Ðức Phật
Trong Nam Tạng Và Bắc Tạng
TT
Thích Chơn Thiện
Nam
Và Bắc có một số điểm nhìn khác nhau về Thế Tôn. Chính
điểm nhìn khác nhau này mở lối cho sự phát triển của PG
về sau và làm phong phú thêm kho tàng văn học PG.
Nguyên
thủy, Thượng tọa bộ và Ðại chúng bộ ghi nhận rằng Thế
Tôn và các Thánh đệ tử A La Hán đều giải thoát khỏi sanh
tử, nhưng vẫn có một số điểm phân biệt giữa Ngài và
các Thánh đệ tử ấy. Ngài là Giáo chủ duy nhất, là một
Thế Tôn duy nhất trong hiện kiếp, còn đệ tử của Ngài
chỉ có thể chứng A La Hán thực hiện con đường giải thoát.
Nguyên thủy và Thượng tọa bộ ghi sự biểu hiện của Thế
Tôn như một nhân vật lịch sử rất Người. Kiếp này là
kiếp sau cùng Ngài thành Phật với sự nỗ lực khám phá của
riêng Ngài. Ngài sống một cuộc sống gần gũi con người
và đầy tình người, ngoại trừ lòng từ bi vô hạn và trí
tuệ ngời sáng vô biên của Ngài.
Hình
ảnh Thế Tôn trong Nikàya và Aụgama là hình ảnh của một
khất sĩ đi chân không trong suốt bốn mươi lăm năm giáo hóa,
rất dung dị. Có lần Ngài đi hoằng hóa một mình và trú
mưa một đêm trong chòi lá của người thợ làm đồ gốm.
Tại đây, Ngài đã chuyện trò thân mật với một thanh niên
cũng vào trú mưa, du sĩ Pukkusati, đã nói pháp, khích lệ giúp
chàng chứng đắc quả Bất lai ngay tại chỗ (Trung Bộ kinh
III, kinh Giới Phân Biệt).
Một
lần khác, Ngài cũng lâm bệnh nặng như các đệ tử của
Ngài. Bấy giờ, Ngài yêu cầu Tôn giả Cunda nói lại pháp
Thất giác chi cho Ngài nghe. Pháp hỷ sanh khởi và Ngài lành
bệnh ngay (Tăng Chi Bộ kinh IV và Tương Ung IV).
Những
lúc không có thị giả theo Ngài, Ngài tự mình nhặt lá khô
làm thảo tọa để ngồi. Lúc trọng tuổi, có nhiều khi nhức
mỏi thân thể, Ngài ngưng nói giữa thời thuyết pháp và nhờ
Tôn giả Xá Lợi Phất nói tiếp. Ðoạn, Ngài ngả lưng xuống
nghỉ tại chỗ.
Có
nhiều lần Ngài ngồi trong thế nhập định uy nghi đến nỗi
vua trời Ðế Thích không dám đến yết kiến Ngài để thọ
pháp. Nhưng chính lúc bấy giờ, một thanh niên Càn Thát Bà
đã ôm đàn tỳ bà ngồi gảy tại một gốc cây gần Ngài
và hát lên tiếng hát của tình yêu. Ngài đã bật cười,
trò chuyện với thanh niên và hỏi chàng do đâu mà chàng có
những lời lẽ nối kết được tình yêu và chân lý? (Trường
Bộ kinh III, phẩm Ðế thích sơ vấn).
Ngài
đã từng tự mình đi đến nói chuyện với nông dân và chí
hướng sống tốt đẹp cho họ, Ngài không chỉ giảng dạy
giáo lý giải thoát, mà còn rất quan tâm đến đời sống
gia đình, xã hội của các cư sĩ và hạnh phúc tương đối
của họ. Ngài đã dạy thanh niên Singala về sáu mối tương
hệ xã hội: tương hệ giữa cha mẹ và con cái, thầy và trò,
vợ và chồng, chủ và thợ (người giúp việc), cá nhân với
bà con láng giềng, tu sĩ và cư sĩ (Trường Bộ kinh 31).
Ngài
đã dạy cư sĩ Kokiya Dighajànu (tăng Chi Bộ kinh, tập IV), người
muốn sống với vợ con, trang điểm và tiền của, thế nào
để sống có hạnh phúc gia đình bằng những lời lẽ rất
là thực tiễn như là phải giỏi nghề, siêng năng, giỏi điều
hành công việc, biết chi thu hợp lý, biết đầu tư, điều
hòa sức khỏe và tâm lý, làm bạn với người thiện. Về
hạnh phúc tương lai, Ngài dạy về Tín, Thí, Giới và Tuệ.
Ngài
cũng dạy vua chúa, cấp lãnh đạo về biện pháp cải thiện
kinh tế xã hội, bảy điều kiện cho một xã hội cường
thịnh và mười pháp để trở thành một nhà lãnh đạo nhân
dân tốt (Tăng Chi IV, chương 7 và 10 Pháp). Ngài đã tự thân
ba lần cản ngăn một cuộc chiến xảy ra giữa hai dân tộc
Sakyas và koliyas (Tăêng Chi IV, chương 7 Pháp).
Ngài
đã giáo dục đem lại lợi ích vì hạnh phúc của chư Thiên
và loài người. Ngài luôn luôn trung thành với "giáo hóa thần
thông" (bằng thân giáo và khẩu giáo) và tránh vận dụng đến
"Thần túc thông" hay "Tha tâm thông". Chỉ có Tiểu Bộ kinh
đề cập đến những trường hợp Ngài sử dụng đến thần
thông và nói đến các tiền thân Bồ Tát của Ngài. Có lẽ
đây là cái mầm của Bồ Tát đạo của Bắc tạng về sau.
Thái
độ giáo dục thực tiễn và đầy tính người một lần khác
được biểu hiện qua một mẫu chuyện kể ở Nikàya và Agama,
rất phổ biến trong giới Phật tử: Một lần, một tu sĩ
ngoại đạo biểu diễn thần thông đi nổi trên mặt nước
và thách Thế Tôn làm như thế. Thế Tôn ôn tồn hỏi: "Oâng
tu luyện bao lâu mới có thể vượt qua sông với thần thông
ấy?" - "Mất ba mươi năm", tu sĩ ngoại đạo trả lời - ỔTa
chỉ mất có ba xu đi đò là qua được bên kia bờ", Thế Tôn
nói.
Ở
Ðại chúng bộ, hình ảnh của Thế Tôn được thánh hóa,
siêu nhân hóa, từ khi nhập thai cho đến khi thị tịch. Ngài
đã là vị Phật của cung trời Ðâu Suất, còn tất cả những
gì xảy ra ở trần thế chỉ là "thị hiện". Vì vậy mà mọi
chuyện ở Ngài đều mang ý nghĩa tuyệt đối, thanh tịnh,
vô lậu. Cho đến khi những lời nói thông thường của Ngài
cũng là những lời pháp có diệu lực khiến các cảnh giới
khác nhau đều có thể nghe và hiểu được theo cách của mình.
Ðiều này, Kiruma Taiken có bàn đến trong cuốn "Ðại thừa
tư tưởng luận" (bản dịch của TT Thích Quảng Ðộ, Tu thư
Vạn Hạnh, 1969, Sài Gòn). Như thế, Ðức Thế Tôn trong Nguyên
thủy và Thượng tọa bộ được trình bày như là "Ứng thân",
trong Ðại chúng bộ được trình bày như là vừa "Pháp thân",
vừa "Báo thân".
Bắc
tạng, như ở Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v... Ðức Thế Tôn xuất
hiện giữa vùng hào quang kỳ diệu, giữa thần thông biến
hóa vô cùng. Bắc tạng không cho rằng chỉ có một Ðức Thế
Tôn trong hiện kiếp, mà bằng nỗ lực của riêng mình, mọi
đệ tử của Ngài có thể thành Phật trong hiện tại. Ðức
Phật không phải thành Phật, mà đã thành Phật từ vô lượng
kiếp trước lâu xa lắm. Ở trên đời này, Ngài chỉ thị
hiện Ðản sanh và Niết bàn. Ngài không chỉ thuyết pháp ở
vùng Trung An, mà còn thuyết pháp ở các cung trời, cõi Phật.
Thính chúng của Ngài gồm cả mười phương chư Bồ Tát.
Dù
hình ảnh Thế Tôn xuất hiện khác nhau dưới ngòi bút của
các nhà Bắc truyền và Nam truyền, điểm gặp gỡ quan trọng
nhất giữa các bộ pháp PG và giữa các thời kỳ phát triển
PG là: Thế Tôn ra đời chỉ vì hạnh phúc cho chư Thiên và
loài người và mọi loài chúng sanh, chỉ dạy con đường ra
khỏi sanh tử, khổ đau, cứu cánh Niết bàn, giải thoát. Ngài
thuyết pháp giáo hóa ở đời trong bốn mươi lăm năm và giảng
dạy những giáo lý nền tảng: Duyên khởi, Vô ngã, Tứ đế,
Bát thánh đạo, Ngũ uẩn, Nhân quả và giáo lý của Ngài luôn
được xây dựng trên Giới, Ðịnh và Tuệ.
(Trích
Phật học khái luận).
TT
Thích Chơn Thiện