Cảm Niệm
Ngày Phật Đản
Như
Nguyệt
Mỗi
năm đến ngày Phật Đản, nhìn hình tượng đức Phật Sơ
Sinh tôi có cảm giác rằng sự kiện lịch sử ấy xảy ra
dường như không xa lắm. Mới một ngày nào trong vườn Lâm
Tỳ Ni nơi thành Ca Tỳ La Vệ nước Nepal (một vương quốc
của Ấn Độ), đức Từ phụ của chúng ta vì lợi ích của
chúng sanh mà một lần nữa trở lại cõi đời này với hình
ảnh một con người bình thường, một thoáng thời gian mà
đã 2625 năm trôi qua, nhưng hình ảnh bậc vĩ đại đó vẫn
còn sống mãi với dòng thời gian bất tận, và tồn tại mãi
trong con tim của người phật tử chúng ta.
Hình
ảnh đức Phật đản sinh, với một tay chỉ lên trời và
một tay chỉ xuống đất, Ngài tuyên bố rằng: "Thiên thượng
thiên hạ duy ngã độc tôn", người phật tử bình dân đều
cho rằng ý nghĩa câu nói ấy là đức Phật tuyên bố: "Trên
trời dưới đất Ngài là một con người duy nhất không ai
vượt hơn", thật sự Ngài là một con người mà thế gian
không ai vượt hơn, nếu hiểu một cách cạn cợt, và trên
văn tự thì ngoại đạo sẽ cho rằng đức Phật chưa đoạn
trừ được "Tự ngã", vì còn cho mình là một người không
ai sánh bằng. Từ Độc Tôn ở đây đức Phật muốn nhấn
mạnh rằng: "trong vũ trụ bao la này Ngài là một con người
bình thường như bao nhiêu người bình thường khác cũng được
cấu tạo bằng xương thịt nhưng Ngài không còn chi phối bởi
các pháp hữu vi, một con người nhận chân được bản giác
thường chân của chính mình", sự hiện thân của Ngài ở
thế giới Ta Bà này dùng nhiều phương pháp để cho chúng
sinh nhận chân được cái giác tánh vĩnh hằng, vị phật của
chính mình, kinh Pháp Hoa gọi là "Tri Kiến Phật", Ngài muốn
nhấn mạnh rằng: Bản giác của chúng sinh là một vật thường
hằng nhưng chúng sinh vì mong cầu dục lạc mà cái thường
chân đó đã bị bỏ quên
"Một
thuở đức Phật tại nước Ba La Nại, nơi vườn Lộc Uyển,
bấy giờ có hàng ngàn vị tỳ kheo và chư thiên thần, đều
có mặt trong đại hội, tự nhiên một bánh xe pháp luân xuất
hiện trước mặt đức Phật và đại chúng. Đức Phật dùng
ngón tay của mình chỉ vào bánh xe pháp luân đó và nói rằng:
Ta từ vô số kiếp về trước, bị lay chuyển trước danh
sắc nên phải chịu vô lượng khổ, nay mọi nghi ái đều
đã đoạn tận, giải thoát các kiết sử và lậu hoặc, các
căn đã định, sinh tử đã đoạn trừ, không còn luân chuyển
trong Ngũ đạo…" (Đại tạng kinh, A hàm bộ cuốn 2, kinh Chuyển
Pháp Luân, trang 503)
Chính
vì vậy trên phương tánh giác Ngài vượt xa hơn một con người
bình thường như chúng ta, nên Ngài ở trong một niệm mà tròn
đầy khắp cả pháp giới thanh tịnh, còn chúng sinh thì trong
một niệm khởi dẫy đầy phiền não khổ đau và cứ mãi
truy tìm cái dục lạc khổ đau đó, không liễu tri được
rằng trong niềm vui tạm bợ ấy đã nảy sinh mầm mống của
khổ đau, vì trong "quả" đã hàm tàng cái "nhân" và do "nhân"
mà hình thành nên "quả". Điều này chúng ta thấy rõ ở giáo
lý Duyên Khởi của Phật giáo "thử hữu cố bỉ hữu, thử
vô cố bỉ vô; thử sinh cố bỉ sinh, thử diệt cố bỉ diệt",
vì cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không;
cái này sinh nên cái kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt",
sự sự vật vật trùng trùng điệp điệp đều như thế.
Nếu chúng ta cho rằng sự hiện hữu của mọi sự vật trên
cõi đời này điểm xuất phát của nó là từ "không" hay "có"
thì chúng ta lại rơi vào vòng tương đãi, học thuyết của
Lão Tử rơi vào trường hợp này, Ngài nói:
"Phản
giả đạo chi động
Nhược
giả đạo chi dụng
Thiên
hạ vạn vật sinh ư hữu
Hữu
sinh ư vô"
Nghĩa
là:
Trở
về là cái động của đạo
Yếu
nhược là cái dụng của đạo
Mọi
vật trong thiên hạ sinh ra từ "có"
Mà
"có" lại sinh ra từ "không"
Thế
nên những học thuyết của Nho giáo vẫn không được xem là
giáo lý giải thoát như Phật giáo. Chính vì vậy, nên suốt
chiều dài lịch sử khi thì tồn tại, lúc thì bị xã hội
không chấp nhận; nếu được phát triển chăng thì điểm
tột cùng của những tư tưởng đó cũng chỉ dạy cho con người
trở thành một người tốt trong xã hội tương đương với
Ngũ giới của Phật giáo. Trong nền giáo lý trác tuyệt của
Phật giáo, những điều đức Phật nói ra hàng ngàn năm trước
đây, có những điều mà các nhà khoa học chưa phát hiện
thì trong Thánh giáo điển đức Phật đã tuyên bố. Chúng
ta không nên nhìn đức Phật bằng cái nhìn khoa học, học
vị mà phải nhìn Ngài ở gốc độ giác ngộ thì chúng ta
mới nhận ra được sự khác biệt giữa Ngài và những vị
giáo chủ, luận chủ của các tôn giáo, học thuyết khác,
đó chính là tính ưu việt của đức Từ phụ chúng ta. Khoa
học phát triển đến điểm tột cùng của nó, nó vẫn không
thoát khỏi những dụng cụ do tri thức phát minh và vẫn phải
tiếp tục truy nguyên, tìm tòi…không ngày kết thúc. Còn đức
Phật chúng ta bằng kinh nghiệm và chứng đắc thực tiễn
nên trong một niệm thanh tịnh Ngài nhìn thấy được Tam thiên
đại thiên thế giới. Khi phật giáo Đại thừa phát triển
các luận sư đã chứng minh được điều này tức "Nhất niệm
tam thiên", Ngài Long thọ nói: "pháp chân thật không điên đảo,
các tưởng niệm đã trừ sạch, ngôn ngữ của các pháp đều
đã diệt, chúng sinh vô lượng tội đã trừ sạch, chỉ thường
trú nơi nhất tâm, khi đạt được trạng thái này thì có
thể thấy được Bát nhã" (luận Ma Ha Chỉ Quán). Chúng ta
ngày nay nhìn sự vật hiện tượng bằng những tưởng niệm
mộng tưởng điên đảo, phan duyên bởi các pháp, nên không
thấu triệt được nguồn tâm là thường trú, bất biến,
chân như…Nếu dùng tâm này để thấy được con người và
sự vật luôn ở trạng thái sinh - trụ - dị - diệt; thành
- trụ - hoại - không, thì chúng ta trong một niệm sẽ đầy
đủ tất cả tam thiên thế giới, đó là chỗ vi diệu trong
những lời dạy của đức Phật, nội dung kinh Pháp Hoa nói
rõ đức Phật dùng đại bi tâm mà khai phương tiện để chúng
sinh thấy được pháp Ngài nói ra là Diệu Hữu, pháp này làm
cho tất cả chúng sinh đều có thể: "Mặc áo Như lai, ngồi
tòa Như lai, mặc áo Như lai", có thể về đến chốn Bảo
sở.
Với
một hệ thống giáo lý trác tuyệt như vậy đã nuôi dưỡng
chúng ta, đã làm cho chúng ta trưởng thành trong chánh pháp.
Mỗi năm ngày Phật Đản trở về, hình ảnh Ngài nói pháp
suốt lộ trình 45 năm đã sống lại trong hàng triệu ngàn
con tim của những người con phật trên khắp năm châu bốn
bể, hình ảnh một vị hoàng tử đã từ bỏ tất cả những
gì cao quý nhất của con người trong đời sống thế gian từ
tinh thần lẫn vật chất để đi tìm lý tưởng xuất thế,
con đường Ngài tìm ra trãi qua quá trình thực nghiệm và chứng
ngộ đã đem lại niềm an vui, hạnh phúc cho tất cả chúng
sinh trên hành tinh này. Nhân ngày kỷ niệm ngày đản sinh của
Ngài, chúng ta cùng nhau ôn lại một khía cạnh nào đó trong
kho tàng giáo pháp bất tận, để thấy đượ? chân giá trị
về lời dạy của Ngài, mà thế gian tôn thờ Ngài là bậc
thầy của trời người "Thiên nhơn chi đạo sư".
"Dung
nhan Phật tốt lạ lùng
Hào
quang chiếu sáng khắp cùng mười phương
Từ
bi oai đức không lường
Ra
đời tế độ dẫn đường chúng sinh
Được
thấy tướng, lại nghe danh
Cũng
nhờ kiếp trước căn lành trồng sâu
Thế
tôn đủ phép nhiệm mầu
Làm
cho muôn loại cúi đầu quy y"