Ý NGHĨA
NGÀY PHẬT ĐẢN
Cư
Sĩ, Nguyễn Đức Can
Tuệ
Minh Đạo
Mùa
Phật Đản năm nay lại về trong niềm vui của mọi người
dân Việt đang sống lưu vong nơi đất khách quê người, cách
xa quê nhà cả nửa vòng trái-đất. Hơn hai triệu người Việt
hiện ở tạm dung trên các nước thuộc Âu-Châu, Úc-Châu,
Mỹ Châu đang nỗ lực tổ chức ngày “Đại Lễ Phật
Đản Phật lịch năm 2547”để hòa nhịp với niềm vui chung
của nhân loại trong mùa Phật Đản năm Quí Mùi, 2003.
Nhân
dịp ngày Đại Lễ năm nay, tôi cũng xin ghi lại để cống
hiến quý đồng-bào Phật Tử bốn phương cùng tìm hiểu
về “Chân lý và nguồn gốc ngày Đản Sinh của
Đưc Phật “hầu lưu lại cho các thế hệ mai său, nối gót
các bậc tiền nhân, duy trì và phát huy Đạo lý cao siêu của
Đức Thế Tôn, trong ánh đạo vàng đến vơi mọi người trên
thế-gian.
Phật
Đản còn gọi là Quán Phật Hội (hội tắm Phật), Giáng Đản
hội (hội giáng sinh) đó là nghi thức tắm Phật. Ngày Phật
Đản tức là ngày Đức Phật Thích Ca ra đời.
Ngày
Phật Đản hay ngày Giáng sanh của Đức Phật, tiếng Pali gọi
là Vesak. Vesak là tên của một tháng, thường trùng vào
tháng năm dương lịch. Vesak cũng là tên của một ngày có
ý nghĩa trọng đại nhất đối với hàng Phật tử khắp
thế giới. Đức Phật sinh nhằm ngày rằm, tháng Vesak, vào
buổi sáng, trong thành Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ) gần biên
thùy giữa đông bắc Aán Độ và Népan. Ấy là Thái tử
Siddatha Gotama. Cha của ngài là Hoàng Đế Tịnh Phạn (Cuddhodana)
họ Cồ Đàm (Gotama), và mẹ của Ngài là hoàng hậu Ma Gia
(Mayadevi) Ngài tên là Siddhartha Gautama. Ngài mất mẹ rất sớm.
Său khi hạ sanh Hoàng Tử được 7 ngày thì hoàng hậu thăng
hà.
Thái
tử sanh ra là một đai hạnh, đại phúc, cho tất cả
chúng sanh. Dĩ nhiên, đã là Hoàng tử, Ngài sống một cuộc
đời vô cùng sung sướng trong cung điện nguy nga, nào biết
gì đến cảnh thực ngoài đời. Nhưng ngày qua tháng lại lần
lần trong tâm Ngài tự phát giác sự thật.
Khi
Ngài giác ngộ được rằng vạn vật là vô thường,
có rồi không, thành rồi bại, có sinh có tử, có gìa có bệnh.
Rằng bao nhiêu vinh hoa, phú qúy, khoái lạc vật chất
dẫy đầy trước mắt chẳng qua là một bã hư vô, Ngài mới
nhất định xuất gia, bỏ hẳn thế sự, để đi tìm đâu
là sự thật, đâu là tịnh lạc. Năm ấy được
29 tuổi, Ngài từ bỏ cung- điện nguy nga và nhửng sa
hoa vật chất của một vị Hoàng tử, không phải vì
thắc-mắc băn khoăn riêng cho Ngài, mà chính vì cảnh đău
khổ trầm luân của kẻ khác.
Lần
từ biệt ra đi của Ngài đã dũ sạch nợ trần, để
đi tìm một con đường giải thoát cho nhân-loại. Suốt
sắu năm trời, Ngài hãm thân vào cuộc đời khổ hạnh, hy
sinh, chịu đựng muôn ngàn đău khổ vơí một tấm lòng sắt
đá, kiên trì, với một niềm tin vô biên và luôn luôn xả
thân để phụng sự. Đây là cuộc đời phấn đấu mà sức
phàm khó lòng chịu nổi.
Rồi
một hôm tinh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội bồ-đề,
tại Bồ-Đề Đạo-Tràng (Buddhagaya), Ngài tự nguyện
: “Dù ràng thịt ta phải nát, xương phải tan, hơi phải-mòn,
mắu phải cạn, ta quyết ngồi nơi này đến khi được hoàn
toàn đắc quả vô thượng”. Vào ngày rằm, tháng Vesak, Ngài
đắc quả Chánh Đẳng, Chánh Giác. Quả này là kết-tinh
cuối cùng của một lòng tự tin, tự lực, tự giác,
chớ không phải nhờ ở một quyền lực siêu nhiên nào giúp
đỡ. Ngài đã diệt được bao điều chi phối của ngoại
cảnh đối với thân tâm để trở thành thanh tịnh chứng
pháp, lãnh hội rõ ràng chân tánh của một sự vật : Ngài
đã là Toàn Giác, Ngài đã thành Phật. Lúc bấy giờ
Ngài 35 tuổi. Từ đây người ta gọi Ngài là Đức Phật
Cồ Đàm (Gotama), một vị Phật trong trường chi vô lượng
Phật quá khư và vị lai.
Như
vậy thì lễ Visak không những là kỷ niệm ngày giáng sinh
mà cũng là ngày đắc đạo của Đức Phật. Khi đã được
hoàn toàn sáng suốt và đăc quả Chánh Đảng, Chánh Giác rồi,
Ngài gia tâm đi hoằng hoá pháp mầu để rọi sáng dẫn dắt
kẻ khác. Được hoàn toàn giải thoát, Ngài gia tâm giải
thoát chúng sanh bằng một lối đường Trung Đạo. “Mở rộng
cửa chân-lý cho những ai muốn tìm chân lý; rót thẳng
niềm tin tưởng vào tai những ai muốn tìm tin tưởng.” Đó
là câu bất hủ mà ngài đã thốt ra lần đầu tiên, khi bắt
đầu xứ-mạng hoằng dương đạo pháp của Ngài.
Đầu
tiên Ngài lập ra Giáo Hội Tăng Già chỉ gồm có năm vị Thanh
Tịnh Pháp Sư, đó là 5 anh em Kiều Trần Như. Đây là
hột giống đầu tiên hết sức nhỏ bé mà Ngài đã gieo, để
rồi về său này nở muôn ngàn đầy khắp bốn phương : Là
Giáo Hội Tăng Già ngày nay, khắp thế giới, một hệ thống
tổ chức thật sự dân chủ xưa nhất trong lịch sử
nhân loại. Khi rải các đệ tử đi hoằng hoá Giáo
Pháp trong thiên hạ, Ngài gửi lời khuyên nhủ chư tăng như
său : “Hỡi chư Tỳ-Kheo, các con hãy mạnh dạn ra đi, đi
vì ích lợi cho chúng sanh, đi vì hạnh-phúc an vui cho nhân
quần, xã hội, đi vì thương xót nhân loại. Các con hãy đi
khăp chốn, ban bố giảng dậy Pháp này là diệu Pháp hoàn
toàn. Các con hãy nêu cao đời sống Thánh Đức khiết thanh,
luôn luôn hoàn toàn và trong sạch.”
Riêng
phần Ngài, la ø hoá thân của Đức Độ cao siêu, trí tuệ
luôn luôn sáng suốt, đầy lòng nhân đạo, từ bi, bắc ái,
hy sinh không bờ bến, đêm nghỉ chỉ một giờ. Trong năm mười
hai tháng, hết tám tháng Ngài giãi dầu phong sương khắp chốn,
không quản gì thân. Ngài tế độ chúng sanh như vậy suốt
bốn mươi lăm năm trường.
Một
hôm, khi cảm thấy sức đã kiệt, ngày lâm chung săp đến,
Ngài gọi tất cả đệ-tử về và nói : “Kiếp sống thật
là ngắn ngủi ; Thầy nay tuổi đã già. Thầy sắp xa
lìa các-con ! Từ lâu vẫn nương tựa nơi Thầy.
Các con hãy cố gáng chuyên cần tinh tấn,hãy kỹ càng thận
trọng và luôn luôn giữ một lòng đạo đức cao cả,
với những tư tưởng trong sạch siêu mẫn, các con hãy giữ
gìn bản tâm cho chu đáo. Nhờ tôn chỉ và kỷ luật này, với
một đời sống tích cực hoạt động đạo đức, các con
sẽ được thoát khỏi vòng sinh tử, tử - sanh và chấm dứt
được phiền não, đău khổ. Vạn vật cấu tạo là nhứt
dán, là vô thường. Các con hãy cố gắng lên !.
Năm
ấy Đức Phật tám mươi tuổi thọ. Ngài trở về
Kusinara, là một làng nhỏ bé xa xôi, nơi đây êm ái và an
tịnh. Ngài tịch diệt, thân nàêm giữa hai cây long thọ
(Sala), hôm ấy đúng ngày rằm vào tháng Vesak. Như thế
Vesak là ngày kỷ niệm gồm ba : Giáng sanh, Thành Đạo, và
Tịch Diệt của Đức Phật. Ngày nay Phật tử khắp hoản
cầu cử hành cuộc lễ gồm ba ấy với một niềm tin
tuyệt vời và một đạo tâm chơn thành.
Ngày
nay khoa học và văn minh càng tiến bộ thì Đạo Phật càng
được phát triển, vì hầu hết những khám phá trong khoa học
hiện nay thì Đức Thế Tôn đã nói ra cách đây từ
2546 năm về trước, các kinh sách của Đức Phật đã để
lại cho nhân loại một kho tàng quý bắu. Tất cả đều
dựa trên cái Tâm và Trí của thực thể con người, không
ảo-tưởng, không thần thoại, cũng không có cái gì là siêu
hình, mê tín.
H.G.
Wells, là một học giả người Anh đã viết : “Đức Phật
là một nhân vật vô cùng giản dị, có Tâm Đạo nhiệt thành,
tự lực một mình phấn đâu cho ánh sáng tươi-đẹp, một
con người sống, chứ không phải là một nhân vật của thần
thoại, huyền bí, bên său cái bề ngoài hơi ly kỳ thần thoại
mà người đời hay gán cho ngài, tôi chỉ thấy rõ một con
người như bao nhiêu vị Giáo Chủ khác. Ngài cũng truyền
lại một tuyên ngôn, một hệ thống giáo lý rộng rãi khả
dĩ thích hợp cho khắp loài người. Bao nhiêu ý niệm văn-minh
của ta ngày nay cũng hòa hợp được với giáo lý ấy. Ngài
dậy rằng tất cả cái bất-hạnh và phiền não của ta là
do lòng ích kỷ mà ra, Ngài đã nhất định không sống riêng
cho Ngài mà phải sống cho kẻ khác, từ đó Ngài sống một
cuộc đời siêu nhân trên tất cả moi người. Xuyên qua trăm,
ngàn ngôn ngữ khác nhău.
Đức
Phật đã dậy đức từ bi, hỷ xả gần 600 năm trước
chúa Giesu ra đời. Đứng một phương diện nào đó mà nói,
ta có thể cho rằng giữa ta là người Aâu và đòi hỏi nhu
cầu Tâm và Trí của chúng ta, với Đức Phật có nhiều
chỗ giống nhău vậy. Đối với đời sống thực tại của
ta cũng như đối với vấn đề trường tồn bất hoại của
kiếp ta, Đức Phật đã tỏ ra biết trước. Thực vậy,
Đức Phật đã nói : “Ta là Phật đã thành, Các ngươi là
Phật sẽ thành”.
Vậy
mọi người trên thế gian này, nếu có tâm đạo, có
ý chí quyết tâm, tu thân, tích đức, lọai trừ
cái tham, sân , si mà đi theo con đường Đức Phật đã vạch
ra, thì cũng sẽ thành Phật, không phải như các huyền thọai
khác lấy tôn giáo thần thánh hoá cá nhân để mê hoặc
con người đi tìm một ảo tưởng vô hình. Đức Phật nói
đúng, vì chính Phật cũng là một người như ta, nhưng Ngài
đã vượt ra ngoài cái khuôn khổ của loài người để đi
tìm lấy một chân lý tối thượng hầu truyền lại cho con
người đi theo con đường Chân, Thiện, Mỹ để tiêu diệt
cái “Tâm độc ác, cái Trí ngu muội”, trên trần gian, đem
đến cho mọi người được thân tâm an lạc, thanh bình,
thịnh vượng, hạnh phúc và có trí sáng tạo.
Oâng
Bertrand Russell, một học giả triết gia hiện kim người Anh
có nói : “Đức Phật rõ là một nhân vật chủ trương thuyết
phi thiên cách cao thâm nhất từ cổ chí kim vậy”. Tựu theo
giáo lý cuả Đức Phật Ông Thomas Paine, một học giả uyên
thâm khác đã viết theo lời Phật dậy : “Thế giới
là nhà ta, nhân loại là anh em ruột già ta, và vi thiện là
đạo ta”. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm về trước Đức
Phật há chảng nói : “Chớ nên làm ác, hãy làm lành,
cố gắng lên, cố gắng làm cho tâm ngày càng trong sạch”.
Đó là điều mà Đức Phật dạy chúng ta phải làm, chỉ có
bấy nhiêu. Và chỉ nhờ có bấy nhiêu mà ta sẽ diệt
đươc ba nạn là : Tham-ái, sân hận, và si mê.
Để
kỷ niệm ngày Đức Phật giáng trần và cũng là ngày Đăc
Đạo său sắu năm khổ hạnh và 49 ngày tịnh toạ trên
mớ
cỏ khô dưới cội Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddagaya).
Hàng năm cứ gần đến ngày rằm tháng tư âm-lịch
là toàn thể các tín đồ Phật giáo thuộcø các giáo hội
trên khắp thế giới nao nức tổ chức kỷ niệm ngày đản
sanh. Tại Hoa Kỳ các Chùa, Viện thuộc Bắc Tông, Nam Tông
hay Đại thừa và Tiểu thưa, Mạt Tông, hay Thiền Tông đều
tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Để nhắc nhở người
con Phật ôn lại những răn dậy tinh hoa của Đức Thế Tôn,
làm kim chỉ nam cho đời sống hiện tại cho mỗi người trên
trần gian.
Mặt
khác, tưởng cũng nên nhìn lại lịch sử ta thấy bao
nhiêu bạo lực độc ác của các đế quốc tàn bạo để
nô lệ hóa con người, nhưng tất cả đã lần lượt tiêu
tan theo thời gian ngắn ngủi. Chỉ có giáo lý cuả Đưc-Phật
là còn tồn tại mãi mãi, bất diệt nơi tâm hồn của hàng
triệu, triệu người Phật Tử nói riêng và nhân loại
nói chung mỗi ngày một phát triển trên khắp năm châu.
Tôi tin rằng giáo lý của Đức Thế Tôn đã và sẽ được
phát triển tột đỉnh trong lòng các dân tộc
văn minh Tây Phương./-
Cư
Sĩ, Nguyễn Đức Can
Tuệ
Minh Đạo
E-Mail
: ndcan2000@yahoo.com