MỤC
LỤC
Lời
Giới Thiệu
Duyên
Khởi
Dẫn
Tập
Chương
I - Những Chỉ Dẫn Tổng Quát Về Phương Pháp Thiền
Định
Chương
II - Chính Văn
Chương
III - Giải Thích
Chương
IV - Phụ Lục
LỜI
GIỚI THIỆU
Mỗi
người trong chúng ta ít nhất cũng phải trải qua nhiều
cơn khủng hoảng đau đớn trong đời mình; có những lúc
mình không còn biết mình là ai và chẳng còn lý do
gì để sống cho ra hồn trên cõi đời quạnh hiu này.
Đó
là lúc mình bắt đầu đánh mất hết tất cả những
gì gọi là cao quí, cao thượng và thiêng liêng nhất trong
mê hộ vô tình của kiếp người.
Mấy
chục triệu người Việt đang ở quê hương đều phải
trải qua cộng nghiệp bi đát của thể mệnh tịch liêu
và mấy triệu người Việt đang sống ở khắp thế
giới phải chịu chung tất mệnh mất gốc rễ của nhân
loại hiện nay. Mỗi một người trong chúng ta đều
muốn sống một đời sống khác hơn. Đúng nghĩa trọn
vẹn, phản ảnh toàn diện thâm tính thiêng liêng của nhân
sinh, phục chiếu “thanh đài thượng” của sự bừng
tỉnh sáng rực trên tuyệt đỉnh Tính Mệnh oanh liệt
của trường sở hiện tính dân tộc.
Từ
năm trăm năm trước trở lại thuở ban đầu sáng rực
của Sử Tính Việt Nam, chúng còn nhìn thấy lại Thiền
tông và Mật tông đã điều động và quyết định tất
cả hướng đi trầm hùng của ý thức toàn diện, của
tất cả mọi sinh hoạt dân tộc. Thế rồi từ thế
kỷ XV cho đến nay, thể nghiệp bi đát nào đã kéo lôi
toàn thể sinh mệnh của Việt Nam đi xuống tất mệnh
đen tối hiện nay?
Vấn
đề trầm trọng nhất của chúng ta hôm nay không phải
đơn giản phục hồi lại những gì đã mất mà phải
học cách trầm lặng đánh thức lại những khả tính
âm thầm nào đang ẩn giấu trong Mệnh Tính của Việt
Nam.
Việt
tính của Việt Nam đã được nuôi dưỡng cả ngàn năm
trong hơi thở siêu việt của Trí Huệ Bát Nhã; trường
sở thiêng liêng của Việt Nam là linh sở bí ẩn “liên
tục vượt về phương nam”của Thiện Tài Đồng Tử
trong Hoa Nghiêm Nhập Pháp Giới. Tổ Sư Ấn Độ
Atisa, người đã truyền đạo Phật đến Tây Tạng vào
lần thứ hai, cũng chính là người đã từng đến
phương Nam của Đông Nam Á để học đạo trên cả chục
năm, mà lúc đó, trung tâm Phật giáo hưng thịnh nhất
của Đông Nam Á chính là Việt Nam.
Nhiều
lúc con đường trở về phục tính và thu phối lại
thể tính của Việt Nam lại đưa mình đi vòng quanh nhiều
lối đi bí ẩn. Ở tận nơi căn nguyên vô căn và
vô nguyên thì con đường đi lên và đi xuống đều là
một con đường giống nhau. Nhiều khi đi lên tận
đỉnh Hy Mã Lạp Sơn của Tây Tạng thì lại chính là đi
xuống giòng nước thơm ngát của sông Cửu Long ở miền
Nam đất Việt.
Không
phải do tình cờ ngẫu nhiên mà hôm nay chúng ta được
trao nhận Pháp Tu Quán Âm của Đạo Sư Tây Tạng Tangtong
Gyalbo ở vào thế kỷ thứ XV; sự đồng thanh tương ứng
thiêng liêng nào đã thị hiện hôm nay giữa Tây Tạng và
Việt Nam, giữa núi rộng trống vắng và sông dài tịch
mịch?
Trong
một trăm ngàn trang kinh Phật trong ấn bản Hán tạng,
đâu là bờ là bến? Không còn gì may mắn diễm
phúc hơn là chúng ta đang có Pháp Tu Quán Âm này, nơi
đây tất cả một trăm ngàn trang Kinh Luật Luận đã
được thu phối lại trọn vẹn súc tích trong một Pháp
môn thực hành đơn giản, khả dĩ giúp đỡ chúng ta sống
lại đươc̣ thể tính nguyên vẹn của sinh mệnh mình để
đẩy lùi tất cả những điên đảo mộng tưởng tàn
phá kiếp người đọa lạc.
Thầy
Viên Lý đã thực hiện một công đức vô lượng giữa
những hoàn cảnh khó khăn nhất và đi ngược lại đời
sống vong tính của sinh hoạt tâm linh hiện tại. Đang
lúc hiện tượng lạm phát về Thiền và Mật đang hoàn
thành khắp nới trong toàn thể thế giới, sự xuất
hiện khiêm tốn của Pháp Tu Quán Âm là một biến cố
trọng đại nhất và làm sụp đổ tất cả những quyển
sách “thời thượng” của mọi tác giả khác tự nhận
là “chuyên trị” về Thiền tông hay Mật tông.
Con
đường thêng thang mở ra tận đỉnh Tuyết Sơn đang nằm
ở trước mặt chúng ta và đây cũng là một trong vài
ba lối đi quyết định nhất để đánh thức dậy những
khả tính ẩn mật phong phú của Việt Tính.
Dân
tộc tính, đúng nghĩa là dân tộc tính, chỉ là hậu
quả tất nhiên của Việt Tính mà thể hiện cụ thể
là nói Việt Nam; tiếng nói Việt Nam, Định Phận Việt
Nam và Việt Tính chỉ là một, mà hiện thân cảm động
nhất là mỗi một bà mẹ Việt Nam. Mỗi một bà
mẹ Việt Nam là một hiện thể Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nhìn thấy được thể tính của Quán Âm là nhìn ra
được Thực tính của Mẹ Việt, căn nguyên nền tảng
của Tính Mệnh dân tộc.
Việt
Tính có nghĩa là gì, nếu không có đôi cánh chim Việt
Điểu, tức là lòng Từ Bi và cái Trí Tuệ Siêu Việt
của mấy ngàn năm vượt thằng vào trường sở linh
hiện ở phương Nam?
Phạm
Công Thiện
California,
ngày 5 tháng 5, năm 1991
DUYÊN
KHỞI
Gần
đây, vì quá sùng ngưỡng Đức Quán Thế Âm Bồ tát
nhưng thiếu tài liệu giáo lý căn bản để tu học, nên
một số người đã chạy theo những hiện tượng có
tính cách ma thuật hay đúng hơn, những huyễn tướng
do tự ngã đánh lừa. Thật hậu quả không thể
lường được.
Chính
vì lý do đó, mà dù đang bận rộn với bao nhiêu phật
sự, tôi vẫn cố gắng chuyển dịch Pháp Tu Quán Âm
này, để, những ai có cơ duyên, có thể nhờ vào pháp
tu mà đạt được một nội tâm thức giác, tự tại.
Pháp
Tu Quán Âm này thực sự đã được dịch xong từ năm
1990, nhưng, thay vì được phổ biến rộng rãi, nó lại
nằm gọn trong ngăn tủ. Phải chăng nhân duyên thời
tiết đã chưa được chín muồi?
Hôm
nay, nhân duyên đã hội tụ; vì lợi ích của tất cả
mọi giới, pháp tu này được ấn hành.
Xin
hồi hướng tất cả công đức cho nhất thiết chủng
trí.
Xin
chân thành tri ân tất cả những nhân duyên mầu nhiệm.
Ước mong mọi người được đượm nhuần pháp vũ,
phân biệt lẽ chánh tà.
Hoa
Kỳ,
Mùa
an cư năm Tân Mùi.
Dịch
giả cẩn bút.
Thích
Viên Lý
DẪN
TẬP
Bằng
một phương pháp hết sức đặc thù, quyển sách nhỏ
này đã diễn tả sự phát triển tâm từ bi và tuệ
giác siêu việt của hàng Bồ Tát. Trong Phật Giáo,
có rất nhiều phương pháp như thế; nhưng, ở đây (trong
sách này), chỉ đặc biệt đề cập đến một phương
pháp, đó là: Quán Âm Quán Tưởng Tu Pháp. Quán
Âm Quán Tưởng Tu Pháp là một Pháp chuyên quán tưởng
đến một vị Bồ Tát siêu đẳng, lừng danh có tên
là Quán Thế Âm và thần chú: Lục Đại Tự Minh
(Om Mani Padme Hùm). Pháp tu này đã được truyền
thừa bởi Đạo Sư Tangtong Gyalbo (Thang-Stong rGayl-po), vị
Thánh Tăng của Phật Giáo Tây Tạng ở vào thế kỷ thứ
15. Cho đến nay, pháp môn này vẫn đang được mọi
người đón nhận và hành trì một cách sâu rộng,
thâm thiết.
Phần lớn, trong suốt dòng lịch sử của Phật Giáo,
ta thấy, có rất nhiều quốc gia ở Á Châu, đã sùng
tín, thực hành pháp tu liên hệ đặ̣c biệt đến pháp
tu Quán Âm và Lục Tự Minh Chú này; Vì lẽ, Quán Thế
Âm Bồ Tát là vị Bồ Tát đã được toàn thể nhân
gian tôn kính như là một biểu tượng tối cao của Đại
Bi Tâm của Bậc Bồ Tát. Bậc Bồ Tát̉ là một
bậc thệ nguyện đạt đến quả vị giác ngộ theo giáo
lý của Phật, để, trên cầu Phật Đạo, dưới độ
chúng sanh; và, nếu còn có một chúng sanh nào trên thế
gian này mà chưa độ thì, Bồ Tát nhất định không
thôi nghỉ. Quán Âm Bồ Tát là một trong những vị
Bồ Tát đã thực hiện rất sớm thệ nguyện rộng
lớn này; vì thế, đối với nhiều người tu hành
trong Phật Giáo, Bồ Tát Quán Âm đã thường được
nhận là có một quan hệ bất khả phân với sự cần
Đạo Giác Ngộ, Giác Thoát.
Danh xưng Quán Âm vốn tiếng Phạn: Avalokiteshvara (tiếng
Sanskrit, văn tự cổ Ấn Độ, nơi mà từ đó Phật
Giáo đã khởi nguyên). Avalokiteshvara có nghĩa là
Bậc có oai lực xem xét và bảo hộ chúng sanh. Ngài
cũng được tôn xưng là Mahakarunita (Người có Đại Bi
Tâm) và Padmapani (Kẻ thủ trì hoa sen – Liên Hoa Thủ).
Chúng ta có thể tìm hiểu Quán Âm Bồ Tát trong kinh
“Duy Ma Cật” (Vimalakirtinirdesha Sutra) và phẩm thứ 25,
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapundarika Sutra). Theo “Cực
Lạc Trang Nghiêm Kinh” (Sukhavativyuha Sutra), Ngài là thị giả
của Phật A Di Đà (Vô Lượng Quang) và đã có một quan
hệ rất rõ rệt đối với Tịnh Độ. Ngoài ra,
có một bộ kinh hết sức trọng yếu, đó là kinh Karandavyuha
Sutra, kinh này đã thuyết minh một cách chi tiết, rõ
ràng Tâm Đại Bi và oai lực thần thông diệu dụng của
Quán Âm Bồ Tát. Kinh “Lăng Nghiêm” (Shurangama Sutra),
cũng đã giải thích về phương pháp Khế Chứng Vô Ngã
của Quán Thế Âm. Trong “Bát Nhã Tâm Kinh” (Prajnaparamita-hrdaya
Sutra) Quán Âm đã xiển minh cùng cực triết lý thâm
áo về Trung Đạo Bất Nhị; và trong “Liên Hoa Võng Mật
Kinh” (Padmajala Tantra) đã hàm chứa rất nhiều tư liệu
nói rõ sự quan hệ giữa Quán Âm và Mật Tông Kim Cang
Thừa (Vajrayana).
Thệ nguyện của Quán Âm là tế độ tất cả chúng
sanh, một trong những phương pháp mà Ngài đã sử dụng
là quan sát nhu yếu của tình cảnh chúng sinh để tùy
loại hiện thân. Vì để tuân thủ lời nguyện của
Ngài nên Ngài đã phân thân thành rất nhiều chủng loại
và thị hiện qua nhiều hình thái khác nhau trước mỗi
một chúng sanh trong rất nhiều cảnh giới. Khi cần
thiết, thậm chí Ngài có thể hóa thân làm những vật
vô tình như cầu cống, phòng xá, nơi trú ẩn, nương
thân. Trong truyền thống tạc tượng chạm trổ hình
đồ về sự thị hiện của Bồ tát Quán Âm, chúng
ta cũng thấy được những loại biến hóa như thế.
Song, những hình thái bất đồng đó có thể được
coi như là sự hiển thị đa dạng của Phật tánh đồng
nhất mà thôi.
Ở vào thời kỳ rất sớm tại Ấn Độ, hình tượng
của Quán Âm phần nhiều đã được phát hiện dưới
hình thức của một vị Vương Tử đang đứng, mình mặc
áo mũ vương giả. Ta thấy, cũng có nhiều pho tượng
ngồi trong tư thế nghỉ ngơi thoải mái (gọi là tư thế
du hý, “latitasana”); ngoài ra, còn có một tượng rất
nổi tiếng có tên là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Âm, mục
đích của Thiên Thủ là đáp ứng một cách trọn vẹn
sự kỳ cầu vô tận nhưng vô cùng cần thiết của tất
cả chúng sanh. Quán Âm còn xuất hiện trong một
hình tướng phẫn nộ như Phục Bộ Thần Mã Đầu Minh
Vương (Hayagriva), lý do của sự xuất hiện này là vì
đôi khi bên cạnh lòng Từ Bi đòi hỏi phải có những
thế lực mãnh liệt để làm chúng sinh kính sợ.
Phương pháp Thiền Định Quán Âm (hay “thiền định cho
tất cả chúng sanh qua suốt cõi không gian”) được trình
bày trong quyển sách nhỏ này có liên hệ đến thế
ngồi của Quán Âm với một đầu và bốn tay, hình
tượng này đã trở thành một hình tượng hết sức
đặc thù và vô cùng trọng yếu tại Tây Tạng. Những
chi tiết diễn tả về hình dạng Quán Âm với bốn tay
sẽ được trình bày trong chương sau.
Sau khi Phật Giáo được truyền từ Ấn Độ vào các
nước Á Châu, vị thế của Quán Âm lại ngày một gia
tăng rộng lớn. Nhiều ngôi chùa lớn tại Đông Nam
Á đã thờ phụng Thế Tự Tại Vương (Lokeshvara), một
hiện tướng khác của Quán Âm Bồ Tát như là phản
hiện với thần Shiva của Ấn Độ Giáo. Tại phương
Bắc, ở Nepal (Nê Bạc Nhỉ), đã từng có đến 108 hình
tượng Quán Âm. Những hình tượng này rất có
thể vẫn còn thấy được hiện diện trong một cổ
miếu tại Kathmandu. Người Tây Tạng đã xem Quán Âm
Bồ Tát (Tây Tạng tôn xưng là Chenrezig) như là một lý
tưởng tối cao của Phật Giáo đồ. Rất nhiều
bậc Thánh Tăng của Tây Tạng, đặc biệt là đức Dalai
Lama (Đạt Lai Lạt Ma) được coi như là hóa thân của Quán
Âm Bồ Tát. Tại Viễn Đông, vị thế quan trọng của
Quán Âm Bồ Tát đã phổ biến một cách hết sức
rộng rãi; đặc biệt, xuyên qua những nghệ thuật phẩm
nổi bậc về Quán Âm trong nhiều tư thế. Tại Trung
Quốc, Quán Âm cũng còn được tôn xưng là Quán Thế
Âm, tại Nhật Bản thì gọi là Kwannon. Trong tất cả
những quốc gia ở Á Châu, Quán Thế Âm đã được
tôn sùng như Bậc Vô Úy Thí tối thượng (kẻ ban cho
sự phòng hộ thoát khỏi mọi sợ hãi) và Ngài cũng
được coi là Bậc Đạo Sư, nhất là được coi như Bậc
truyền cảm, dẫn khởi, khai tác lòng Từ Bi giác ngộ
sâu thẳm nhất.
Thế thì, lấy Quán Âm làm đối tượng để quán tưởng
chính là con đường tối ư căn bản và hết sức hiệu
lực đối với những ai chuyên tâm tầm cầu sự khai
ngộ. Trong những trang được trình bày sau đây về
Pháp Tu Quán Âm, hành giả phải học hỏi cách quán tưởng
Bồ Tát Quán Âm một cách trực tiếp. Trong phương
pháp giảng yếu này, bao gồm một thứ kỹ thuật khả
dĩ khiến hành giả đang trong thiền định có thể cảm
nhận được sự gia trì che chở của Quán Âm. Đang
trong khi quán tưởng, hànhgiả và cảnh giới sở nghiệm
của hành giả đều được quán tưởng như được trở
thành giác ngộ viên mãn. Hành giả, lúc tụng Thần
Chú Lục Tự (OM MANI PADME HUM), phải đồng lúc quán tưởng
rằng: tất cả hình tướng, sắc tướng, âm thanh và
tư tưởng đều đã được chuyển hóa thành hình sắc,
âm thanh và tư tưởng của chính Quán Thế Âm.
Pháp Tu Quán Âm Quán Tưởng này (nguyên tác: “Thiền
Định Quán Tưởng cho tất cả chúng sinh suốt cõi không
gian”) đã do Ngài Tangtong Gyalbo, một vị đại thánh của
Tây Tạng soạn ra. Ngài đã từng có rất nhiều
kinh nghiệm tu chứng và đươc̣ trực tiếp nhìn thấy
sự thị hiện của chính Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Tangtong Gyalbo đã được sinh ra tại Owa Latse vào năm 1361,
thuộc vùng Tây bộ Tây Tạng. Lúc còn rất trẻ,
Ngài đã say sưa thích thú, nhất là nghiên cứu, tu học
giáo lỵ́ Phật Giáo, đặc biệt; những giáolý có
liên hệ đến Ngài Quán Âm. Ngài đã hấp thụ
một trình độ giáo lý tu chứng rất cao từ các bậc
thầy lớn thuộc Kim Cang Đại Thừa của Ấn Độ và
Tây Tạng đương thời; trong những bậc thầy đó có
Ngài Kangapa Paljor Sherah là một bậc Đạo Sư chuyên gia
hành trì về Quán Âm. Ngài cũng đã bỏ ra nhiều
năm ròng rã để thủ đắc công phu tu tập thiền định
và đã từng trực tiếp hấp thụ một cách bí nhiệm
sự chỉ dạy và tâm thuật minh kiến truyền thọ từ
chư Phật và chư Bồ Tát cũng như từ những bậc Đại
Sư ở nhân gian trong quá khứ. Sau đó, Ngài đã du
hóa khắp xứ Tây Tạng, Ấn Độ, Bhutan (Phủ Đơn), Trung
Hoa và Mông Cổ. Bất cứ nơi nào Ngài đến, Ngài
đều truyền bá Minh Chú “Án Ma Ni Bát Di Hồng” (OM
MANI PADME HUM) cho rất nhiều đệ tử của Ngài.
Pháp Tu Quán Âm do Tangtong Gyalbo soạn ra đã được đặt
căn bản trên sự thân kiến và những kinh nghiệm tu chứng
bản thân vê Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài đã
truyền trao pháp tu cho các đệ tử, và sau đó đã được
tương truyền từ thế hệ này rau thế hệ khác và
cho mãi đến hôm nay. Vào thế kỷ thứ 19, pháp tu
này đã rất được tán dương và phục hồi bởi hai
vị Hòa Thượng Tây Tạng Jamyang Kyentse Wangbo Rinpoche và
Jamgon Kongtrul Rinpoche. Nhờ thế, pháp tu này đã được
truyền bá và thực hành rộng rãi đến toàn thể
Phật Giáo đồ trên khắp thế giới.
Kỹ xảo trọng yếu mà Tangtong Gyalbo đã sử dụng để
phát triển bao gồm nghi thức Đoạn Ngã (phá trừ ngã
chấp, chữ Tây Tạng gọi là pháp tu GCOD – đọc là chod)
và thuật Mật Tông Du Già bí truyền từ Dakini Niguma
(em của Sư Tổ Mật Tông Naropa) và phương pháp quán tưởng
Vô Lượng Thọ Phật (Amitayus) để làm tăng thêm tuổi
thọ. Đặc biệt Tangtong Gyalbo còn được người
Tây Tạng ngưỡng mộ một cách cao độ vì công trình
kiến thiết cầu treo bằng sắt trên toàn cõi Tây Tạng.
Sau khi phát hiện mỏ thiết đồ sộ, phong phú, Ngài
đã phát minh ra phương pháp luyện thép để chế tạo
một loại thép không rỉ sét. Những chiếc cầu
treo được Ngài kiến tạo theo phương pháp này, cho đến
nay vẫn còn được sử dụng.
Tangtong Gyalbo viên tịch vào năm 1485, Ngài đã sống với
một tuổi thọ rất cao (Ngài sống đến 124 tuổi), vì
thế đã chứng minh một cách hùng hồn cái công hiệu
của thuật tăng tuổi thọ mà Ngài đã truyền dạy.
Từ những hành hoạt về Bồ Tát Hạnh vô cùng lợi
ích đối với dân Tây Tạng trong cuộc sống của Ngài;
vì thế, Ngài đã được tôn kính và được coi như
là bậc hóa thân của Bồ Tát Quán Âm. Tangtong Gyalbo
hiện vẫn tiếp tục thọ sanh (tái sanh) như một bậc
thượng sư muôn đời tại Tây Tạng. Hiện thân của
Ngài hiện nay là Drubtob Rinpoche, ngài đã chào đời tại
Golok thuộc miền Đông bộ Tây Tạng vào đầu kỷ nguyên
này. Drubtob Rinpoche đang ở Bhutan và Ngài hiện là
một bậc được tôn như là đại Minh Sư thần thông viên
thành (Siddha) của “Thiết Kiều hệ, Mật Tông Tây Tạng”.
Toàn bộ phương pháp giảng dạy của Tangtong Gyalbo đều
được hoằng dương nơi những đạo tràng của Ngài, trong
đó, gồm cả pháp tu Quán Âm. Đã có rất nhiều
bậc thượng sư khác cũng đã truyền thọ pháp tu này
như ngài Deshung Rinpoche ở Seatle, Washington, Ngài Kalu Rinpoche
ở các trung tâm truyền bá Phật Giáo của Hòa thượng
trên khắp thế giới, và Ngài Lama Kunga ở Ewam Choden Center
tại Berkeley, California.
Nguồn:
http://www.chuadieuphap.us