Trụ
đá bia ký của vua A Dục trồng 300 năm BC, đánh dấu nơi Phật
Ðản sanh
Hàng
thế kỷ qua, những người hành hương từ các nơi trên thế
giới đã lùng sục khắp các chân đồi của dãy Hy Mã Lạp
Sơn với hy vọng tìm ra vị trí chính xác nơi sinh của đức
Phật. Và lòng kiên nhẫn của họ đã được đền bù. Ngày
4 tháng 2 năm 1996 vừa qua, một đội các nhà khảo cổ quốc
tế cho biết họ đã tìm được bằng chứng cuối cùng cho
thấy đức Phật được sinh ra tại Lumbini thuộc miền Tây
Nam nước Nepal.
Hoang
tàn và đổ nát, ngôi đền Maya Devi ở Lumbini - được xây
dựng cách nay gần 2600 năm, cách Kathmandu thủ đô vương quốc
Nepal khoảng 240 Km - là cái nôi của Phật giáo. Hầu hết các
Phật tử từ lâu đã tin rằng đây là nơi đức Phật ra đi.
Ngày nay các nhà khảo cổ đã khẳng định điều này và nói
rằng họ đã phát hiện một mảnh chứng cớ còn thiếu, nhưng
cực kỳ quan trọng - một "tảng đá hoàn hảo" được đặt
trên nền của ngôi đền Maya Devi và năm 249 trước Công nguyên,
đ đánh dấu vị trí chính xác nơi đức Phật được sinh
ra. Tảng đá này, cỡ 45 cm x 15 cm, được tìm thấy sâu bên
dưới, cách bề mặt đống đổ nát gần 5m.
Trên
đây là khám phá của nhà khảo cổ Babu Khrisna Rijal của Nepal
và Satoru Uessaka của Nhật Bản vào ngày 18-2-1995. Tuy nhiên
mãi cho đến gần một năm sau đó, họ mới công bố nó -
sau khi các chuyên gia Ấn Ðộ, Pakistan và Sri Lanka đã xác nhận
những vật này. Mặc dù các học giả Ấn Ðộ vẫn cho rằng
đức Phật không phải được sinh ra ở Nepal mà là quận Gorakhpur
thuộc bang Uttar Pradesh ngày nay, tuy nhiên, một tuần sau công
bố trên, vẫn không có phản ứng chính thức nào.
Theo
các kinh sách của Phật giáo, vào năm 623 trước Công nguyên,
thân mẫu của đức Phật, Hoàng hậu Maya Devi, đã ghé qua
Lumbini (Lâm Tỳ Ni) trên đưng về nhà cha mẹ tại Rangram. Bà
đã tắm trong một cái ao linh thiêng, và sau đó đi 25 bước
đến một khu rừng nhỏ để sinh con. Nhiều Phật tử tin rằng
đứa bé này, Hoàng tử Siddhartha, đã nhỏm dậy và bước
đi bảy bước.
Gần
400 năm sau đó, Hoàng đế Ashoka (vua A Dục) - người được
cho rằng đã truyền bá Phật giáo khắp Ðông Á - đã làm
một chuyến hành hương đến nơi này và đặt một tảng đá
lên vị trí chính xác của nơi sinh đức Phật. Ông còn cho
dựng một cây trụ đá cao lớn gần đó, trên trụ đá có
khắc chữ nói về tảng đá này.
Một
số ngôi đền đã được xây dựng ngay trên vị trí này.
Nhưng hàng nghìn năm sau đó, Lumbini đã suy tàn đến nỗi vị
trí của nó đã bị xóa đi trong hàng trăm năm. Sau nhiều cuộc
tìm kiếm của các Phật tử, vào năm 1895, cây trụ đá Ashoka
đã được tìm thấy. Mãi đến năm 1993, công việc khai quật
mới bắt đầu được tiến hành với 200 công nhân. Họ đã
khám phá một cấu trúc bao gồm 15 phòng. Tại trung tâm cấu
trúc này, họ đã mở được một căn hầm, bên trong là tảng
đá mà người ta tin là do Ashoka đặt. Các quan chức Nepal khẳng
định rằng nó cách cái ao mà Hoàng hậu đã tắm đúng 25
bước chân.
Việc
phát hiện chính xác nơi sinh của đức Phật có một tầm
quan trọng to lớn đối với khoảng 350 triệu Phật tử trên
khắp thế giới.
Hai
ngày sau lịnh công bố trên, đức Vua Birenda của Nepal cùng
Hoàng hậu Aishwarya và Thủ tướng Sher Bahadur Deuba đã đến
Lumbini để xem tảng đá và trụ đá lớn Ashoka. Rijal và Satoru
đã giải thích với nhà Vua rằng đây là một tảng đá khối
không có ở vùng này. Nó đã được mang đến đây và đặt
vào trung tâm của ngôi đền. Và họ tiếp tục khẳng định
đây chính là tảng đá được nhắc đến trong lịnh khắc
ghi trên trụ đá lớn Ashoka.
(Theo
Asia Week)
Lâm Tỳ Ni (Lumbini)
Tuy
rằng Lâm Tỳ Ni là một trong những nơi quan trọng của thánh
tích Phật giáo nhưng nhiều năm tháng đã bị bỏ hoang ; ngay
cả sau khi đã được nhà khảo cổ người Ðức, ông Fuhrer,
phát hiện vào năm 1895 qua tàn tích trụ đá vua A Dục (Asoka),
nhân một cuộc du ngoạn dưới chân một ngọn đồi thuộc
rặng núi Churia .
Lâm
Tỳ Ni dầu ngày nay điêu tàn, nhưng khi Ðại đế Asoka đến
viếng thì vẫn còn là một thôn thịnh vượng có nhiều cảnh
trí nên thơ . Nhà vua đã cho dựng bốn ngọn tháp và một
trụ đá bằng sa thạch có tượng một con ngựa trên đầu
trụ . Trên trụ đá ngày nay chúng ta vẫn còn thấy hàng chữ
:"Sau hai mươi năm lên ngôi, vua Priyadarsi (1), người được
chư Thiên yêu mến, đã thân hành viếng thăm và cúng dường
cũng như lễ bái nơi đây, bởi vì Ðức Phật, thánh nhân
dòng họ Thích , đã được sanh ra nơi đây"(2) .
Lâm
Tỳ Ni đã từng là nơi mà những nhà chiêm bái học giả như
Ngài Pháp Hiền vào thế kỷ thứ V và Ngài Huyền Trang vào
thế kỷ thứ VII, cũng như Ngài Thích Minh Châu vào thế kỷ
thứ XX . Trong cuốn Phật Quốc ký , Ngài Pháp Hiền đã ghi
lại như sau :"Năm mươi lý về phía Ðông của cung thành là
một vườn ngự uyển mang tên Lâm Tỳ Ni ; chính nơi đây Hoàng
Hậu đã tắm rửa và sau đó đi về phía Bắc khoảng hai mươi
trượng . Người vịn vào một nhánh cây, khi dõi mắt về
phương Ðông, Hoàng Hậu đã sanh ra Thái Tử . Khi sanh ra, Thái
Tử đã đi bảy bước và hai vị vua rồng đã phun nước để
rửa thân thể Ngài . Nơi này về sau đã được đào thành
một cái giếng, ở đây nó giống như là một cái hồ, những
nhà sư dùng nước trong đó để uống"(3) . Pháp sư Huyền
Trang đã tường trình như sau trong cuốn ký sự của mình :"Từ
cái giếng tên (tiễn tĩnh -nơi mũi lao của Thái Tử Tất Ðạt
Ða ghim vào và tạo thành) đi về phía Ðông Bắc 80 hay 90 lý
gì đó, chúng ta sẽ gặp vườn Lâm Tỳ Ni . Nơi đây có một
hồ tắm của dòng họ Thích, nước trong hồ chói sáng và
trong suốt như một tấm gương, trên mặt hồ nở nhiều loại
hoa .
Về
hướng Bắc cách hồ khoảng 24,25 trượng là một cây hoa Vô
ưu, mà bây giờ đã tàn rụi ; đây chính là nơi Bồ tát đã
ra đời vào ngày thứ tám hạ tuần của tháng Vaisakha, tương
ứng với ngày tám tháng Ba cuả lịch ta. Thượng tọa bộ
thì cho rằng ngày đản sanh nhằm vào ngày 15 cuả hạ tuần
tháng đó, trùng với rằm tháng Ba của ta. Phía Bắc của cây
là một cái tháp được dựng bởi Vua A Dục, chính là nơi
mà hai con rồng đã tắm Thái Tử . Khi Bồ tát hạ sanh, Ngài
đã đi không cần ai dìu dắt về bốn hướng, mỗi hướng
bảy bước và nói rằng :"Ta là vị chúa tể duy nhất trên
trời và trên đất . Từ nay trở đi không còn sanh nữa"(4)
. Nơi nào mà chân Ngài chạm đến nơi đó nảy sanh một hoa
sen lớn . Hơn tất cả, hai con rồng bay bổng lên và lượn
trên không, từ trên đó phun ra một dòng nước lạnh và một
dòng nước ấm để tắm Thái Tử .
Phía
Ðông của tháp là hai cái vòi nước tinh khiết, bên hông đó
được dựng lên hai cái tháp . Ðây là nơi mà hai con rồng
đã từ đất vọt lên . Khi Bồ tát hạ sanh, những thể nữ
đã tủa đi tứ hướng để tìm nước cho việc tắm Thái
Tử . Khi đó thì hai dòng nước ấm lạnh tuôn chảy từ đất
ngay phía trước Hoàng Hậu, họ đã dùng nước đó để tắm
rửa cho Ngài .
Ði
về phía Nam cũng có một cái tháp . Ðó là nơi vua trời Ðế
Thích Sakra đã đón Bồ tát vào tay mình . Khi Bồ tát hạ sanh
từ phía hông bên phải của mẹ Ngài, bốn vua trời đã dùng
lụa vàng kim để quấn Ngài, đặt Ngài trên một cái mâm
vàng và đưa cho mẹ Ngài, họ nói :"Hoàng Hậu hãy vui mừng,
vì đã khai sanh một đưa bé may mắn thế này" . Nếu chư Thiên
đã vui mừng như thế thì loài người phải vui mừng đến
bực nào!
Bên
hông của tháp này và không xa là một trụ đá lớn đã được
dựng nên bởi Vua A Dục, bên trên trụ là tượng một con
ngựa . Truyền thuyết kể rằng, sau đó một con rồng hung
ác đã làm gãy đổ cây trụ ngay chính giữa . Bên hông nơi
đó là một dòng sông nhỏ chảy về hướng Ðông Nam . Những
thôn dân nơi đây gọi là dòng sông dầu . Ðây chính là dòng
nước mà chư Thiên đã hoá ra như là một hồ nước trong
và chói rạng để Hoàng Hậu, sau khi sanh Thái Tử, tắm rửa
. Bây giờ thì nó đã biến thành một dòng sông, mà nước
của nó vẫn còn thấy nhớt"(5) .
Theo
hồi ký của Ngài Minh Châu thì :"Ngày xưa cảnh vật tươi
đẹp bao nhiêu, thì ngày nay khu vườn lại tàn tạ tiêu điều
bấy nhiêu . Mặc dù có cây cối đền tháp, nhưng cảnh trí
không được huy hoàng như xưa, và nhất là không tốt đẹp
như các thánh tích thuộc Chính phủ Aán Ðộ mà tôi đã chiêm
bái . Chính phủ Nepal đang cố gắng sửa sang lại thánh tích
này, nhưng có lẽ vì cách trở đường sá nên công việc chưa
mấy kết quả ! Tôi hơi buồn cho thánh tích tiêu sơ này "(6)
Vào
thế kỷ thứ XIV, 1314, vua Ripu Malla của Tây Nepal đã đến
đây chiêm bái và khắc tên mình lên trụ đá . Từ đó đến
nay, Lâm Tỳ Ni đi vào quên lãng . Mặc dù đã bị bỏ hoang
từ nhiều thế kỷ trước, khi Ngài Pháp Huyền và Ngài Huyền
Trang đến đây thì không còn dân cư ở đó nữa, Lâm Tỳ
Ni vẫn còn là một nơi chiêm bái cho những người Phật tử
. Sau khi được khai quật trở lại nhân vào Ðại hội Tăng
già Thế giới lần thứ tư 1958, vua Mahendra đã cúng dường
hơn 100.000 rúp để trùng tu Lâm Tỳ Ni . Năm 1967, Tổng thư
ký của Liên Hiệp quốc U.Thant đã thành lập một hội đồng
trùng tu Lâm Tỳ Ni và biến chương trình này thành một vấn
đề quốc tế . Tháng 10 năm 1978, Ðại hội Phật tử Thế
giới tại Nhật đã tuyên bố năm 1979 là năm của Lâm Tỳ
Ni .
Những
chiến tranh tôn giaó đã tàn phá thánh tích Phật giáo này
và đưa nó vào quên lãng hơn sáu thế kỷ . Nhưng thông điệp
của Ðức Phật đã bất diệt, lớn dần và trở nên quan
trọng qua từng thế kỷ . Nhất là trong thế kỷ này giáo
lý Phật Ðà lại càng có giá trị hơn bao giờ hết . Những
lời dạy về từ bi, hoà bình, khoan dung và con đường giác
ngộ đã được tất cả tôn giaó trên thế giới đón nhận
.
Lâm
Tỳ Ni nơi thiêng liêng mà Phật giáo bắt đầu vào năm 623
trước TL, một lần nữa đã trở thành một trong những thánh
tích tôn giaó lớn nhất thế giới .
__________
Vương
hiệu của vua A Dục, soạn giả chú.
Lumbini
Development Trust, Genesis Publishing, Kathmandu, Nepal/1988, tr.5
Samuel
Beal, Buddhist Records of the Western World, Montilal Banarsidass Publishers,
Delhi,1994,tr.1
Thiên
thượng thiên hạ duy ngã độc tôn. Kim thời di hậu ngã sanh
đoạn tận (câu sau người viết thêm) .Samuel Beal, Buddhist Records
of the Western World, Montilal Banarsidass Publishers, Delhi,1994,tr.ii
24-25.
Thích
Minh Châu, Ðường về xứ Phật , Ðại Nam, California, 1994,
tr.103
(Tuần
báo Giác Ngộ số 163 -5/1999)