản vẫn là
một ngày quốc lễ, gọi là Bahiravajatra, thiết vào ngày trăng
tròn tháng Năm dương lịch. Vào ngày lễ, dân chúng mổ trâu
bò làm tiệc, và nhảy múa suốt đêm ngoài lộ.
Tại
Sri-Lanka (Tích Lan), lễ Phật đản gọi là Vesak, là ngày quốc
lễ trọng đại nhất trong năm, vào ngày trăng tròn tháng Năm.
Như trên đã nói, sử Tích Lan Mahavamsa chép là "lễ Đản sinh
được thiết từ ngày đạo Phật được hoàng tử Mahinda,
con trai của đại đế Asoka vâng lệnh vua cha đem đạo của
đức Thích Ca vào nước Sri-Lanka. Bắt đầu từ thế kỷ thứ
Bốn, lễ được chính thức cử hành mỗi năm, có cuộc phát
chẩn lớn cho dân nghèo và cuộc dâng y bát cho người tu sĩ.
Người Anh đến thôn tính nước Sri-Lanka năm 1815, chịu áp
lực của các giáo hội truyền giáo Tây phương, ra lệnh bỏ
tục lệ Vesak, làm cho dân bị trị mất tục lệ cúng Phật.
Cuối
thế kỷ Mười-chín, nhóm lên phong trào kháng Anh do Phật giáo
đề xướng, lấy chủ đề là Chấn hưng Phật giáo. Buổi
lễ Vesak lần đầu tiên được tái lập sau bảy mươi năm
bị chính quyền Anh cấm đoán, cử hành vào ngày 17 tháng Tư
năm 1885. Một người Hoa Kỳ thờ Phật giáo, Đại tá Henry
Steele Olcott, trong cuốn ký ức Old Diary Leaves thuật lại là
phong trào có sáng kiến lập một lá cờ Phật giáo gồm sáu
màu sắc thoát ra từ hào quang chiếc áo đức Phật, dùng để
tượng trưng ý niệm hợp đoàn của người theo đạo Phật.
Lá cờ này từ đó được Phật giáo thế giới nhìn nhận
là lá cờ của đạo Phật, dùng trong mọi quốc gia, đặc
biệt vào ngày Phật đản.
Tại
Nam Việt Nam, tám mươi năm sau, có lẽ vì không để ý tới
cái lý do tượng trưng thiêng liêng này của lá cờ Phật giáo
đã gây ra sự sụp đổ của nền Đệ nhất Cộng hòa. Phật
đản tại Sri-Lanka gồm ba lễ lớn: atasil là lễ cầu nguyện;
dan-sai, lễ cúng thực phẩm cho tăng ni và phát chẩn cho đại
chúng; và thứ ba là đại lễ liên hoan: treo cờ, kết hoa,
vui chơi suốt mấy ngày đêm trong nhà, ngoài phố. Ở Sri-Lanka
còn có một tục lệ rất đẹp là mỗi năm vào ngày Phật
đản Vesak, mỗi người gởi thiệp chúc mừng thăm viếng nhau,
tương tự như tục trao đổi thiệp mừng của người theo
đạo Cơ-đốc, nhân ngày đức Chúa Christ giáng sinh.
Kiêm
Đạt
05-10-2007
04:34:12