Giải Thoát
Khỏi Niềm Tin Tôn Giáo
Khải
Thiên
Anh
và em là những người có đạo. Nhưng đạo của chúng ta là
một tôn-giáo nhân bản, một tôn giáo không hề có tín lý
hay giáo điều, một tôn giáo không hình thức và không quyền
năng, không mặc khải và cũng không có sự thần bí, một
tôn giáo mà phương châm của nó là :"Mỗi người hãy tự
mình thắp đuốc lên mà đi; và, mỗi người hãy là hải đảo
của chính mình!".
Chúng
ta cũng đã chứng kiến không ít người đã nằm xuống với
nỗi khổ đau vì một đức tin mù quáng trong các cuộc chiến
tranh tôn giáo, trong các cuộc tự sát tập thể của các giáo
phái cuồng tín, cực đoanà Họ đã hy sinh cả cuộc đời
để cuối cùng nhận một danh hiệu nào đó. Mà như em biết,
tên gọi dù dưới hình thức nào thì nó cũng chỉ là một
sự định danh. Giá trị của nó chỉ có trong giao tiếp giữa
một người với một người, chứ không có một chỗ đứng
nào trong cuộc sống nội tâm, ngoại trừ những ảnh tượng
hay tính chất mà nó mang theo.
Khi
bảo em hãy tự giải phóng mình ra khỏi niềm tin tôn giáo
là anh muốn mời gọi em trở lại với trách nhiệm của mọi
tư duy và hành xử của chính mình. Niềm tin trong tôn giáo
của chúng ta là niềm tin về một đạo lý ố đạo lý nhân
quả. Chúng ta không thể chạy trốn những gì mà mình đã
gieo rắc trong cuộc đời thông qua lời nói, cử chỉ, hành
vi, thái độ, tâm lý của chính con tim và khối óc này. Chúng
ta phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nó vì đó là những
gì không thuộc về Thượng đế, mà thuộc về chúng ta. Và
niềm tin mà chúng ta hẳn phải nương tựa cũng chính là niềm
tin vào từ những hành động nhỏ nhoi trong cuộc sống của
chính mình."Không ai có thể làm cho ta nhiễm ô, cũng không
ai có thể làm cho ta trở nên trong sạch; trong sạch hay ô nhiễm
là tự nơi ta; chỉ có ta làm cho ta nhiễm ô, và cũng chỉ
có ta làm cho ta trở nên trong sạch". Lời dạy ấy như một
xác định tối hậu và dứt khoát loại trừ các thế lực
bên ngoài mà chúng được xem là luôn luôn chi phối đời sống
tâm lý của con người.
Bây
giờ con đường xây dựng niềm tin được xác lập rõ cho
sự thăng tiến của chúng ta, đấy là một niềm tin bền chắc
và vĩnh hằng dựa trên nguyên tắc nhân quả. Nguyên tắc này
giúp chúng ta hiểu được quá khứ của mình, hiện tại của
mình và tương lai của mình. Thầy bói không còn cần thiết
cho mình nữa ! Chúng ta có thể tự xem biết tương lai của
mình ra sao theo những gì mình đang suy nghĩ và đang làm.
Tất
nhiên, cho đến bây giờ, khi chưa phải là một người giác
ngộ, những hiểu biết về nhân quả của mình chỉ là những
hiểu biết được phát sinh từ nhận thức mà thôi. Ðấy
là những nhận thức giới hạn còn tùy thuộc vào khả năng
lĩnh hội thực tại. Vì lẽ, cái biết của con người về
thực tại luôn luôn chỉ là một phần rất nhỏ được phóng
chiếu từ tâm thức mà không phải là một toàn thể của
thực tại, về thực tại hay thực tại chính nó. Do đó, C.Jung
nói rằng :"Ðôi mắt của bạn bao giờ cũng bị giới hạn
bởi cái bạn đang là". Ðiều đó, cho thấy rằng khả năng
nhận thức về thế giới vật chất của chúng ta còn tồn
tại rất nhiều điều phiến diện, như con mắt khi hướng
về phương Nam thì không thể thấy biết những gì đang diễn
ra phương Bắc. Ðối với những vấn đề thuộc tâm thức
thì sự nhận diện càng tinh tế và uyên áo hơn. Từ đó em
nên biết rằng, dù vững tin vào nhận thức của mình, nhưng
không nên cố chấp rằng, bao giờ nhận thức của mình cũng
đúng.
Vì
con người luôn được hiểu là một khả thể toàn diện của
những cái bất toàn; và trên những cái bất toàn, chỉ có
con người là kẻ duy nhất làm cho chúng trở nên toàn thiện.
Thomas Fuller nói : "Kẻ nào sa vào tội lỗi, kẻ ấy là một
con người; kẻ nào đau khổ vì tội lỗi, kẻ ấy là một
thánh nhân; nhưng kẻ nào hãnhđiện vì tội lỗi, kẻ ấy
là một con quỷ dữ".
Nguyệt
san Giác Ngộ