Lâm-Tỳ-Ni
(Lumbini)
Minh
Châu, Thiện Châu, Huyền Vi, Pasadika
Rời
khỏi Kusinara kính mộ, chúng tôi trở lại ga Gorakhpur để
đi thăm Lâm-tỳ-ni, nơi đức Từ phụ đản sanh.
Từ
Gorakhpur đến Nowgarh phải mất 3 tiếng đồng hồ tàu hỏa.
Ðến nơi trời đã nhá nhem tối, chúng tôi phải ngủ tại
ga đến sáng mới tiếp tục cuộc hành trình chiêm bái. Nowgarh
là một ga nhỏ bé ở miền quê, nên cũng không ồn ào cho
lắm, trừ khi có những chuyến tàu ghé qua. Khi chúng tôi đến,
cảnh vật ở đây hình như đượm màu tươi thắm. Khí trời
mát mẻ trong lành.
Lạ
thay! Ðến bất cứ Thánh địa nào, lòng chúng tôi cũng ngập
tràn niềm rạo rực. Bắt đầu đi ngủ, tôi tự bảo đêm
này ngủ sớm một chút để sức khoẻ cho cuộc hành trình
tiếp tục vào ngày mai. Nhưng những hình ảnh Lâm-tỳ-ni, do
tôi tưởng tượng, cứ liên tiếp hiện ra với muôn màu muôn
sắc! Trần trục đến gần 1 giờ tôi mới thiếp ngủ, 4 giờ,
thầy Thiện Châu đã thức dậy vặn đèn, kêu chúng tôi để
cùng xếp hành lý. Chưa đến giờ, nhưng Thượng tọa Minh
Châu đã hối chúng tôi xếp hành lý ra xe. Tất cả như muốn
cho mau đến giờ để được viếng thăm và chiêm bái Phật
tích quan trọng này, nơi ra đời của đức Từ phụ cao cả.
Nơi ngàn năm còn ghi nhớ đối với hàng Phật tử năm châu.
7 giờ
sáng, chiếc xe buýt mới khởi hành, đưa chúng tôi từ Nowgarh
đến vườn Lâm-Tỳ-ni (Lumbini). Chiếc xe nhẹ nhàng băng qua
những cánh đồng xanh tươi bát ngát. Dãy núi Hy-ma-lạp-sơn
(Himalaya) với những chóp núi hùng vĩ trắng xóa ẩn sau những
khóm mây lam biếc. Những tháp miếu cổ kính tuần tự hiện
ra trước mắt chúng tôi. Chiếc xe buýt mang chúng tôi vượt
khỏi ranh giới Ấn Ðộ để sang địa phận nước Népal.
Quảng đường dài gần 40 cây số, nhưng chúng tôi cảm thấy
gần bên cạnh. Cảnh tượng Ðản sanh như chập chờn trước
mắt chúng tôi.
"Còn
thấy vô ưu cây bảo thọ,
Nghìn
năm giữ mãi vẻ nên thơ...".
Những
chi tiết về lịch sử Ðản sanh được ghi trong tập Nidànakathà
lần lượt hiện ra trong óc chúng tôi:
--
"Hơn 2.500 năm trước, tại vườn Lâm Tỳ ni này, một vị
đại Giác ngộ đã ra đời. Ngài ra đời để đem lại ánh
sáng tuyệt vời cho nhân thế lầm thanh đau khổ.
Theo
phong tục cổ truyền của Ấn Ðộ (nay một vài nơi vẫn còn,
phụ nữ phải trở về quê hương cha mẹ để sanh nở đứa
con đầu lòng. Hoàng hậu Màyà cũng y theo cổ lệ để làm
gương cho dân gian. Một hôm hoàng hậu tâu vua Tịnh Phạn:
"Tâu Hoàng thượng, gần ngày sanh nở, theo tục lệ cổ truyền,
con xin phép trở về Devadaha, kinh thành của cha mẹ con...".
Vua Tịnh Phạn hoan hỷ chấp nhận và truyền lịnh cho thần
dân sửa sang, trang hoàng con đường từ thành Ca-tỳ-la-vệ
(Kapilavastu), đến kinh đô của Ajana, nơi thân phụ Hoàng hậu
Màyà đang trị vì. Một chiếc kiệu được trang hoàng rất
đẹp đẽ. Hoàng hậu đoan chính ngồi trên kiệu hoa. Theo hộ
giá, có đến hàng trăm thị vệ va cung phi mỹ nữ.
Giữa
hai kinh thành của hai quốc vương, có một khu vườn thạnh
mậu, có một cây Vô ưu (Asoka) đang nở nhiều cánh hoa tươi
đẹp. (Tục truyền hoa naỳ mấy ngàn năm mới nở một lần.
Khi hoa nở là điềm có thánh nhân xuất hiện). Dân làng địa
phương gọi khu vườn này là Lumbini Nava. Lúc bấy giờ, vườn
đầy hoa thơm cỏ lạ, cây cối xanh tươi. Những đàn ong,
những cánh bướm bay liệng chập chờn, từ đóa hoa này đến
đóa hoa khác, để hút mật hoa. Chim chóc bốn phương đua nhau
trỗi lên những bản nhạc du dương, êm ái, tạo thành một
bức họa tuyệt vời cho cánh Lâm-tỳ-ni.
Hoàng
hậu xuống kiệu, từ từ bước vào khu vườn ngoạn thường
cảnh sắc tươi đẹp của buổi bình minh. Một nhành cây vô
ưu như rũ xuống để:"Chào đón siêu nhân ứng hiện ra...".
Tay phải của Hoàng hậu với hái cánh hoa Vô ưu, ngay lúc ấy,
Thái tử đản sanh. Bốn vị Thiên vương cầm những chiếc
áo Kiều-thi-ca mềm trĩu, đỡ lấy Thái Tử. Sau đó 9 con rồng
phun nước vào bồn vàng để tắm gội Thái tử. Bảy chiếc
hoa sen liên tiếp hiện ra đỡ lấy gót chân Ngài. Nhạc ngũ
âm của ai vang dậy cả mấy từng không. Hoa Mạn-đà-la không
biết từ đâu tung vãi khắp vườn.
Ôi!
Mầu nhiệm và hoan lạc biết bao! Ðược tin mừng Thái tử
đản sanh, cờ xí rợp trời, trống kèn dậy đất. Vua Tịnh
Phạn đích thân đi rước Hoàng hậu và Thái tử về hoàng
cung. Tất cả quần thần được hội lại để đặt tên cho
Thái tử Tất-đạt-đa (Siddhartha), tên của vị Thái tử phi
thường tuấn tú có ra từ đấy."
Và
trong tập Buddhacarita cũng có chép: "Sau khi Thái tử đản sanh,
Ngài nhìn về các phương: Ðông, Tây và ngó lên, ngó xuống
nhìn khắp bốn phương rồi hướng về phương Bắc đi bảy
bước trên những đóa sen kỳ diệu. Mầu nhiệm thay cử chỉ
siêu việt này. Ði đến bước thứ bảy, vừa nghiêm nghị,
vừa oai hùng, Ngài nói: 'Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc
tôn'".
Chúng
tôi tiến vào khu rừng lịch sử, thắp hương đèn hành lễ,
thành tâm nguyện cầu cho tất cả mọi ngưòi thường được
hạnh phúc và tìm thấy ánh sáng nhiệm màu mà Thái Tử Tất
đạt đa đã mang đên cho thế gian này cách đây 2.500 năm.
Cùng đi với chúng tôi có năm vị Ưu-bà-di và một sinh viên
Phật tử ở Miến Ðiện. Họ cũng cùng hành lễ với chúng
tôi.
Ngày
xưa cảnh vật tươi đẹp bao nhiêu, thì ngày nay khu vườn
lại tàn tạ bấy nhiêu. Mặc dù có cây cối đền tháp, nhưng
cảnh trí không được huy hoàng như xưa và nhất là không
tốt đẹp như các Thánh tích thuộc chính phủ Ấn mà chúng
tôi đã chiêm bái. Chính phủ Népal đang cố gắng sửa sang
lại Thánh tích này, nhưng có lẽ vì cách trở đường sát
nên công việc chưa mấy kết quả! Chúng tôi hơi buồn cho
Thánh tích tiêu sơ này, như nhờ lời dạy về lý Vô thường
của đức Phật: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng"
làm cho chúng tôi giữ được sự an tịnh trong tâm hồn.
Chúng
tôi đi sâu vào khu vườn để tìm lại di tích. Lần lượt
chúng tôi đến viếng những cảnh sau đây:
1.
Trụ đá của vua A-Dục
Vườn
Lâm-tỳ-ni do ông Furere tìm thấy vào năm 1806, sau khi gặp được
trụ đá của vua A-Dục tại chỗ này. Thâu thập đủ tài
liệu và chứng minh chắc chắn, ông Furere đã công khai tuyên
bố: "Chỗ này là vườn Lâm-tỳ-ni, nơi Ðức Phật đản sanh".
Rồi được chính phủ Nepal công nhận. Từ đó về sau khu
vườn này trở nền mầu nhiệm, được dân chúng Ấn Ðộ
và người ngoại quốc đến chiêm bái viếng cảnh rất đông.
Vua
A Dục dựng trụ đá này, khi Ngài đến viếng thăm và hành
lễ tại vườn Lâm-tỳ-ni. Trên trụ đá có khắc hàng chữ:
"Ðây là chỗ đức Gautama Ðản sanh". Trụ đá này hiện còn
tốt đẹp, tuy có một đường sứt mẻ, có thể do sét hay
bị ngoại đạo tàn phá cũng nên. Trên đầu cột trụ đá
không có hình gì cả. Trong ký sự cuả ngài Huyền Trang có
nói: "Ðầu trụ đá có hình con ngựa rất mỹ thuật và trơn
láng". Nhưng hiện nay chưa tìm được di tích hình con ngựa
đặc biệt ấy. Trên thân trụ có khắc 5 hàng chữ bằng tiếng
Brahmi:
Devannapiyena
piyadasina lajina-visativasabhisitena.
Atana-agacha
mahiyite. Hida Budhe-jate sakyamuniti.
Silavigadabhicha
kalapita silathabhe-cha usapapite.
Hida
Bhagavam jateti Lumbinigame ubalike kate,
Athabhagiye
cha.
Dịch
nghĩa đại khái như sau: "Vua Pryadarsin, được các vị thiên
thần kính mến và ủng hộ, tự Ngài thân hành đến đảnh
lễ tại chỗ này, sau khi lên ngôi được 20 năm. Chỗ này
là nơi Ðức Sakya Muni đản sanh. Ngài truyền lịnh cho các
quan trong triều xây một pho tượng rất lớn và đặt một
trụ đá dựng tại chỗ này, để đánh dấu một chỗ đức
Thế Tôn xuất thế. Từ đó về sau Vua truyền lệnh dân làng
Lumbini được miễn đóng thuế nghi lễ và chi trả 1/8 lợi
tức mà thôi".
Cột
trụ đá này chỉ rõ cho chúng ta biết chắc chắn chỗ này
là nơi Ðức Từ phụ đản sanh. Trụ đá của vua A-Dục dựng
lại Sarnath (Ba-la-nại) thì không ghi rõ là chỗ Phật chuyển
Pháp Luân lần đầu tiên, còn lại Buddhagaya (Chỗ Phật thành
Ðạo) và Kusinara (chỗ Phật nhập Niết Bàn) không có cột
trụ nào hết.
2.
Ðền thờ của Rummindel
Về
phía nam ngôi đền có một hồ nuớc gọi là hồ Puskarini,
chu vi khoảng 50 thước vuông. Tục truyền rằng: "Hồ nước
lịch sử này do 9 con rồng từ trên trời phun nước xuống
để tắm gội Thái tử, nay còn đọng lại". Nhà cầm quyền
ở đây xây thành một hồ để giữ nước và dân chúng địa
phương còn tin rằng ai tắm tại hồ này thì tật bệnh được
tiêu trừ, tội lỗi hết sạch. Lúc chúng tôi đến đây cũng
có mấy vị Bà-la-môn đang tắm gội một cách thành kính.
3.
Nền của một ngôi tịnh xá
Gần
con đường qua ngôi đền có trụ đá vua A Dục, chúng tôi
còn thấy nền móng của một ngôi tịnh xá cũ hình chữ nhật
và hình như chỉ là một văn phòng lớn. Một vài người ở
đây cho chúng tôi biết tại tịnh xá này đã có nhiều vị
tu đắc đạo. Và chính tại chỗ này người ta đã đào được
vài pho tượng nhỏ cuả Bồ tát Quan Thế Âm, Ðại Thế Chí
bằng đồng đen và một đồng tiền không được rõ ràng
lắm. Tại ngôi đền có nhiều mảnh tượng gãy nát, chúng
tôi xem qua không hiểu là tượng gì. Không biết có phải là
tượng con ngựa trên trụ đá vua A Dục chăng? Sau khi quan sát
nền của một ngôi tịnh xá, chúng tôi sợ trưa không kịp
chuyến xe trở về, nên vội vàng qua viếng thăm hai ngôi tháp
mới.
4.
Hai ngôi tháp mới
Chính
phủ Nepal trong chương trình sửa lại Thánh tích này đã dựng
được hai ngôi tháp hình trụ tròn, với những nguyên liệu
đào bới xung quanh Lâm-tỳ-ni. Hai tháp này không có chi mỹ
thuật cho lắm.
Ðã
10 giờ trưa rồi, chúng tôi phải từ biệt nơi đã ghi lại
dấu chân đầu tiên của vị Thái tử con vua Tịnh Phạn để
tiếp tục công việc chiêm bái nhiều nơi khác.
Trên
con đường quanh co khúc khuỷu trở về ga, chiếc xe buýt từ
từ chuyển bánh, lòng chúng tôi cảm thấy bùi ngùi và quyến
luyến mãi với hình ảnh Lâm-tỳ-ni.
Ngồi
trên xe, tôi suy nghĩ: không có sức mạnh nào bằng sức mạnh
đạo đức, không có sự vật gì cao quí bằng tình thương
chơn thật. Ðã xa cách mấy nghìn năm, cuộc đời của Từ
phụ tuy đã lui về dĩ vãng, chỉ còn lưu lại một đức từ
bi mà không biết bao nhiêu người tôn sùng thờ kính, không
biết bao nhiêu dân tộc đang hướng về đạo giải thoát cuả
Ngài.
Những
người lập sự nghiệp trên sức mạnh, quyền lực, mánh khoé
như Hitler, Napoléon, Tần Thủy Hoàng v.v... tuy danh vang một
thời thật nhưng chóng phai tàn làm sao, và chỉ để lại cho
hậu thế sự căm hờn tức giận. Ngày nay có ai, những người
chân chánh, còn muốn nhắc đến tên tuổi hoặc lập đều
để dùng bái tôn ngưỡng họ?
Ðức
Từ phụ đã xây dựng đạo nghiệp bằng tình thương chơn
thật, bằng đạo đức cao siêu, không dùng một quyền lực
áp bức, không tốn một mũi tên, một viên đạn mà đạo
nghiệp của Ngài mãi mãi được mọi người noi theo. Phật
tích khác, từ nơi Thế Tôn thành Ðạo, cảnh Chuyên pháp luân
cho đến vườn Lâm-tỳ-ni v.v... chúng tôi đã đến tận nơi
đảnh lễ, cúng dường, chiêm bái. Ðây là chỗ đức Phật
ứng thân thị hiện và sanh trưởng, làm sao chúng ta lại có
thể không đi? Nghĩ như vậy chúng tôi gởi hành lý tại ga,
chỉ đem theo một ít đồ cần dùng.
Năm
giờ rưỡi sáng, chúng tôi khổ cực dùng trà thay cho buổi
điểm tâm tại một quán cơm bình dân nghèo nàn, chiếc xe
ngựa mà chúng tôi thuê hồi hôm đã sẵn sàng chờ đợi.
Chúng tôi lên xe và ngựa bắt đầu chạy đều đều trên
con đường sương lạnh.
Ðúng
như lời người ta cho biết, đường thật là gồ ghề nguy
hiểm; nhiều đoạn chúng tôi phải xuống đi bộ vì ngồi
trên xe còn khổ hơn đi bộ, dễ sợ nhất là khi qua những
chiếc cầu lắc lẻo. Càng tiến về hướng núi Hy Mã, chúng
tôi càng bị bao phủ bởi những sương và sương, và chỉ
nhìn thấy những gì cách chúng tôi độ ba thước. Hình như
màn sương muốn chận đứng sự tiến bước của chúng tôi.
Tuy nhiên chiếc xe ngựa vẫn từ từ lướt tới và để lại
đàng sau những khối sương dày dặc nặng nề.
Phải
mất hơn ba tiếng đồng hồ mới đến được Ca-tỳ-la-vệ,
kinh thành lịch sử mà Phật tử năm châu hằng nhắc đến.
Mặt trời lên cao. Sương mù tan biến. Những rặng cây xanh,
những xóm nhà cũ kỹ lần lượt hiện ra. Chúng tôi rất hân
hoan vì nhờ duyên lành đời trước nên được viếng thăm
quê hương kính mến của đức Từ phụ nơi mà Phật tử Việt
Nam thường hát vang:
"Thành
Ca-tỳ-la sống vui đời Tịnh vương,
Người
người vui sướng, Thích Ca Ngài vừa ra đời..."
Một
vị cư sĩ tiếp đón niềm nở và đưa chúng tôi vào nhà.
Cả gia quyến của vị này đều đổi đãi với chúng tôi
một cách nồng hậu. Sau hỏi lại mới biết đây là gia đình
dòng họ Thích Ca (Sakya).
Sau
khi giải khát xong, mấy người con của vị này đưa chúng
tôi đi viếng "Thành" cách đó độ 4 cây số. Sau này, chúng
tôi xin kể lại một vài sự kiện lịch sử của đức Phật,
khi Ngài ở tại thành này: "Trước khi chưa giáng sanh ở thành
Ca-tỳ-la-vệ, Ngài còn là vị Bồ tát Hộ Minh ở trên cung
trời Ðâu Suất để thuyết pháp và giáo hóa chư thiên. Khi
cơ duyên đã đến. Ngài quan sát trong bốn châu thiên hạ duy
có vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Maya là người tu nhơn tích
đức lâu đời, xứng đáng làm cha mẹ Ngài, cũng như cha mẹ
muôn dân. Ngài cưỡi voi trắng 6 ngà từ trên cung trời Ðâu
Suất nội viện đến thành Ca-tỳ-la-vệ. Lúc bấy giờ nhân
ngày lễ vía các tinh tú, tại Ca-tỳ-la-vệ, từ quan chức
cho đến thứ dân đều được nghỉ việc để mừng lễ.
Mọi người tấp nập ăn chơi, đờn ca xướng. Bao nhiêu trò
hay chuyện lạ được biểu diễn khắp nơi. Riêng Hoàng hậu
Maya, sau khi dự lễ cầu nguyện trong Hoàng cung, ra ngọ môn
bố thí cho người nghèo khổ. Rồi Hoàng hậu trở về cung
yên giác. Ðiềm chiêm bao kỳ lạ đã đến với Hoàng hậu:
Một người tướng mạo khôi ngô, cưỡi con voi trắng 6 ngà
chen vào hông bên hữu của Hoàng hậu.Giật mình thức dậy,
Hoàng hậu cảm thấy trong mình nhẹ nhàng, khoan khoái:
"Maya
mộng ứng niềm hoan lạc,
Voi
trắng quỳ dâng đóa bạch liên.
Âm
nhạc bốn phương lừng các điện.
Vang
lời chúc tụng hội quần tiên
Giáng
sinh ngày ấy không xa nữa.
Là
một tin vui khắp mọi miền!
Chiếu
rạng tưng bừng xa bóng tối.
Rồi
đây sẽ có đạo vàng thiêng... (N.H).
Sau
khi Thái tử giáng trần 7 ngày, Hoàng hậu nhờ phước báo
hạ sanh ra Ðấng giác ngộ tương lai, được thăng về cung
trời Ðạo Lợi. Vua Tịnh Phạn giao Thái tử cho bà Mahaprajapati
(Ma-ha Ba-xà-ba-đề) nuôi dưỡng. Ngày tháng trôi qua, càng ngày
càng khôn lớn, Thái tử học hành kiểm ưu, tài năng xuất
chúng. Nhưng Ngài nhìn thấy nhơn sinh thống khổ, thế cuộc
vô thường, nên quyết chí xuất gia tìm đạo để giải thoát
cho mình và cứu độ chúng sinh. Một đêm nọ, lúc canh ba đã
gần tàn, Ngài đang ngồi trầm tư mặc tưởng bỗng nghe đâu
trên hư không có tiếng của chư thiên văng vẳng vọng lại:
"Ngày
nay tuổi đã lớn rồi
Sao
không nhớ lại những lời nguyện xưa
Xin
tu chứng đạo chơn thừa
Trần
gian vẫn đục say sưa làm gì?
Ngài
còn lần lựa thế chi,
Chúng
sanh ngu dại ai thì bảo ban.
Mau
mau mở lối Niết bàn
Khêu
đèn Trí tuệ vén màn vô minh". (L. S. P. T)
Ngài
suy nghĩ không thể dần dà được nữa mà phải xuất gia tìm
chơn lý. Một đêm nọ sau khi buổi yến tiệc linh đình và
mọi người yên giấc, Ngài cùng Xa Nặc cưỡi ngựa Kiền
Trắc vượt qua thành Ca-tỳ-la-vệ này để "Dấn thân nơi
cát bụi tìm đạothiêng".
5.
Thành Ca-tỳ-la-vệ
Tiến
qua một cánh đồng, gồm những vườn xoài, những mương nước,
chúng tôi đến nội thành Ca-tỳ-la-vệ.
Hiện
tại, sự tìm tòi và nghiên cứu tường tận của ông Vincent
Smith và ông De Vost cho chúng ta biết rằng Ca-tỳ-la-vệ của
vua Tịnh Phạn ngày xưa, hiện nay nằm tại nơi được gọi
là Tilaurakota, thuộc hạt Terai và cách xa ga Shoharatgarh 20 cây
số. Cả vùng thành Ca-tỳ-la-vệ này được bao bọc bởi nhà
cửa thưa thớt của dân làng Taulihwa. Thành rộng lớn bao la
và nằm trên bờ
sông
Banganga. Chúng tôi tìm thấy nhiều vết tích những bức tường
của thành ấy và rất nhiều đồi đất cao, có thể là các
đền đài ngày xưa. Hiện tại toàn vùng này bị cây cối
bọc bao trùm. Chúng tôi chỉ thấy xa xa một khu rừng rập
rạp. Ðến gần nhìn thấy rất nhiều gạch đá vụn, đây
có lẽ là một khu nhà rộng lớn của thành. Thầy Thiện Châu
có nhặt một viên gạch xưa đem về làm kỷ niệm. Chắc chỗ
này chưa ai đào bới cả.
Ngài
Pháp Hiển đến chiêm bái thành Ca-tỳ-la-vệ vào năm 403 sau
Tây lịch và ngài đã nhìn thấy toàn vùng này là một rừng
hoang cỏ dại, dân cư thưa thớt, chỉ thấy những di tích
phế tàn. Có một số tu sĩ tu khổ hạnh tại đây và độ
30 gia đình dân chúng. Ngài đến hỏi thăm các vị tu sĩ về
thánh tích ngôi thành này. Các vị ấy cho biết toàn vùng này
chính là thành Ca-tỳ-la-vệ thời xưa, và họ cố ở lại
đây để giữ gìn Thánh tích này, nhưng không đủ phương
tiện, đành chịu thua.
Vào
năm 636, ngài Huyền Trang cũng đến thăm viếng ngôi thành và
diễn tả di tích này một cách rõ ràng. Ngài viết: "Thành
Ca-tỳ-la-vệ kiến trúc theo lối cổ kính, xây dựng toàn bằng
gạch đá quí, bức tường thành vẫn còn, và kiến tạo rất
kiên cố. Hiện tại chỉ còn 634 phố, nhà lơ thơ, và một
ít dân chúng đang sống ở đó. Chung quanh có độ 100 tịnh
xá bị hư hỏng. Gần chỗ này có một ngôi tịnh xá vĩ đại,
30 tu sĩ tiểu thừa, và hai ngôi đền của Ba-la-môn giáo".
Ngài
Huyền Trang có nói đến trụ đá cuả Vua A Dục dựng lên
cao độ 9 thước tây, trên chót trụ đá có chạm hình con
sư tử rất đẹp. Về phía tây bắc của thành có hơn 100
tháp nhỏ, đánh dấu chỗ dòng họ Thích Ca bị giặc tàn sát.
Theo ngài Huyền Trang cho biết thời chu vi thành Ca-tỳ-la-vệ
độ chừng 400 lý hay 664 dặm Anh.
Một
vài di tích thành Ca-tỳ-la-vệ
a.
Nigaliwa: Ðộ 4 dặm cách Taulihwa có một cái hồ lớn gọi
là hồ Nigali. Gần hồ có một trụ đá bị gãy đôi, phần
trên dài 5 thước, bị cỏ dại phủ lấp, phần dưới còn
chôn sâu vào đất, phần trên có ghi một hàng chữ Tây Tạng
"OM MANI PADME HUM" (An-ma-ni-bát-ni-hồng); trên hàng chữ này có
khắc hai con công, phần trụ đá dưới có khắc những hàng
chữ Brahmi. Vua A Dục có đến thành Ca-tỳ-la-vệ. Ngài từ
vườn Lâm-tỳ-ni trở về, có viết bài kệ như sau:
Devanam
piyen piyadasin lajin chodasavasa (bhisi).
Bùdhasa
kranak manas thue dutiyan baddhihite (Bisttiva).
Sabhisten
chatina agach mahiyite (Sila thuhey chus).
Papite...
Phỏng
dịch: "Hoàng đế Piyadasin vào năm thứ 14 triều đại này
đã mở rộng lần thứ hai, tháp của đức Phật Kanaka và
đến năm 20 triều đại Ngài đã đích thân đến đây lễ
bái và cho dựng trụ đá".
b.
Tháp Piprahwa: Chỗ này là ngôi tháp được dựng lên trên phần
Xá-Lợi của đức Phật thuộc dòng họ Sakya. Tại chỗ này,
người ta có đào được một hộp bằng đá lớn trong đó
có bảo vật và nhiều mảnh xương vụn hơn 1.000 hộp bằng
đá rất nhiều ngọc ngà châu báu. Xá lợi này chính là xá
lợi của Phật, vì có khắc nhiều hàng chữ Brahami: "Ðây
là Xá-lợi của đức Gautama, do các dòng họ Sakya chôn tại
chỗ này và xây dựng bửu pháp lên trên".
c.
Kudan: Theo một vài nhà khảo cổ trứ danh cho biết, làng Kudan
cách xa Taulihwa độ hai cây số, có thể là chỗ đản sanh
của đức Phật Krakuchanđa. Tại chỗ này có hai mô đất lớn
bằng gạch và bằng đất; dân bản xứ gọi là Lori KiKudan.
Có thuyết cho rằng chỗ này là nơi đức Phật gặp đức
vua Tịnh Phạn sau khi Ngài đắc đạo và là chỗ 500 người
thuộc dòng Thích Ca quy huớng Tam bảo; cũng chính tại chỗ
này đức Phật thuyết pháp nhiệm màu cho chư thiên.
d.
Hồ nước Kunau: Chỗ này, người ta tin là nơi Thái tử cùng
các công tôn, vương tử thi bắn cung nên gọi là Saea-kup (tên
bắn). Lúc vua Tịnh Phạn chọn công chúa Gia-du-đà-la cho Thái
tử, vua Thiện Giác ra điều kiện rằng: "Ai muốn cưới công
chúa phải thi văn và đấu võ". Thái tử Tất-đạt-đa văn
võ toàn tài, tỏ ra là người xuất chúng, nên được cưới
công chúa Gia-du-đà-la.
e.
Sagarhwa: Chỗ này theo người ta cho biết, là nơi hoàng tộc
Thích Ca bị tàn sát. Ông Smith có viết rằng trong tháng giêng
ông A. Fuhrer có tìm được tại chỗ này 17 ngọn tháp nhỏ
rất có thể là nơi dấu hoàng tộc Thích Ca bị tàn sát. Sau
khi bị quân nghịch giết hại, đức Phật có phóng quang tiếp
độ các hương linh những người có thiện nghiệp trong dòng
Thích Ca được sanh về cõi Thánh.
f.
Ðền Shiva tại Taulihwa: Ðây là một trụ đá rất nhám. Gần
phía chân của trụ đá này, có hai hình dĩa tròn giống như
cái mâm, ở chính giữa thì dầy, phía ngoài mỏng dần, chính
giữa có một trụ đá nổi lên, phía dưới có hình tán góc.
Nó tương tự như trụ đá Linga ở chùa Bà Ðen (Sài gòn).
Hỏi thăm, người ở đó cho chúng tôi biết rằng: Dân bản
xứ có dụng ý đào trụ đá ấy, nhưng đào mãi không được.
Do đó họ tin rằng đó là thần Shiva Linga và thường đến
đó hành lễ, cúng bái, cầu nguyện.
g.
Ngôi chùa mới lập tại Taulihwa (ngoài thành Ca-tỳ-la-vệ):
muốn đền đáp công ơn muôn một cho tổ tiên, các gia đình
thân tộc Thích Ca còn lại có dựng lập một ngôi chùa trong
làng Taulihwa. Chúng tôi có đến viếng ngôi chùa ấy: Chùa
khá đẹp có vòng thành bốn phía.
Chúng
tôi thiết nghĩ, nếu có vị chơn tu nào đến trụ trì ở
đây chắc chắn khai hóa mối đạo chỗ này một cách dễ
dàng, vì ở đây sẵn có một số thân tộc Thích Ca triệt
để ủng hộ.
Ông
tộc trưởng cho chúng tôi biết, ông sẽ cố gắng hoàn thành
ngôi chùa này nội năm nay. Ðể góp chút công quả, chúng tôi
cúng dường 200 đ VN cho việc kiến tạo. Chúng tôi hy vọng
chốn này chóng phục hưng mối đạo, do chính người trong
dòng họ Thích Ca sáng lập.
Các
gia đình dòng họ Thích-Ca
"Bà
con thế tục mỗi ngày mỗi xa, dòng họ Thích Ca càng ngày
càng gần". Thật đúng với câu nói trên, gia đình ông tộc
trưởng và các cô bác khác gặp chúng tôi xá chào vui vẻ
và xem bộ như quen biết đã từ lâu đời. Thượng tọa Minh
Châu hỏi qua lai lịch dòng họ Thích Ca, và được ông tộc
trưởng cho biết hiện giờ còn độ 36 gia đình, trên 60 người
thuộc họ Thích Ca nhưng phần đông ở tại Nepal, hiện ở
gần thành Ca-tỳ-la-vệ chỉ còn ba gia đình. Cả ba gia đình
này có biên tên họ cho chúng tôi để giữ kỷ niệm. Như
do một luồng nhân điện truyền cảm, chúng tôi và những
người này mến nhau kỳ lạ, sự cảm mến cuả những người
cùng huyết tộc, nhất là sau khi họ biết chúng tôi cũng mang
họ Sakya (Thích) như họ.
Viếng
thành Ca-tỳ-la-vệ về đúng 12 giờ, chúng tôi thọ trai tại
nhà ông tộc trưởng. Ðây là một bữa cơm chay đạo vị
mà chúng tôi được dùng tại nhà dòng họ Thích Ca. Ông bà
tộc trưởng dọn một căn phòng khá rộng rãi trên lầu và
chọn những vật thực quí để cúng dường chư Tăng. Trong
khi thọ trai, ông tộc trưởng đích thân đứng làm thị giả.
Sự cảm thông qua tình đạo làm cho bữa ngọ trai hôm nay ngon
lành và ý nghĩa.
Hiệp
để mà ly, đến để rồi đi. Rất tiếc chúng tôi chỉ lưu
lại đây có mấy tiếng đồng hồ. Thọ trai xong, chúng tôi
sắp sửa từ giã ra về. Trên nét mặt của bất cứ một
người nào cũng có vẻ lưu luyến, bùi ngùi. Ðể ghi lại
sự gặp gỡ quí báu này, chúng tôi chụp vài chiếc ảnh kỷ
niệm. Niềm lưu luyến tràn ngập trong lòng mỗi người, thật
ra chúng tôi cũng chẳng muốn về chút nào, nhất là nhìn thấy
các cháu trong gia đình quá trìu mến. Xe đã chạy mà quí vị
ấy và các cháu còn chạy theo. Một thanh niên giáo sư thuộc
dòng họ Thích Ca chạy theo, đem bút máy và sách nài nỉ trao
tặng thầy Thiện Châu làm kỷ niệm. Thầy cố từ chối,
mãi mà không được. "Chỉ dính líu có hai chữ Thích Ca mà
khổ tâm thật!".
Ðường
về xứ Phật
Minh
Châu, Thiện Châu, Huyền Vi, Pasadika - 1964