ĐẦU
THẾ KỶ XXI NHỚ NGÀY ĐỨC PHẬT ĐẢN SINH
Nguyễn
Tường Bách
Một
điều tra xã hội học mới nhất tại Đức cho thấy, tình
trạng bạo lực trong tuổi học sinh đang gia tăng một cách
đáng sợ. Ngày nay trường học là nơi mà cảnh bạo lực
giữa người và người diễn ra hàng ngày và mức độ tàn
bạo đã lên đến mức báo động.
Thông
tin này tuy làm người ta lo ngại nhưng không có gì bất ngờ.
Đó cũng là tình hình chung của các nước Phương Tây trong
thế kỷ này. Chúng ta đang ở trong một thời đại mà lòng
nhẫn tâm, hành vi bạo lực trong xã hội đã phát triển lên
một mức độ khủng khiếp. Từ tuổi thơ ấu trong vườn
trẻ, những mầm non của tương lai đã lâm vào cảnh cạnh
tranh lẫn nhau, đã chịu áp lực của cô giáo, của cha mẹ,
của thời gian. Trong tuổi thanh thiếu niên, con người đã
bắt đầu học thói nhẫn tâm của sự thành công, của sự
tuyển lọc, của quy ước xã hội. Đó cũng là thời điểm
của những cảnh bạo lực trong xã hội, trong tin tức hàng
ngày, phim ảnh từ những cuộc chiến tác động mãnh liệt
và để lại dấu ấn không thể xoá nhoà trong tâm trí trẻ
thơ. Thanh niên lớn lên, hít thở không khí lạnh lùng và tàn
bạo giữa người với người, con người bị quy định bởi
nền “văn hoá” đó và cho đó là quy luật hiển nhiên của
cuộc sống.
Những
điều trên thật ra không có gì mới trong xã hội hiện đại
của loài người. Thế nhưng đến thế kỷ XXI, tình trạng
bạo lực giữa người với người xem ra đã đạt quy mô toàn
cầu và bước qua một mức độ khác hẳn. Như chúng ta đều
biết, từ trước Công nguyên đến nay đã diễn ra vô số
cuộc thảm sát và chiến tranh tại nhiều nơi trên thế giới,
như ở Trung Quốc, châu Âu, Trung Đông, Nga, Campuchia, Việt
Nam…Dù mọi cuộc chiến tranh và hành vi tàn bạo đều gây
đau khổ nhưng dù sao quy mô của chúng cũng còn được giới
hạn một cách cục bộ, trong một số quốc gia nhất định.
Bước qua thế kỷ XXI, cùng với khuynh hướng toàn cầu hoá
của chính trị và kinh tế, các mâu thuẫn quốc tế và hậu
quả của chúng là bạo lực, cũng đã mang tính chất liên
quốc gia.
Nếu
trong quá khứ, nguyên nhân của các cuộc thảm sát và chiến
tranh phần lớn là do các tranh chấp về quyền lực và lãnh
thổ thì thế kỷ XXI dường như cho thấy, mầm mống của
mọi mâu thuẫn là sự tranh chấp về văn hoá và ý thức hệ
của hai tôn giáo lớn: Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Nằm trong
ảnh hưởng của ý thức hệ này là, một bên là các quốc
gia hùng mạnh về kinh tế và quân sự, bên kia là nhiều nước
nghèo nhưng với số lượng quần chúng to lớn và sẵn sàng
hy sinh. Cả hai bên đều có ảnh hưởng trên mặt toàn cầu
và cả hai đều không thể nhượng bộ nhau. Đó chính là hiểm
hoạ trong thế kỷ này của chúng ta.
Tại
sao cả hai ý thức hệ ấy không thể nhượng bộ? Điều tưởng
như bất ngờ nhưng hoàn toàn dễ hiểu là, cả hai đều theo
chủ nghĩa độc thân. Theo đó, chỉ có một Thượng đế và
tất cả mọi người phải quy phục vị Thượng đế của
tôi. Cũng từ một vùng đất hết sức nhỏ bé tại Trung Đông
mà lịch sử đã sản sinh ba nên tôn giáo có chủ trương độc
thần, nếu ta kể thêm Do Thái giáo. Cũng từ đó, suốt gần
15 thế kỷ qua, vô số cuộc chiến tranh nhân danh tôn giáo
đã xảy ra và ngày nay mức độ thù hận giữa người và
người lên đến mức độ đáng sợ. Cuộc chiến tranh Iraq
bắt đầu cách đây hơn một năm là đỉnh cao tạm thời của
lòng thù hận đó. Và mới đây, người ta không thể hiểu
được những hành vi tàn bạo và sỉ nhục đối với tù nhân
Hồi giáo, nếu ta không nhớ lại nguyên nhân sâu xa nhất của
cuộc chiến tranh là sự kỳ thị tôn giáo. Những sự tra tấn
dã man đó đều là biểu hiện muốn chà đạp tâm thức tôn
giáo của người theo đạo Hồi, được thực hiện một cách
cố ý của binh sĩ Mỹ và lãnh đạo của họ.
Một
tâm thức tôn giáo đã bị miệt thị, nhất là khi nó được
quy định bởi một ý thức hệ độc thần, cuộc chiến này
giữa hai ý thức hệ chỉ có thể trở nên tàn bạo hơn, khủng
khiếp hơn. Như S.P.Hungtington trong tác phẩm The Clash of Civilizations
(Sự xung đột giữa các nền văn minh) tiên đoán, thế kỷ
XXI sẽ là thời đại của độc thần. Trong cuộc chạm trán
này, nhiều người phương Tây tin rằng họ sẽ thắng, với
lực lượng quân sự và kinh tế hùng hậu. Thủ tướng Ý
Berlusconi đã nói thẳng: “Nền văn minh của chúng ta ưu việt
hơn”. Có thể các nước phương Tây sẽ đè bẹp đối thủ,
nhưng nhiều người đang quên một điều, đó là trong nội
bộ của họ, trong trường học, trong gia đình, trong vườn
trẻ, trong mỗi tế bào của chính xã hội họ…, lòng bạo
lực đang gia tăng một cách khốc liệt. Con em của họ đang
đối xử với nhau đúng như những điều họ đang làm với
những người khác, tại một nơi họ nghĩ chẳng ai biết đến,
trong sa mạc vắng người hay trong nhà tù kín đáo.
Trong
bối cảnh tối tăm đó của thế giới, ta nhìn lại ngày Đản
sinh của Đức Phật với một niềm mừng vui và kính ngưỡng
to lớn. Lạ thay, Đức Phật ra đời trước các tôn giáo nọ
cả ngàn năm nhưng Ngài không tuyên giảng Thượng đế thần
linh, không nói đến độc thần, không chấp nhận uy quyền
tâm linh, không đề cao việc tranh chấp đúng sai, không đi
rao giảng và truyền đạo một cách bừa bãi. Ai vấn hỏi
thì Ngài trả lời. Ai nói chuyện phù phiếm thì Ngài im lặng.
Ai rút lui khỏi Tăng già thì Ngài chấp nhận. Thế gian có
tranh chấp với Ngài nhưng Ngài không tranh chấp với thế gian.
Ngài chỉ chăm chú vào một điều duy nhất: tuyên bố đời
này là khổ và chỉ bày những phương pháp cách diệt khổ.
Ngài nêu rõ, một trong những nguyên nhân của khổ là lòng
sân hận.
“Đức
Thế Tôn giới thiệu có bốn hạng người ở đời: (1) Hạng
tự hành khổ mình, (2) Hạng hành khổ người, (3) Hạng tự
hành khổ mình và hành khổ người, (4) Hạng không tự hành
khổ mình và hành khổ người” (Trung Bộ kinh, bài 51, bản
dịch của Hoà thượng Thích Chơn Thiện).
Thời
đại của chúng ta là thời đại do hạng người thứ hai và
thứ ba cầm quyền. Đó là những người sẵn sàng hành hạ
người khác vì tham vọng về ý thức hệ, của cải và quyền
lực của mình. Và hậu quả hiển nhiên là con cháu của họ
cũng rơi vào lòng ham thích bạo lực, tìm niềm vui trong sự
hành hạ người khác mà kết quả điều tra ở đầu bài này
đã xác định.
Nhìn
thế giới và tự nhìn mình, ta dễ có một nỗi mừng run và
tri ân cuộc đời. May mắn thay, ta không rơi vào một ý thức
hệ độc thần, không thể thấy niềm vui trong sự hành hạ.
Với tính cách con người, có lẽ ta chưa có lòng từ bi bao
la như các vị giác ngộ, nhưng hành vi của chúng ta không thể
nhẫn tâm, tàn bạo, không thể chà đạp lên niềm tin và hạnh
phúc của người khác. Hãy sống để người khác cùng sống.
Hãy vui để người khác vui trong niềm tin và hạnh phúc của
họ. Sống như thế là chúng ta bước vào phạm vi của hạng
người thứ tư, hạng người không tự hành khổ mình và không
hành khổ người.
Trong
những năm đầu của thế kỷ XXI này, ngày Đản sinh Đức
Phật lại trở về và thực sự có một ý nghĩa kỳ diệu.
(TC.
Văn hóa Phật giáo số 16 15-5-2006)