NHÂN
ĐẠI LỄ KỶ NIỆM NGÀY ĐỨC PHẬT ĐẢN SINH,
SUY
NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CỦA TÌNH THƯƠNG VÀ
THÁI
ĐỘ HỌC PHẬT
Minh
Chi
1.
Giá
trị của tình thương yêu
Ðôi
điều tâm sự của tôi đồng thời cũng là đôi điều học
tập được, sau gần cả một cuộc đời hướng tới đạo
Phật và những thông điệp của Ngài, chứa đựng những chân
giá trị sống động, mà bất cứ người nào dù xưa hay nay,
ở phương Ðông hay phương Tây cũng đều mơ ước có được
cho mình.
Điều
quý báu thứ nhất mà tôi học tập được từ đạo Phật
là con người phải cố gắng sống tốt, sống thiện lành,
với tình thương yêu chân thật và rộng lớn đối với mọi
người, mọi vật. Nếu mình sống tốt, thiện lành với mọi
người, thì một cách tụ nhiên, mọi người cũng sẽ sống
tốt và thiện lành đối với mình. Ðó là quy luật nhân quả,
một quy luật rất công bằng. Ai cũng có thể hiểu điều
này, cảm nhận điều này trong cuộc sống hàng ngày. Ðó là
một sự cảm nhận rất tự nhiên, và cũng vì rất tự nhiên
cho nên là đúng đắn, không sai. Mình làm điều lành, thì
tự nhiên tâm cảm thấy vui, một niềm vui rất thật mà trong
sách gọi là phúc lạc, tức là niềm vui do phúc đức đem
lại.
Trái
lại, nếu làm một việc không thiện lành, có những lời
nói và ý nghĩ không thiện lành, thì một cách tự nhiên, chúng
ta cảm nhận trong tâm bứt rứt, khổ não không yên. Sự cảm
nhận này cũng chân thật như khi ta cảm nhận vui trong tâm
sau một việc làm thiện lành vậy, hay là sau một lời nói
hay một ý nghĩ thiện lành.
Nếu
chúng ta sống tỉnh giác, biết lắng nghe tiếng nói của nội
tâm phê phán chúng ta qua cảm thọ, thì trong cuộc sống, chúng
ta sẽ có cơ hội tạo ra thêm bao nhiêu điều thiện lành,
trong cả ý nghĩ, lời nói và việc làm, và cũng như vậy chúng
ta sẽ tránh được bao nhiêu điều ác, vừa hại cho bản thân,
vừa lại cho xã hội.
Tôi
tin rằng, cội nguồn của mọi hành động, lời nói và ý
nghĩ thiện lành chính là tình thương yêu bao la, rộng rãi
đối với mọi người, mọi vật. Tình thương đó vốn có
sẵn trong chúng ta, nó càng rộng rãi bao nhiêu, thì tính vị
kỷ cũng sẽ giảm bớt tương đương bấy nhiêu. Mà tính vị
kỷ thói hư tật xấu làm gì, nói gì , nghĩ gì cũng vì cái
Ta, chính đó thực sự là cội nguồn của mọi bất hạnh
và đau khổ, mọi xung đột và chiến tranh, mâu thuẫn, hiện
đang gây bao tang tóc, bao nước mắt và máu ở những nơi như
Palestine, Israel, Afghanistan, Paskistan...
Chúng
ta đối trị tính vị kỷ không phải trên bình diện lý thuyết
mà bằng tình thương rộng rãi, bao la mà sách Phật thường
gọi là lòng từ, lòng bi... Chính tình thương đó, trong sự
thực thi hàng ngày của nó, là phương thuốc đối trị có
hiệu quả nhất đối với cái Ta vị kỷ. Trong bài viết này,
tôi không dùng hai khái niệm và từ ngữ quen thuộc là lòng
từ, lòng bi mà chỉ dùng hai chữ tình thương, bởi lẽ tất
cả mọi người dù là Phật tử hay không đều có sẵn tình
thương đó, là điều quý báu nhất của con người, trong cả
một đời.
Chúng
ta hiểu tình thương là thái độ nhạy cảm và đồng cảm
giữa con người và con người, giữa con người và tất cả
những gì mà con người tiếp cận. Tình thương là thái độ
gần gũi, dịu dàng, không hại lẫn nhau mà làm tốt cho nhau
trong phạm vi khả năng của mỗi bên. Biết sống với tình
thương đó là biết sống hạnh phúc, biết sống có ý nghĩa.
Còn nếu không có tình thương đó, hay đúng hơn, tuy vốn có
tình thương đó nhưng lại để cho nó mai một, héo tàn, thì
anh có sống cũng như chết rồi!
Ðạo
Phật rất coi trọng lòng từ và lòng bi cũng vì lẽ đó. Bồ
tát Quán Thế Âm sở dĩ được trọng vọng và sùng bái khắp
nơi ở Ðông Á, đặc biệt là ở nước ta, chính vì Ngài
là biểu trưng sống động của lòng từ bi lớn. Chính lòng
từ bi là cội rễ của tâm Bồ đề, tức là cái tâm qiác
ngộ (bodhicitta). Vì vậy mà khi kết thúc cuộc đối thoại
với nhà khoa học vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt
là Trịnh Xuân Thuận và thầy Matthieu Ricard đã dẫn chứng
rất đúng chỗ, bài thơ của Thiền sư Tây Tạng Khabbar:
“Ai
có lòng bi thì người đó nắm bắt được mọi giáo lý
Ai
không có lòng bi thì không nắm bắt được bất cứ giáo lý
nào...”
(Xem
“L’univers dans la paume de la main” [Vũ trụ trong lòng bàn
tay], trang 423–chuyển dẫn từ bản dịch của Huyền Chân,
nguyệt san Giác Ngộ số 72, tr.29).
Chúng
ta cũng nên chiêm nghiệm lời tuyên bố sâu sắc và đầy ý
nghĩa của ngài Ðạt Lai Lạt Ma XIV: “Trái tim tôi là ngôi
chùa của tôi. Tình thương là triết lý của tôi, tôi không
cần một triết lý phức tạp nào khác...” (The Tibetan book
of living and dying–Cuốn sách Tây Tạng về sự sống và sự
chết, tr.95)
Bấy
nhiêu dẫn chứng cũng đủ để chúng ta thấy rõ, đạo Phật
coi trọng tình thương bao la, rộng rãi đó như thế nào, tình
thương mà sách Phật gọi là lòng từ, lòng bi, một tình thương
tuôn ra từ lòng người một cách tự nhiên, tỏa sáng khắp
mọi người, mọi vật mà nó đụng chạm đến. Nếu tất
cả Phật tử chúng ta, là Tăng hay tục, nam hay nữ, tất cả
đều cảm nhận phải sống bằng tình thương như vậy mới
là sống hạnh phúc và có ý nghĩa, hàng nghìn, vạn, triệu
Phật tử chúng ta đều đối đãi với nhau như vậy và đối
đãi với mọi người, mọi vật cũng như vậy thì xã hội
chúng ta sẽ tốt đẹp lên bao nhiêu. Bởi lẽ, một khi đã
có sẵn tình thương đó ở trong lòng, thì một cách tự nhiên,
mọi ý nghĩ, lời nói, việc làm của chúng ta, trên mọi cương
vị, mọi hoàn cảnh, cũng sẽ đều thấm nhuần mọi tình
thương đó. Thí dụ. bác sĩ chữa bệnh và săn sóc bệnh nhân
không phải chỉ với thuốc men và kiến thức y học mà còn
với tình thương đó; thầy dạy học trò, cũng dạy với tình
thương đó trong khi chuyển giao kiến thức; nhà báo viết báo
cũng viết với tình thương đó; tất cả mọi cán bộ, công
tác trong mọi cơ quan hành chánh sự nghiệp hay sản xuất cũng
công tác với tình thương đó trong khi tiếp cận mọi người
dân...
Hãy
ví dụ tình thương đó như một ngọn nến. Hàng nghìn, vạn,
triệu người có tình thương đó khác nào như ngàn, vạn,
triệu ngọn nến cháy rực, sẽ làm xã hội ta trong sáng, đẩy
lùi và dập tắt mọi tội ác và tệ nạn xã hội.
Gandhi
nói: hai chỗ nương tụa của mọi nền văn minh đích thực
và bền vững là chân lý và tình thương (satya và ahimsa) (chuyển
dẫn từ “The concept of man”, Prefatory remarks–Radhakrisnan,
tr.12).
Nhưng
chân lý, dù là chân lýí tương đối cũng không dễ nắm bắt.
Phải học tập, biết tư duy và thực nghiệm để đạt được
một chân lý tương đối. Nhưng tình thương thì tuôn chảy
tự nhiên từ lòng người, thí dụ như từ lòng người mẹ
cho con bú, và tình thương đáp lại của đứa bé...
Còn
đối với đạo Phật, thì tình thương hay lòng từ, lòng bi
là suối nguồn của tâm Bồ đề. Tình thương là cứu tinh
của nhân loại hiện nay, trong khi tại các điểm nóng trên
thế giới người ta đang đáp lại điều ác bằng những điều
ác hơn, đáp lại bạo lực bằng bạo lực kinh khủng hơn!
Còn đạo Phật thì nói:
“Với
hận diệt hận thù
Đời
này không có được
Không
hận diệt hận thù
Là
đinh luật ngàn thu”
(Kệ
5 - Kinh Pháp Cú)
Câu
thứ ba trong bài Pháp Cú trên có thể đổi lại không sai:
Tình thương diệt hận thù.
Cũng
như lấy điều thiện diệt điều ác, lấy tình thương diệt
bạo lực vậy.
Các
bạn đọc có thể nói là tôi đang nói trong mơ, Vâng, có lẽ
đúng là giấc mơ trong súng đạn và bom nổ tứ tung, nhưng
đó là giấc mơ đẹp mà loài người–trước hết là những
quốc gia giàu mạnh nhất hiện nay–phải cố gắng ra sức
thực hiện cho kỳ được, nếu không thì vòng xoáy bạo lực
và thù hận sẽ dẫn hành tinh và Ioài người ở trên đó
đến bờ vực thẳm của diệt vong. Tôi biết suy nghĩ này
không phù hợp với nhiều người. Thế nhưng, những điều
mà nhiều người làm, tự cho là rất thực tế nếu đối
chiếu với hiệu quả mà nói, thì những điều gọi là thực
tế đó họ làm cũng chỉ là giấc mơ mà thôi. Bởi vì, làm
sao mà lấy lửa dập tắt được lửa, lấy hận thù dập
tắt được hận thù, lấy bạo lực dập tắt được bạo
lực? Ðó là điều không thể. Ðiều không thể mà cứ làm
thì phải chăng mình đang mộng mị?
Khi
người mẹ cho con bú, bấy giờ hiện hữu một tình thương
giao hòa giữa mẹ và con thật tự nhiên, đậm đà và sâu
sắc. Nhiệm vụ của mọi người trong gia đình là trân trọng
giữ gìn tình thương đó, tình thương mẹ-con mà trong bài
kinh Từ Bi, Ðức Phật đem ví với lòng từ của đạo Phật.
Lòng từ mà Phật thường mô tả là tỏa sáng, là trạng thái
tinh thần đẹp nhất dưới thế gian này.
Có
điều, các bà mẹ có khi không biết là chính tình thương
đó, sau này sẽ trở thành suối nguồn của đầu óc cởi
mở, trí thông minh, trí tuệ. Cũng như trong sách Phật, nói
lòng từ, lòng bi là suối nguồn của tâm Bồ đề tức là
tâm giác ngộ.
Một
đặc sắc của tâm hồn người Việt là giàu tình thương.
Có thể đây là hệ quả tự nhiên của lịch sử một dân
tộc, do vị trí địa lý đặc biệt mà phải trải qua chiến
tranh liên miên và thiên tai dồn dập. Và trong niềm đau khổ
chung, con người rất thương nhau. Bản thân tôi cảm nhận
điều này trong những năm tháng chiến tranh, cũng như trong
những tháng vừa qua, miền Trung và Tây Nam Bộ bị lụt lội
trầm trọng kéo dài. Từ mọi miền của đất nước, từng
đoàn xe tới tấp chở vật phẩm cứu trợ đến các tỉnh
bị lụt. Cảnh các em học sinh vùa khóc vùa gói sách vở làm
quà tặng gửi các bạn ở những nơi chỉ là đồng nước
mênh mông, không còn trường để đến học và cũng không
còn sách vở để viết!
Từ
tất cả những cảnh tượng đó toát ra một tình thương mênh
mang, sâu lắng. Và tôi nghĩ: Với tình thương đó, tương lai
dân tộc Việt sẽ được đảm bảo. Vì tình thương dẫn
tới đoàn kết và thành công trong mọi sự nghiệp của dân
tộc Việt.
2.
Thái
độ của người học Phật
Học
Phật cũng như học bất cứ môn học nào khác, phải tìm thấy
cho được niềm vui ở trong đó, thì nhất định học Phật
sẽ có kết quả. Tôi thấy có thể nói khiêm tốn: Học Phật
trước hết là để cho mỗi người học Phật đều trở thành
một người tốt, một người thiện, lương tâm không bao giờ
bị bức xúc, vì có điều suy nghĩ, lời nói và việc làm
có hại cho người và xã hội, học Phật trước hết là học
làm một người có ích cho đời và đạo.
Mỗi
người như vậy sẽ có đời sống an vui, vì họ chỉ nghĩ,
nói và làm những chuyện phúc đức, lợi tha. Nhờ học Phật
mà có được một đời sống an vui. Cho nên học Phật chính
là niềm vui, một niềm vui lớn. Có lẽ vì vậy cho nên ông
Khổng Tử nói “Tri chi giả bất như hiếu chi giả, hiếu
chi giả bất như lạc chi giả” (Luận ngữ, chương “ủng
giả”–đệ lục). Nghĩa là: Biết mà học đạo không bằng
học đạo mà thấy được niềm vui ở trong đó. Và người
thầy dạy giỏi không phải là ông thầy trao truyền cho học
trò thật nhiều kiến thức, mà là người thầy biết tạo
ở nơi học sinh niềm vui thật sự trong khi học. Muốn có
niềm vui khi học tập, thì học tập phải có sáng tạo. Nhưng
nếu chỉ tiếp thu một cách thụ động thì không thể có
sáng tạo.
Muốn
học Phật có sáng tạo và có được niềm vui lớn, thì không
được một chiều đọc sách Phật, và thuộc lòng những điều
ghi trong sách Phật, tuy rằng việc ghi nhớ tốt sách Phật
cũng là điều đáng khen ngợi rồi. Việc đọc và học sách
Phật chỉ có ý nghĩa khi chúng ta biết kiểm nghiệm những
điều ghi trong sách với cuộc sống, với diễn biến ở ngoài
đời và ở trong thân tâm chúng ta. Ðời sống là quyển sách,
luôn trải rộng trước mắt. Thân tâm chúng ta, luôn phản
ứng trước những diễn biến của đời sống bên ngoài cũng
là một cuốn sách khác rất gần gũi đối với mỗi chúng
ta. Muốn học Phật có kết quả, chúng ta phải thường xuyên
đọc và nghiền ngẫm sách Phật (Kinh, Luật, Luận), “sách
cuộc đời” và “sách thân tâm” của chúng ta. Thí dụ
đọc kinh Pháp Cú, trong phẩm Tâm, chúng ta biết vấn đề
uốn nắn tâm, điều phục tâm, phòng hộ tâm, an trú tâm là
quan trọng đến dường nào, bởi lẽ đến hai bài kệ 42 và
43 của phẩm Tâm, kinh Pháp Cú cảnh báo rằng, tâm nghĩ bậy
còn làm hại chúng ta hơn kẻ thù hại ta: tâm nghĩ tốt, nghĩ
thiện sẽ làm tốt cho ta hơn cả cha mẹ muốn làm điều tốt
cho ta.
“Kẻ
thù hại kẻ thù
Oan
gia hại oan gia
Không
bằng tâm hướng tà
Gây
ác cho tự thân”
(Kệ
42)
“Điều
mẹ cha, bà con
Không
có thể làm được
Tâm
hướng chánh làm được
Làm
được tốt đẹp hơn”
(Kệ
43)
Ðọc
kinh Pháp Cú như vậy, chúng ta đã hiểu tâm nghĩ bất thiện,
nghĩ bậy, nghĩ tà tác hại đến chúng ta như thế nào, chúng
ta hãy kiểm nghiệm xem, chúng ta có thể hay không, suốt ngày,
luôn luôn, bất cứ ở đâu, hay làm gì điều tuyệt đối
không bao giờ nghĩ bất thiện, nghĩ điều làm hại người,
hại vật. Trái lại, thường xuyên nghĩ thiện, nghĩ điều
tốt lành đối với mọi người, mọi vật.
Chúng
ta biết, trong các thuyết về đạo đức học ở phương Tây
có thuyết của Socrates cho rằng, chỉ cần giảng giải cho
người biết rõ như thế nào là thiện, là ác thì con người
nhất định sẽ làm điều thiện, tránh điều ác. Có thể
nói, yêu cầu này của thuyết đạo đức học của Socrates,
đạo Phật đã đáp ứng một cách đầy đủ vớí thuyết
5 giới, 10 thiện: không làm 3 điều ác về thân là giết hại,
ăn trộm và tà dâm; không làm 4 điều ác về lời nói là
nói ác. nói dối, nói chia rẽ, nói lời vô nghĩa; không dung
dưỡng 3 điều ác về ý là tham lam, sân hận và si mê.
Có
thể nói thuyết đạo đức của phật giáo đã phân biệt
rạch ròi điều thiện với điều ác. Kinh Pháp Cú còn khuyên
chúng ta tránh điều ác, siêng làm điều thiện ngay từ trong
tâm của mình, ngay trong suy nghĩ. Vậy thì điều mà chúng ta
kiểm nghiệm đối với thân tâm mình, là có thể hay không,
sau khi được giảng về thuyết đạo đức của đạo Phật,
thân tâm chúng ta luôn luôn nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện,
luôn tránh nghĩ bất thiện, nói và làm điều bất thiện.
Có thể hay không thể? Và nếu không thể thì vì sao?.
Ðó
là điều tất cả chúng ta phải kiểm nghiệm khi học Phật.
Hãy xem trước một việc bất thiện, không nên làm, thân tâm
chúng ta sẽ phản ứng ra sao. Và trước một việc thiện nên
làm phản ứng như thế nào. Phải chăng chúng ta sẽ không
ngần ngại, không do dự làm việc thiện và tránh việc bất
thiện.
Tôi
biết rằng việc này không dễ. Trong Thiên Chúa có thuyết
đạo đức cho rằng, do con người phạm nguyên tội từ thời
Adam, cho nên trong nhiều trường hợp, chân tay không làm theo
cái đầu, mà còn làm trái lại. “Mọi người đều mâu thuẫn
với bản thân vả cuối cùng với Thượng đế, bởi lẽ có
một quy luật của tay chân chống lại quy luật của tâm thức
của nó” (Xem “Christ vs Socrates” – Reinhold Niebuhr, chuyển
dẫn từ cuốn “Towards liberal education”, tr.773). Thuyết này
của Thiên Chúa giáo được minh họa bằng câu tâm sự của
Pauline: “Điều thiện mà tôi muốn làm thì tôi không làm.
Điều ác mà tôi không muốn làm, thì tôi cứ làm”. Chúng
ta cũng có thể nhắc lại câu thời danh của Bertrand Russell
xác định xu thế căn bản của con người là lòng tham “quyền
lực và danh vọng”.
Tôi
kể ra hết như vậy, để người học Phật được học thuyết
đạo đức rạch ròi thiện ác, chúng ta nỗ lực nghĩ điều
thiện, nói và làm điều thỉện. Tránh nói, làm điều ác,
điều bất thiện. Còn về thuyết của Thiên Chúa giáo, nói
tay chân không vâng lời cái đầu, và về tâm sự bất lực
của Pauline, thì người học Phật suy nghĩ thế nào?
Tôi
nghĩ là đạo Phật đã có câu trả lời: Kinh Lăng Nghiêm nói
tới tập khí nan trừ, tức thói quen lâu ngày khó bỏ. Sách
Phật cũng khuyến cáo Phật tử phải sống như ngưòi chiến
sĩ, và có một nỗ lực đạo đức không ngừng. Nỗ lực
đạo đức của người Phật tử có hai mặt: một mặt là
tự mình phấn đấu để trở thành người hoàn thiện, một
mặt nữa là hết lòng giúp đỡ chúng sinh, giúp đỡ người
khác. Hai mặt đó bổ sung và hỗ trợ nhau. Cũng như muốn
tránh ác, thì làm thiện. Muốn làm thiện thì tránh ác. Làm
thiện tránh ác thì tâm ý mình sẽ trong sáng, tâm ý trong sáng
giúp cho việc làm thiện, tránh ác được dễ dàng. Cũng như
hai chuyện hướng ngoại và hướng nội của đạo Phật là
bổ sung và hỗ trợ cho nhau chứ không mâu thuẫn nhau. Nhiều
người lầm, khi nghe nói đạo Phật hướng nội bèn vội cho
đạo Phật là ích kỷ, là bàng quán với đời. Họ không
hiểu rằng, muốn giúp đỡ người khác có hiệu quả thì
nội tâm người giúp phải trong sáng, thiện lành. Ðó là những
điều chỉ cần qua kiểm nghiệm ở đời là thấy liền không
phải bàn cãi. Giúp người có năm bảy cách. Có thể giúp
người mà làm hại người. Thí dụ có những đạo sư tà
giáo tổ chức cho hàng loạt đệ tử mình tự tử tậr thể!
Chuyện này đã từng xảy ra với giáo phái gọi là “Cổng
Thiêr đường” ở Thụy Sĩ và ở Mỹ.
Chính
vì vậy mà đạo Phật khuyến cáo nỗ lực giúp đỡ chúng
sinh phải đi đôi với nỗ lực hoàn thiện bản thân.
Ðể
giúp loại bỏ niệm ác (tức là tư tưởng ác), Phật nói
là người có niệm ác không khác gì nuôi kẻ thù trong nhà,
nó làm hại mình còn hơn kẻ thù làm hại mình. Trái lại
người có niệm thiện, niệm lành thì niệm thiện, niệm lành
đó còn giúp đỡ mình hơn cha mẹ , bà con giúp đỡ mình nữa
(Xem kinh Pháp Cú, kệ 42, 43).
Ðối
với người bị niệm ác ám ảnh, dày vò, sách Phật khuyên
chúng ta dùng 5 biện pháp:
a)
Dùng niệm thiện, đánh bật niệm ác, cũng như người thợ
mộc thiện xảo dùng một niêm gỗ này đánh bật một niêm
gỗ khác.
b)
Xem niệm ác là một cái gì ghê tởm, như xác chó hay xác rắn,
sao lại đem quàng vào cổ, mà trái lại phải vứt xa đi.
c)
Ðối với niệm ác, cũng như đối với một vật xấu, chúng
ta đừng nhìn nó nữa, mà nhìn sang nơi khác.
d)
Hãm chậm dòng ý niệm lại, cũng như người đang chạy, chuyển
sang đi bước một, đang đi thời đứng lại, rồi ngồi lại.
e)
Cũng như người lực sĩ, mím chặt môi, dùng cả sức mình
vứt niệm ác ra xa.
Năm
biện pháp trên, có trong kinh An Trú Tầm, thuộc kinh Trung Bộ,
tôi chỉ thuật lại ý đại khái, không dẫn nguyên văn. Nhưng
qua lời thuật đại khái, chúng ta cũng đủ thấy Ðức Phật
cũng không nói sống đạo đức là chuyện dễ dàng, không
những phải cố gắng thường xuyên mà còn phải khéo léo,
thiện xảo nữa.
Riêng
về biện pháp thứ tư, tôi xin giải thích thêm một ít. Ðây
là biện pháp chủ động làm giảm tốc độ của dòng chảy
tâm thức, của dòng ý niệm. Thí dụ có người nghĩ tới
thuốc lá, vội đi tìm ngay bao thuốc, rút thuốc ra châm hút...
Con người hành động như cái máy. Ở đây người học Phật
nghiện thuốc, cũng sẽ không làm thế. Vừa nghĩ tới thuốc
lá, anh ta sẽ không đứng dậy đi lấy bao thuốc, mà ngồi
lại nghĩ tới ung thư phổi, bệnh lao, nghĩ tới chuyện tốn
tiền, vợ con la rầy... Nói tóm lại , tức là hãm chuyện
hút thuốc lá lại, rồi chuyển dòng ý nghĩ mình sang các chuyện
như ung thư phổi, bệnh lao phổi... Nhưng muốr làm được
việc đó, thì đừng có chạy theo dòng ý niệm hút thuốc
lá như một cái máy, như một người không biết suy nghĩ.
Lợi ích của việc hãm chậm dòng chảy ý mệm là như vậy.
Niệm
ác, niệm bất chính có nhiều lắm, và còn phức tạp hơn
nhiều niệm hút thuốc lá. Nhà phân tâm học Freud nói đến
sụ ám ảnh tình dục. B.Russell nói đến tham vọng “quyền
lực và danh vọng”, sách báo phương Tây nói nhiều đến
lòng ham muốn hưởng thụ vật chất, ý muốn tham nhũng của
một số người muốn “hy sinh đời bố, củng cố đời con”...
Ðối với tất cả những ý mệm ác, bất thiện có khả năng
xảy ra như trên, chúng ta sẽ gắng áp dụng một trong năm
biện pháp Ðức Phật dạy trong kinh An Trú Tầm.
Là
người học Phật, thường xuyên được đọc sách Phật, chứa
đựng những tư tưởng đẹp, thiện, lành. Những tư tưởng
đó, tiếp thu vào người, tạo ra một chuyển biến nội tâm
hướng thiện và hướng thượng. Chúng ta thường xuyên gần
gũi những người học Phật khác, sống theo năm giới, mười
thiện đều là những gương sáng thúc đẩy chúng ta tránh
ác, làm thiện. Nhiều người đều sống như vậy, thì chúng
ta sẽ tạo ra cả một cộng nghiệp thiện lành. thành cả
một áp lực thúc đẩy xã hội hướng thiện và hướng thượng.
Tất
nhiên, không tránh khỏi có ngoại lệ. Nhưng người viết bài
này nhân dịp lễ Phật Ðản năm nay, rất tin ở sức mạnh
bất khả kháng của điều thiện, điều lành, tin ở sức
mạnh của lòng thương, lòng từ, một sức mạnh tỏa sáng
một cách tự nhiên từ tấm lòng của mọi người Việt Nam
trải qua nhiều đau khổ, bất hạnh, nhưng suối nguồn tình
thương đó không bao giờ cạn, vẫn dồi dào thêm, sẽ làm
dập tắt mọi hận thù và bất hạnh, đẩy lùi mọi tệ nạn
xã hội, khai mở những trang sử mới đẹp đẽ nhất cho thiên
niên kỷ mới này.
(NSGN
số 74– tháng 5 - 2002)